Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Thị Tú được thực hiện tại Học viện Chính sách và Phát triển dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Đông vào tháng 6 năm 2021. Nghiên cứu tiếp cận vấn đề thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đẩy mạnh tiến trình hội nhập quốc tế và cải cách môi trường kinh doanh. Với vị thế là trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế của cả nước, Thành phố Hà Nội sở hữu các lợi thế so sánh về nguồn nhân lực, hạ tầng giao thông và thị trường tiêu thụ, từ đó trở thành một trong những địa phương dẫn đầu về tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, từ góc nhìn thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng cơ cấu thu hút FDI tại Hà Nội giai đoạn này đang bộc lộ những hạn chế đáng kể:

  • Dòng vốn đầu tư theo ngành còn mất cân đối nghiêm trọng, phần lớn tập trung vào các lĩnh vực thâm dụng lao động giản đơn và hoạt động gia công, lắp ráp.
  • Thành phố chưa thu hút được nhiều dự án công nghệ cao, các ngành công nghiệp ít phát thải ô nhiễm môi trường hoặc các dự án có giá trị gia tăng và tính lan tỏa năng suất lớn.
  • Khâu liên kết giữa khu vực doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa còn yếu, trong khi các vấn đề phát sinh như áp lực quá tải hạ tầng đô thị, chuyển giá và bảo vệ môi trường ngày càng phức tạp.

Xuất phát từ các tồn tại trên, tác giả xác định mục đích nghiên cứu là đề xuất các giải pháp nhằm thu hút hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Để hoàn thành mục đích này, đề tài giải quyết 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
  2. Đánh giá thực trạng thu hút FDI trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2016–2020, làm rõ các kết quả đạt được, những mặt hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại đó.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng thu hút dòng vốn FDI trên địa bàn Thủ đô trong giai đoạn 2021–2025.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận được phân định rõ ràng:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính Thành phố Hà Nội (sau khi đã mở rộng địa giới hành chính sáp nhập tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh và 4 xã thuộc tỉnh Hòa Bình).
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá dữ liệu thực trạng trong giai đoạn 2016–2020 (kết hợp chuỗi số liệu thống kê giai đoạn 2015–2019) và xây dựng định hướng, giải pháp cho giai đoạn 2021–2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng nghiên cứu dựa trên các khái niệm chuẩn mực quốc tế về FDI của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Theo đó, bản chất của FDI gắn liền với quyền sở hữu và kiểm soát trực tiếp tài sản ở nước ngoài của chủ đầu tư nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận dài hạn, thâm nhập thị trường, khai thác lợi thế chi phí và thực hiện chuyển giao công nghệ. Tác giả phân loại các hình thức FDI bao gồm: doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; doanh nghiệp liên doanh; hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC); các hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT; cùng kênh mua bán, sáp nhập và góp vốn mua cổ phần (Cross-border M&As). Đồng thời, đề tài tổng hợp 7 nhóm yếu tố tác động đến khả năng thu hút FDI: vị trí địa lý - tự nhiên; kết cấu hạ tầng; môi trường kinh tế - xã hội; an ninh - chính trị; môi trường hành chính - pháp lý (thể hiện qua chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh - PCI); yếu tố văn hóa; trình độ nguồn nhân lực và khoa học công nghệ.

Về mặt phương pháp luận, tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và thống kê mô tả:

  • Phương pháp hệ thống hóa: Chuẩn hóa các luận điểm lý thuyết về FDI và khung chính sách để làm cơ sở đối chiếu với thực tế địa phương.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu từ các văn kiện của Đảng và Nhà nước, báo cáo tổng kết của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thống kê Đà Nẵng, Niên giám thống kê thành phố Hà Nội và các báo cáo định kỳ của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội.
  • Phương pháp thống kê và so sánh: Tổng hợp chuỗi số liệu thời gian, so sánh cơ cấu theo ngành, theo hình thức và đối tác đầu tư; phân tích bài học kinh nghiệm từ Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Đà Nẵng để rút ra bài học cho Hà Nội.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp và diễn dịch: Đánh giá tương quan giữa các yếu tố môi trường đầu tư với kết quả thu hút vốn, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp cho giai đoạn tiếp theo.
  • Phương pháp kế thừa có chọn lọc: Kế thừa kết quả từ các công trình nghiên cứu trước đó về FDI của Nguyễn Thu Trang (2015), Nguyễn Thị Thu Hương (2017), Ngô Thị Thùy Dung (2018) và Ngô Trung Hùng (2013).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chương 1 tập trung giải trình khung lý thuyết toàn diện về FDI. Tác giả phân tích tác động hai mặt của dòng vốn đầu tư quốc tế đối với cả quốc gia xuất khẩu vốn và quốc gia tiếp nhận vốn. Đối với nước tiếp nhận, FDI bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, chuyển giao công nghệ và nâng cao kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, nếu thiếu quy hoạch chiến lược, FDI có thể gây ra những hệ lụy tiêu cực: phân bổ sai lệch cơ cấu ngành, suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường, biến quốc gia tiếp nhận thành bãi thải công nghệ lạc hậu, gây chèn ép khu vực doanh nghiệp nội địa hoặc dẫn đến hiện tượng trốn thuế thông qua chuyển giá nội bộ của các tập đoàn đa quốc gia.

Bên cạnh lý thuyết, chương này khảo sát thực tiễn thu hút FDI tại hai trung tâm kinh tế lớn:

  • Thành phố Hồ Chí Minh: Là đầu tàu kinh tế đóng góp hơn 22,2% kinh tế cả nước, GRDP bình quân giai đoạn 2016–2019 đạt 7,72% (ước tính cả giai đoạn 2016–2020 đạt 6,41%). Tính đến hết năm 2020, địa phương này dẫn đầu cả nước khi thu hút gần 4,4 tỷ USD vốn FDI. Thành phố Hồ Chí Minh đạt được kết quả trên nhờ đẩy mạnh cải cách hành chính theo cơ chế "một cửa liên thông", lập các Ban Quản lý chuyên ngành, hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất, triển khai cơ chế vận động riêng cho các tập đoàn đa quốc gia và huy động nguồn vốn ngoài ngân sách qua hình thức BOT, BTO, BT để hoàn thiện hạ tầng.
  • Thành phố Đà Nẵng: Năm 2020, vốn FDI thực hiện tại Đà Nẵng đạt 284,3 triệu USD, tăng 42,4% so với năm 2019, tập trung vào các dự án trọng điểm như Nhà máy sản xuất linh kiện hàng không, Khu du lịch Xuân Thiều và Tổ hợp khách sạn, căn hộ P. Đà Nẵng kiên định mục tiêu lấy chất lượng làm trọng tâm, tập trung phát triển hạ tầng Khu Công nghệ cao, rà soát thu hồi các dự án chậm triển khai và xúc tiến đầu tư tại chỗ.

Từ thực tiễn hai địa phương, tác giả đúc kết 5 bài học kinh nghiệm then chốt cho Hà Nội: hoàn thiện thể chế pháp luật về đầu tư; ưu đãi phát triển kết cấu hạ tầng có tính lan tỏa; tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ; tăng cường ưu đãi tài chính và chăm sóc các nhà đầu tư hiện hữu; xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đi kèm quản lý chuyên gia nước ngoài.

Chương 2: Thực trạng thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 – 2020

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về môi trường kinh tế - xã hội và số liệu FDI tại Hà Nội. Về bối cảnh, sau khi mở rộng địa giới hành chính, không gian phát triển của Thủ đô được mở rộng, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 1,16% vào cuối năm 2018 và 89% số xã đạt chuẩn Nông thôn mới. Công tác xúc tiến đầu tư được triển khai chủ động thông qua các sự kiện ngoại giao kinh tế lớn trong năm 2019: Hội nghị xúc tiến đầu tư tại Tokyo nhân dịp Hội nghị G20 (ký 5 Biên bản ghi nhớ với số vốn cam kết 5 tỷ USD); Tọa đàm xúc tiến tại London (ký kết hợp tác giữa Công ty Pacific Land và Đại học Murdoch tại Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội - Habotec); Hội nghị xúc tiến Việt Nam - Hàn Quốc (trao 5 Quyết định chủ trương đầu tư và ký 14 Biên bản ghi nhớ với tổng trị giá 15,1 tỷ USD). Thành phố cũng đẩy mạnh xúc tiến đầu tư tại chỗ với các tập đoàn lớn như Coca-Cola, Aeon Mall, Meiko, Nidec và Tushing.

Về quy mô dòng vốn, năm 2018 đánh dấu mốc kỷ lục khi Hà Nội thu hút hơn 7,5 tỷ USD, tăng gấp 2,81 lần so với năm 2017 và đứng đầu cả nước. Tính riêng 3 năm 2016–2018, tổng vốn thu hút đạt gần 14,05 tỷ USD, bằng 2,25 lần giai đoạn 2011–2015. Năm 2019, Hà Nội thu hút 8,669 tỷ USD (tăng 15,5% so với năm 2018, vượt 73,3% kế hoạch năm). Vốn thực hiện lũy kế đạt 26,4 tỷ USD, chiếm 62,1% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.

Năm Số dự án được cấp mới (Dự án) Tổng vốn đăng ký (Triệu USD) Vốn thực hiện (Triệu USD)
2015 304 845 690
2016 459 1.913 1.200
2017 556 1.486 1.012
2018 616 5.040 2.300
2019 919 1.606 985

(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2019, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội)

Xét theo hình thức đầu tư lũy kế đến ngày 31/12/2019, phương thức 100% vốn nước ngoài chiếm vị trí áp đảo với 4.670 dự án; hình thức liên doanh có 1.322 dự án; hợp đồng hợp tác kinh doanh có 37 dự án (658 triệu USD); hợp đồng BOT, BT, BTO chỉ có 2 dự án (65 triệu USD). Đặc biệt trong năm 2019, phương thức góp vốn và mua cổ phần phát triển rất mạnh, đạt 1.495 lượt với giá trị 6,47 tỷ USD, chiếm 76,6% tổng vốn đầu tư đăng ký mới của toàn thành phố.

Lĩnh vực / Ngành kinh tế Số dự án cấp mới Tổng vốn đăng ký (Triệu USD)
Công nghiệp chế biến, chế tạo 846 14.183
Hoạt động kinh doanh bất động sản 165 12.903
Xây dựng 796 2.722
Thông tin và truyền thông 625 2.278
Dịch vụ lưu trú và ăn uống 293 1.718
Cấp nước và xử lý chất thải 21 1.700
Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy 1.394 Chưa cập nhật giá trị vốn cụ thể
Hoạt động chuyên môn, KH&CN 1.295 Chiếm 0,9% tỷ trọng cả nước

(Trích xuất từ Bảng 2: Dự án còn hiệu lực lũy kế đến 31/12/2019 phân theo ngành kinh tế, tác giả tổng hợp từ số liệu Sở KH&ĐT)

Về đối tác đầu tư lũy kế đến 31/12/2019, Nhật Bản đứng đầu về tổng quy mô vốn với 10,9 tỷ USD (chiếm 1.008 dự án); Singapore đứng thứ hai với khoảng 8,2 tỷ USD; Hàn Quốc đứng thứ ba với 6,3 tỷ USD. Quy mô vốn đăng ký bình quân đạt 7,6 triệu USD/dự án.

Về mặt hạn chế, tác giả chỉ ra các rào cản lớn:

  • Tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp ở mức dưới trung bình, chuỗi liên kết chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước chưa rõ nét.
  • Các dự án đô thị vệ tinh (như Hòa Lạc mới hoàn thành quy hoạch 1/500, Sơn Tây, Sóc Sơn, Phú Xuyên, Xuân Mai) triển khai rất chậm, dẫn đến quá tải hạ tầng đô thị trung tâm.
  • Vấn đề ô nhiễm nguồn nước tại sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Nhuệ, sông Đáy và hiện tượng báo cáo tài chính thiếu minh bạch, chuyển giá của một số doanh nghiệp FDI chưa được xử lý triệt để.

Chương 3: Giải pháp thu hút nguồn vốn FDI của Thành phố Hà Nội giai đoạn 2021-2025

Chương 3 đề xuất định hướng chuyển đổi chiến lược thu hút FDI của Thủ đô từ "chiều rộng" sang "chiều sâu", ưu tiên các dự án công nghệ nguồn, thân thiện môi trường và có tính lan tỏa kinh tế lớn, phù hợp mục tiêu kinh tế xanh. Tác giả xây dựng 6 nhóm giải pháp hành động cụ thể cho giai đoạn 2021–2025:

  1. Tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi: Rà soát và bãi bỏ các quy định hành chính chồng chéo; tăng cường tính minh bạch và ổn định của khung pháp lý địa phương nhằm tạo dựng niềm tin cho các tập đoàn quốc tế.
  2. Tăng cường xúc tiến đầu tư tại chỗ: Tập trung chăm sóc, tháo gỡ khó khăn trực tiếp cho các nhà đầu tư hiện hữu (như Samsung, Meiko, Coca-Cola...); lấy sự thành công của doanh nghiệp đang hoạt động làm kênh quảng bá hiệu quả nhất.
  3. Xây dựng Chính phủ điện tử: Ứng dụng công nghệ thông tin trong cung cấp dịch vụ công, chuẩn hóa và dịch thuật hệ thống thủ tục hành chính sang các ngôn ngữ Anh, Hàn, Trung, Nhật; vận hành hiệu quả phần mềm Hệ thống thông tin kinh tế - xã hội và xúc tiến đầu tư.
  4. Xây dựng các cơ chế, chính sách mới: Ban hành chính sách ưu đãi có điều kiện gắn với tỷ lệ nội địa hóa, cam kết chuyển giao công nghệ và hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D); hoàn thiện thể chế tiếp cận các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như EVFTA.
  5. Hỗ trợ nhà đầu tư tiếp cận đất đai: Hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, công khai quỹ đất sạch và danh mục dự án đấu thầu; hoàn thành hạ tầng các khu công nghệ cao, cụm công nghiệp tập trung.
  6. Đẩy mạnh công tác giải ngân vốn đầu tư: Tăng cường giám sát sau cấp phép, kiên quyết xử lý hoặc thu hồi các dự án treo, dự án chậm triển khai; đồng thời tháo gỡ nút thắt về giải ngân vốn cho các dự án hạ tầng đối tác công tư (PPP).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã trích xuất và tổng hợp hệ thống dữ liệu định lượng cụ thể, phản ánh sát thực diễn biến thu hút đầu tư nước ngoài tại Hà Nội:

  • Ghi nhận giai đoạn tăng trưởng vốn kỷ lục 2016–2018 với 14,05 tỷ USD (gấp 2,25 lần giai đoạn 2011–2015), năm 2018 đạt mốc 7,5 tỷ USD và năm 2019 đạt 8,669 tỷ USD.
  • Phân tích chi tiết sự chuyển dịch cơ cấu hình thức đầu tư khi kênh góp vốn, mua cổ phần vươn lên chiếm tới 76,6% tổng vốn đăng ký năm 2019 (6,47 tỷ USD), cùng sự áp đảo của các dự án 100% vốn nước ngoài (4.670 dự án lũy kế).
  • Làm rõ cơ cấu ngành tập trung cao độ vào công nghiệp chế biến, chế tạo (14.183 triệu USD) và bất động sản (12.903 triệu USD), trong khi lĩnh vực khoa học công nghệ và nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng không đáng kể.

Đóng góp tự thân của khóa luận thể hiện ở việc kế thừa có hệ thống và khắc phục khoảng trống nghiên cứu của các đề tài trước: nếu như công trình của Nguyễn Thu Trang (2015) chỉ phản ánh dữ liệu giai đoạn mở cửa trước đó, hoặc các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương (2017), Ngô Thị Thùy Dung (2018), Ngô Trung Hùng (2013) giới hạn phạm vi tại Hải Phòng, Quảng Ngãi hay Bến Tre, thì tác giả Đinh Thị Tú đã cập nhật được chuỗi số liệu toàn diện của Hà Nội đến cuối năm 2019, đầu năm 2020. Nghiên cứu đã liên kết được thực trạng thu hút FDI với các cam kết hiệp định tự do mới (EVFTA), cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và định hướng phát triển đô thị xanh của Thủ đô.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế nghiên cứu được xác định từ chính phạm vi văn bản:

  • Dữ liệu của khóa luận chưa bao quát được toàn diện năm 2020 do tại thời điểm hoàn thành (tháng 6/2021), số liệu thống kê chính thức của năm 2020 trên địa bàn Hà Nội chưa được Sở Kế hoạch và Đầu tư cập nhật đầy đủ (tác giả có ghi chú rõ tại danh mục bảng biểu và đồ thị).
  • Đề tài chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ niên giám và báo cáo quản lý nhà nước, chưa thực hiện được các cuộc khảo sát điều tra sơ cấp bằng bảng hỏi đối với cộng đồng doanh nghiệp FDI và người lao động trên địa bàn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Bổ sung chuỗi số liệu từ năm 2020 trở đi để phân tích sâu hơn tác động của đại dịch Covid-19 đối với dòng vốn FDI vào Hà Nội.
  • Đi sâu đánh giá định lượng về hiệu ứng chuyển giao công nghệ, mức độ liên kết ngược giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp FDI tại các khu công nghệ cao như Hòa Lạc và Habotec.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Người học và nghiên cứu viên: Sinh viên các ngành Kinh tế đầu tư, Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Quan hệ kinh tế quốc tế có thể tham khảo khung lý luận, hệ thống chỉ tiêu phân tích FDI và phương pháp đối sánh bài học kinh nghiệm giữa các địa phương (Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng).
  • Cán bộ quản lý kinh tế địa phương: Là tài liệu tham khảo cho chuyên viên tại các cơ quan xúc tiến đầu tư, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các Khu công nghệ cao và khu công nghiệp trong việc rà soát thủ tục hành chính, xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa và chính sách xúc tiến đầu tư tại chỗ.
  • Nội dung tham khảo giá trị nhất: Hệ thống bảng số liệu thống kê chi tiết lũy kế đến hết năm 2019 về phân bổ dự án theo từng ngành kinh tế, đối tác quốc tế và danh mục đối sánh kinh nghiệm quản lý FDI từ TP.HCM và Đà Nẵng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận tổng vốn FDI đăng ký và thực hiện tại Hà Nội biến động như thế nào trong giai đoạn 2015–2019?
Theo Bảng 1 của khóa luận, số dự án cấp mới tăng liên tục từ 304 dự án (năm 2015) lên 459 dự án (2016), 556 dự án (2017), 616 dự án (2018) và đạt đỉnh 919 dự án (2019). Vốn đăng ký đạt mức cao nhất vào năm 2018 với 5.040 triệu USD (vốn thực hiện 2.300 triệu USD), trước khi điều chỉnh về 1.606 triệu USD vốn cấp mới vào năm 2019 (vốn thực hiện 985 triệu USD).

2. Lĩnh vực và đối tác quốc tế nào dẫn đầu về quy mô vốn FDI tại Hà Nội lũy kế đến hết năm 2019?
Về ngành nghề, công nghiệp chế biến, chế tạo đứng đầu với 846 dự án, đạt 14.183 triệu USD; bất động sản đứng thứ hai với 165 dự án nhưng đạt tới 12.903 triệu USD (chiếm 31% tổng vốn thu hút năm 2019). Về đối tác, Nhật Bản dẫn đầu với 10,9 tỷ USD (1.008 dự án), tiếp theo là Singapore với 8,2 tỷ USD và Hàn Quốc với 6,3 tỷ USD.

3. Hoạt động xúc tiến đầu tư quốc tế của Hà Nội trong năm 2019 đã mang lại những kết quả văn kiện cụ thể nào?
Hà Nội đã ký kết 5 Biên bản ghi nhớ trị giá khoảng 5 tỷ USD tại Tokyo (Nhật Bản); ký thỏa thuận hợp tác giữa Pacific Land và Đại học Murdoch tại London (Anh) cho dự án Habotec; trao 5 Quyết định chủ trương đầu tư và ký 14 Bản ghi nhớ trị giá 15,1 tỷ USD tại Hội nghị xúc tiến đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc.

4. Vì sao tác giả nhận định cơ cấu thu hút FDI tại Hà Nội giai đoạn 2016–2020 vẫn còn mất cân đối?
Vì dòng vốn chủ yếu chảy vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản và các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động giản đơn, gia công lắp ráp với giá trị gia tăng nội địa thấp. Các lĩnh vực nông nghiệp (chỉ chiếm 22 dự án, 82 triệu USD), công nghệ thông tin truyền thông hay các ngành kỹ thuật chuyên môn cao có tỷ trọng vốn còn rất khiêm tốn.

5. Khóa luận đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào cho giai đoạn 2021–2025?
Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp: tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi; tăng cường công tác xúc tiến đầu tư tại chỗ; xây dựng Chính phủ điện tử; xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi mới; hỗ trợ nhà đầu tư tiếp cận đất đai và hoàn thiện hạ tầng khu công nghiệp; đẩy mạnh công tác giải ngân vốn đầu tư và xử lý dự án chậm triển khai.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đinh Thị Tú là công trình nghiên cứu hệ thống và nghiêm túc về thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thành phố Hà Nội giai đoạn 2016–2020. Tác giả đã vận dụng chuẩn mực các lý thuyết kinh tế quốc tế, khai thác số liệu thống kê chi tiết để chỉ ra cả thành tựu vượt bậc về quy mô vốn lẫn những bất cập về cơ cấu ngành và hiệu ứng lan tỏa công nghệ. Các bài học đối sánh từ TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng cùng hệ thống 6 nhóm giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2021–2025 cung cấp nhiều cứ liệu khoa học và thực tiễn có giá trị cho công tác quản trị, thu hút FDI của Thủ đô theo hướng bền vững.