Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan về quan hệ lợi ích trong thu hút FDI vào phát triển công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm về quan hệ lợi ích trong thu hút FDI vào phát triển công nghiệp ở tỉnh Chương 3: Thực trạng về quan hệ lợi ích trong thu hút FDI ở tỉnh Thái Nguyên Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quan hệ lợi ích trong thu hút FDI vào phát triển công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2030 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LỢI ÍCH VÀ QUAN HỆ LỢI ÍCH 1. Các công trình nƣớc ngoài Năm 1971, tác giả B. Radaev đã nêu quan điểm về lợi ích trong cuốn LIKT trong chủ nghĩa xã hội rằng mối quan hệ giữa LIKT và lợi ích tinh thần của mỗi cá thể hay lợi ích của riêng một cá thể và lợi ích chung của toàn xã hội là các mối quan hệ biện chứng.
Theo đó, tác giả cho rằng khi cân bằng được các mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung của xã hội thì sẽ thúc đẩy được sự phát triển của xã hội [105]. Như vậy, lợi ích giống như một nhân tố thúc đẩy cho sự phát triển của xã hội. Tới năm 1973, nhà kinh tế học D. Chesnokov đã nêu định nghĩa lợi ích trong cuốn Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tính cách là xã hội học của chủ nghĩa Mác - Lênin rằng: Lợi ích là mối quan hệ khách quan của xã hội, hay của một con người riêng lẻ đối với điều kiện sống của xã hội và các nhu cầu hiện có của mình, là mối quan hệ kích thích, tác động đến tập thể hay cá nhân mỗi người nhằm bảo đảm điều kiện thuận lợi cho đời sống và sự phát triển của cá nhân hay tập thể, đấu tranh với những điều kiện cản trợ sự tồn tại và phát triển của họ [113, tr.
Lợi ích kinh tế xuất hiện nhằm giải quyết mối quan hệ giữa nhu cầu của chủ thể với điều kiện sống của xã hội. Bằng việc giải quyết mối quan hệ này, chủ thể đó nhận được động lực để bảo vệ và tranh đấu giành lấy lợi ích trước sự cản trợ của các yếu tố khác [113]. Lavrinenco (năm 1978) lại định nghĩa LIKT là "mối quan hệ xã hội khách quan của sự tự khẳng định xã hội của chủ thể" [132, tr. Đối với NLĐ, họ lao động với mục đích là nhận tiền lương và trang trải cho cuộc sống của họ và 9 gia đình họ.
Đối với nhà tư bản, mục đích của họ không chỉ là trang trải cuộc sống nữa mà là lợi nhuận thu được từ quá trình sản xuất. Chính vì vậy, họ có xu hướng hành động khác nhau để phục vụ cho các mục đích khác nhau. Hay có thể nói, hành động của họ khác nhau vì mục tiêu lợi ích mà họ muốn đạt được là khác nhau. Từ đó, tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích để xây dựng nên mối QHLI trong xã hội.
Theo tác giả, hai yếu tố này luôn gắn bó và tương hỗ lẫn nhau. Lợi ích chỉ xuất hiện từ nhu cầu của chủ thể và lợi ích chính là phương thức để thỏa mãn nhu cầu đó. Như vậy, lợi ích được nhìn nhận như một tất yếu khách quan, nó là động lực cho sự phát triển của con người và xã hội và lợi ích được đặt trong các mối quan hệ đan xen, tác động qua lại lẫn nhau. Các công trình trong nƣớc Năm 1982, các tác giả Đào Duy Tùng và các cộng sự, đã cho ra đời cuốn Bàn về ba LIKT [96], trong đó trình bày các cơ sở lý luận nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý kinh tế của nhà nước lúc bấy giờ.
Ở giai đoạn những năm 1980, nền kinh tế nước ta chưa quan tâm tới lợi ích cá nhân của NLĐ, vì vậy lợi ích của xã hội không được người dân quan tâm và đóng góp sức lực. Việc quản lý kinh tế còn theo hình thức mệnh lệnh, áp dụng từ trên xuống nhưng lại không có sự xâu xát ở cấp các địa phương. Từ thực tế đó, các tác giả đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo hài hòa QHLI tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) cho đất nước, các giải pháp bao gồm nhận thức đúng vai trò của các lợi ích trong nền kinh tế, đặc biệt là lợi ích cá nhân, xây dựng cơ chế quản lý nhằm điều tiết và cân bằng hài hòa các lợi ích trong nền kinh tế. Năm 1999, Nguyễn Linh Khiếu trong cuốn Lợi ích động lực phát triển xã hội đã đưa ra khái niệm QHLI là "Mối quan hệ khách quan giữa các chủ thể có cùng nhu cầu và cùng đối tượng thỏa mãn nhu cầu như nhau trong việc thực hiện nhu cầu đó" [67, tr.
Tác giả phân tích mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần. Theo đó, lợi ích riêng là động lực thúc đẩy mỗi cá nhân lao động, là nền tảng của lợi ích chung, lợi ích của xã hội, của đất nước. Và khi đó, lợi ích chung trở thành điều kiện định hướng cho lợi ích riêng. 10 Cũng giống vậy, lợi ích vật chất là tiền đề và giữ vai trò quyết định để thực hiện lợi ích tinh thần.
Tiếp đó, lợi ích tinh thần tạo ra những khả năng mới trong việc nảy sinh những phương thức thực hiện lợi ích vật chất mới. Theo đó, các mối QHLI đều góp phần thúc đẩy cho sự phát triển của đất nước. Năm 2002, cũng với chủ đề về QHLI, tác giả nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ QHLI kinh tế gắn với các thành phần kinh tế và chỉ ra biểu hiện tập trung nhất của các QHLI là LIKT. Cuốn sách Góp phần nghiên cứu QHLI [68], một lần nữa khẳng định QHLI kinh tế là nhân tố thúc đẩy các chủ thể trong nền kinh tế thực hiện sản xuất và đóng góp cho sự phát triển của lợi ích xã hội chung.
Cùng quan điểm này, tác giả Hoàng Văn Luận (2000) đã phân tích trong luận án tiến sĩ Lợi ích - động lực của sự phát triển xã hội bền vững rằng động lực phát triển bền vững cho xã hội chính là lợi ích, trong đó LIKT được coi là động lực cơ bản nhất cho một xã hội phát triển bền vững [74]. Luận án này đã phân tích những nhân tố tác động tới LIKT và các nội dung của phát triển LIKT đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm gia tăng LIKT cho xã hội. Luận án tiến sĩ của Lê Văn Bửu năm 2012 với chủ đề Vấn đề lợi ích trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở vùng Nam bộ hiện nay cũng tập trung làm rõ cơ sở lý luận về các vấn đề lợi ích, đặc biệt là trong bối cảnh của nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta [15]. Luận án này được chia làm 4 chương, tập trung vào các nội dung gồm tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan tới luận án, cơ sở lý luận về lợi ích trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa, thực trạng lợi ích trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở vùng Nam bộ Việt Nam và các giải pháp đảm bảo lợi ích cho vùng Nam bộ Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế nêu trên.
Vấn đề lợi ích cơ bản được tác giả nghiên cứu trong luận án là LIKT và lợi ích xã hội ở vùng Nam bộ. Tác giả cũng phân tích những tác động của nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa lên LIKT và xã hội của vùng này, từ đó đề xuất giải pháp để gia tăng LIKT và xã hội cho vùng Nam bộ, hạn chế các tác động tiêu cực từ nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa lên các lợi ích cơ bản của vùng. Cuốn Giải quyết QHLI kinh tế trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay của Đỗ Huy Hà (2013) lại đề cập tới QHLI kinh tế trong bối cảnh của quá trình đô thị hoá [61]. Theo tác giả, QHLI kinh tế là những mối quan hệ thể hiện nhu cầu, 11 động cơ khách quan về sự hoạt động của các đối tượng khi tham gia vào hoạt động kinh tế xã hội và chịu sự quyết định của hệ thống quan hệ sản xuất.
Bên cạnh đó, tác giả cũng nghiên cứu về quá trình đô thị hóa và những mối QHLI diễn ra trong quá trình này khi người dân bị thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp để phục vụ cho tiến trình đô thị hóa diễn ra ở một số địa phương điển hình trong cả nước như thủ đô Hà Nội. Cùng với đó là các giải pháp cụ thể nhằm giải quyết các bất cập còn tồn đọng, góp phần giải quyết hài hòa các QHLI giữa các chủ thể trong mối quan hệ trên. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VAI TRÒ, CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG THU HÚT FDI 1. Các công trình nƣớc ngoài Các tác giả Andrea Fosfuri, Massimo Motta, Thomas Ronde (2001) với bài viết "Foreign Direct Investment and spillovers through workers’ mobili" (Đầu tư trực tiếp nước ngoài và lan tỏa thông qua dòng chảy lao động) đã đánh giá rằng thông qua dòng chảy FDI, nguồn lao động, yếu tố công nghệ vô tình được chuyển từ một công ty sang công ty khác [104, pp.
Một công ty đa quốc gia có thể chuyển giao một công nghệ vượt trội cho chi nhánh nước ngoài chỉ sau khi đào tạo công nhân địa phương. Sau khi được đào tạo, công nhân này có thể được thuê bởi một công ty địa phương và sự lan tỏa công nghệ có thể xảy ra. Ngay cả khi sự lan tỏa này không xảy ra thì mức lương mà người công nhân này nhận được cũng có tính cạnh tranh hơn nhằm tránh việc bị công ty khác thuê lại. Chính vì vậy, nhiều công ty công nghệ cao thường đưa một lực lượng công nhân lõi từ công ty mẹ sang chi nhánh đó để thay thế việc đào tạo công nhân địa phương.
Tuy nhiên, chi phí đưa công nhân lõi sang sẽ cao hơn. Do đó, tùy theo mức độ cạnh tranh của công nghệ mà công ty đó sẽ có chính sách khác nhau, tạo nên sức lan tỏa của từng công nghệ tại nước sở tại khác nhau. Chính vì vậy, tài liệu nghiên cứu này sẽ có ý nghĩa trong việc phân tích tác động của nguồn vốn FDI và lợi ích mà nước sở tại nhận được thông qua tác động đó.