mở đầu Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn hai đoạn văn bất hủ trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1789. Tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” [12,II]. Lý giải nguyên tắc tôn trọng quyền con người, Giáo sư Nguyễn Đăng Dung đã dẫn các quy định nổi tiếng về quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789, trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966. Tác giả cho rằng, quyền con người được hiểu là những quyền mà pháp luật cần phải thừa nhận đối với tất cả mọi người.
Đó là quyền tối thiểu mà các cá nhân phải có, những quyền mà nhà lập pháp không được xâm phạm. Tại Điều 1 của Công ước quốc tế về việc bảo vệ quyền của tất cả người lao động di trú và thành viên gia đình họ năm 1990 đã xác định phạm vi điều chỉnh của Công ước trên căn bản đặc tính “phổ biến” của quyền con người như sau: “Công ước này được áp dụng, trừ khi được quy định khác sau đó, đối với mọi người lao động di trú và các thành viên gia đình họ, không có bất kỳ sự phân biệt nào như giới tính, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc tín ngưỡng, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc xã hội hoặc dân tộc, quốc tịch, độ tuổi, địa vị kinh tế, tài sản, tình trạng hôn nhân, thành phần xuất thân và các địa vị khác”. Đồng thời để khẳng định cụ thể hơn nữa về quyền con người mà người lao động di trú phải được hưởng do đặc tính “cơ bản” và đặc tính “phổ biến” của quyền con người, tại Điều 7 Công ước 15 này đã qui định: “Theo các văn kiện quốc tế về quyền con người, các quốc gia thành viên Công ước này cam kết tôn trọng và bảo đảm cho người lao động di trú và các thành viên gia đình họ trong lãnh thổ hoặc thuộc quyền tài phán của mình được hưởng các quyền theo Công ước mà không có bất kỳ sự phân biệt nào về giới tính, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc tín ngưỡng, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc xã hội hoặc dân tộc, quốc tịch, độ tuổi, thành phần kinh tế, tài sản, tình trạng hôn nhân, thành phần xuất thân và địa vị khác” [20,I]. Đối với Việt Nam đã qua nhiều lần xây dựng, sửa đổi Hiến pháp, từ các bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 đến Hiến pháp 2013 luôn giữ một vấn đề căn cốt là hiến định các quyền con người và quyền công dân.
Cụ thể tại Điều 50 Hiến pháp của Việt Nam năm 1992 đã khẳng định: “Ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền về con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến của chính thể mới, nguyên tắc tôn trọng quyền con người được trang trọng ghi nhận trong đạo luật cơ bản. Với việc ghi nhận nguyên tắc này, quốc gia Việt Nam đã thực hiện cam kết quốc tế về tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người trước cộng đồng thế giới, trước các công dân của mình. Hiến pháp 2013 khẳng định nguyên tắc chung về quyền con người, quyền công dân như sau: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong các trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; Mọi người có nghĩa vụ 16 tôn trọng quyền của người khác; Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.
Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội…[21, I] như đã phân tích trên, đặc điểm số một của quản lý lao động nước ngoài là quá trình gắn với bảo vệ quyền con người và có tính quốc tế sâu sắc. Vì vậy tôn trọng quyền con người là nguyên tắc số một của quản lý lao động nước ngoài. *Nguyên tắc bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội: Trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế thế giới, thị trường lao động Việt Nam đã thu hút một số lượng lớn người lao động nước ngoài từ nhiều quốc gia đến sinh sống và làm việc tại Việt Nam, với sự khác biệt về văn hóa, lối sống, cung cách làm ăn, về tâm lý, ngôn ngữ …khiến người lao động nước ngoài hành xử có thể không phù hợp với các quy tắc về trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam. Nhiều trường hợp người nước ngoài không thực hiện đúng các quy định pháp luật về xuất nhập cảnh, về khai báo tạm trú sinh sống không hợp pháp…gây mất an ninh trật tự, nghiêm trọng hơn, có trường hợp người nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự; tuy các cơ quan chức năng đã có biện pháp xử lý, bước đầu có hiệu quả nhất định, nhưng tình hình vẫn còn diễn biến phức tạp.
Điều này cho thấy khi phương thức quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài chưa có hiệu quả khó có thể bảo đảm cho trật tự, an toàn xã hội tại nơi có nhiều lao động nước ngoài sinh sống. Chính vì vậy nguyên tắc bảo đảm trật tự, an toàn xã hội là một nguyên tắc không thể thiếu trong quản lý lao động nước ngoài. *Nguyên tắc bảo đảm hiệu quả kinh tế và bảo vệ việc làm cho người lao động nước ngoài tại Việt Nam 17 Không ai có thể phủ nhận được rằng sự gia tăng số lượng lao động nước ngoài làm cho người sử dụng lao động có cơ hội lựa chọn người lao động phù hợp và thúc đẩy cạnh tranh. Nhu cầu sử dụng lao động có trình độ chuyên môn bậc cao có thể được đáp ứng và hiệu quả kinh tế có thể được cải thiện.
Việc bảo vệ việc làm cho người lao động nước ngoài thể hiện ở chỗ đảm bảo về mặt pháp lý cho người lao động trong phạm vi , khả năng, nguyện vọng của mình, có cơ hội để tìm kiếm việc làm, có quyền làm việc, quyền lựa chọn công việc để làm phù hợp với nhu cầu , khả năng của bản thân với điều kiện sinh hoạt, điều kiện sống của bản thân và gia đình , phát huy hết những tố chất , khả năng từ đó đảm bảo năng suất chất lượng và hiệu quả công việc. Vấn đề tạo điều kiện cho NLĐNN được tự do việc làm, nơi làm việc là một trong những nội dung mà nhà nước quan tâm, vừa mang tính cấp bách, vừa có tính chiến lược lâu dài trong chính sách phát triển của đất nước Ở một số nước lao động nước ngoài bù đắp cho những thiếu hụt về lao động do dân số già hoặc do lao động trong nước không đủ cho một lĩnh vực cụ thể nào đó. Tuy nhiên áp lực của các vấn đề xã hội cũng cần phải được giải quyết. Vì vậy nguyên tắc bảo đảm hiệu quả kinh tế và bảo vệ việc làm cho người lao động nước ngoài là một nguyên tắc không thể bỏ qua trong quản lý lao động nước ngoài.
Nó giúp cho người quản lý luôn luôn chủ động trong việc bảo đảm hiệu quả kinh tế, đồng thời bảo vệ việc làm cho người lao động Việt Nam. *Nguyên tắc tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động nước ngoài Nguyên tắc này là hệ quả tất yếu của nguyên tắc tôn trọng quyền con người, nguyên tắc này đòi hỏi không thể vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động nhập cư. Đồng thời, không phân biệt đối xử giữa người lao động nước ngoài và người lao động trong nước , đây là vấn đề mà 18 đã được Công ước số 97 [25,II] và Công ước số 143 [26,II] của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) quy định, theo các văn kiện quốc tế về quyền con người, các Quốc gia thành viên cam kết tôn trọng và bảo đảm cho người lao động di trú và các thành viên gia đình họ trong lãnh thổ hoặc thuộc quyền tài phán của mình được hưởng các quyền theo quy định mà không có bất kỳ sự phân biệt nào về giới tính, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc tín ngưỡng, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc xã hội hoặc dân tộc, quốc tịch, độ tuổi, thành phần kinh tế, tài sản, tình trạng hôn nhân, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác. Điều đó có nghĩa là, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động nước ngoài phải được tôn trọng như quyền và lợi ích hợp pháp của lao động trong nước 1.Th m quyền quản l nhà nƣớc đối với lao động nƣớc ngoài 1.Quan niệm th m quyền quản l nhà nƣớc đối với lao động nƣớc ngoài Thẩm quyền là quyền chính thức được xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề.
Thẩm quyền gắn liền với quyền và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho cơ quan nhà nước, người nắm giữ những chức vụ lãnh đạo, quản lí trong các cơ quan đó để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của họ. Thẩm quyền của mỗi cơ quan và cá nhân được phân định theo lĩnh vực, ngành, khu vực hành chính, cấp hành chính. Thẩm quyền hành chính là một bộ phận của thẩm quyền nhà nước. Theo cách tổ chức của đa số các nhà nước đương đại thì thẩm quyền nhà nước được phân chia hoặc phân công ở ba nhánh quyền cơ bản đó là: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.