Luận án tiến sĩ quan hệ lợi ích trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển công nghiệp ở tỉnh thái nguyên

Luận án tiến sĩ phân tích quan hệ lợi ích trong thu hút FDI nhằm phát triển công nghiệp tỉnh Thái Nguyên, cung cấp giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

194
11
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH THÁI NGUYÊN

1.1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến lợi ích và quan hệ lợi ích

1.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến vai trò, các nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ lợi ích trong thu hút FDI

1.3. Các công trình nghiên cứu về giải pháp hài hòa các quan hệ lợi ích trong thu hút FDI

1.4. Đánh giá kết quả của các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài và hướng phát triển của luận án

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH

2.1. Khái niệm, bản chất, đặc điểm và vai trò của quan hệ lợi ích trong thu hút FDI vào phát triển công nghiệp ở tỉnh

2.2. Hình thức biểu hiện, nhân tố ảnh hưởng và các phương thức thực hiện quan hệ lợi ích trong thu hút FDI vào phát triển công nghiệp ở tỉnh

2.3. Kinh nghiệm quốc tế và một số địa phương trong nước về thực hiện quan hệ lợi ích trong thu hút đầu tư FDI vào phát triển công ở tỉnh

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH THÁI NGUYÊN

3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên có ảnh hưởng tới quan hệ lợi ích trong thu hút FDI vào phát triển công nghiệp

3.2. Khái quát quan hệ lợi ích trong thu hút FDI vào phát triển công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên

3.3. Đánh giá quan hệ lợi ích trong thu hút FDI vào phát triển công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH THÁI NGUYÊN ĐẾN NĂM 2030

4.1. Dự báo, mục tiêu và quan điểm hoàn thiện quan hệ lợi ích trong thu hút FDI vào phát triển công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên

4.2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện quan hệ lợi ích trong thu hút FDI vào phát triển công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về FDI và vai trò của nó trong phát triển công nghiệp Thái Nguyên

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một trong những nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp. Tỉnh Thái Nguyên, với vị trí địa lý thuận lợi và chính sách thu hút đầu tư tích cực, đã thu hút một lượng lớn FDI. Theo thống kê, tổng số dự án FDI ở Thái Nguyên tính đến năm 2019 đạt gần 146 dự án với tổng vốn đầu tư lên tới 8.194 triệu USD. Điều này không chỉ góp phần vào tăng trưởng kinh tế mà còn tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Sự phát triển này đã giúp tỉnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, với tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm hơn 57% trong cơ cấu kinh tế. Như vậy, FDI không chỉ là nguồn vốn mà còn là động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh cho tỉnh.

II. Quan hệ lợi ích trong thu hút FDI

Quan hệ lợi ích giữa các bên liên quan trong thu hút FDI là một yếu tố quyết định đến hiệu quả của việc thu hút đầu tư. Các bên bao gồm doanh nghiệp FDI, chính quyền địa phương và người lao động cần có sự hài hòa trong lợi ích để đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Chính sách thu hút FDI của tỉnh Thái Nguyên cần phải chú trọng đến việc tạo ra lợi ích cho tất cả các bên. Theo đó, việc cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đảm bảo quyền lợi cho người lao động là rất quan trọng. Những mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích có thể dẫn đến xung đột và giảm hiệu quả trong thu hút đầu tư. Do đó, việc giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích này là cần thiết để tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi và bền vững.

2.3. Hợp tác quốc tế trong thu hút FDI

Hợp tác quốc tế trong thu hút FDI là một yếu tố quan trọng giúp Thái Nguyên nâng cao khả năng cạnh tranh. Việc tham gia vào các hiệp định thương mại tự do và các tổ chức quốc tế sẽ giúp tỉnh tiếp cận với các nguồn vốn đầu tư và công nghệ hiện đại. Hơn nữa, việc tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài cũng sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp địa phương trong việc học hỏi và phát triển. Do đó, Thái Nguyên cần xây dựng các chiến lược hợp tác quốc tế hiệu quả để thu hút FDI.

III. Đánh giá thực trạng quan hệ lợi ích trong thu hút FDI tại Thái Nguyên

Thực trạng quan hệ lợi ích trong thu hút FDI tại Thái Nguyên cho thấy nhiều thách thức và cơ hội. Mặc dù tỉnh đã có nhiều nỗ lực trong việc thu hút FDI, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết. Các doanh nghiệp FDI thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận các chính sách ưu đãi và hỗ trợ từ chính quyền địa phương. Đồng thời, mối quan hệ giữa doanh nghiệp FDI và người lao động còn nhiều bất cập, khi mà quyền lợi của người lao động chưa được đảm bảo đầy đủ. Điều này dẫn đến tình trạng xung đột lợi ích, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp FDI. Do đó, cần có những giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình này, nhằm tạo ra một môi trường đầu tư bền vững và hiệu quả hơn.

IV. Giải pháp hoàn thiện quan hệ lợi ích trong thu hút FDI

Để hoàn thiện quan hệ lợi ích trong thu hút FDI, Thái Nguyên cần thực hiện một số giải pháp quan trọng. Thứ nhất, cần cải thiện môi trường đầu tư bằng cách giảm thiểu thủ tục hành chính và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Thứ hai, chính quyền địa phương cần tăng cường đối thoại với các doanh nghiệp FDI và người lao động để lắng nghe ý kiến và nhu cầu của họ. Thứ ba, cần có các chương trình đào tạo và nâng cao kỹ năng cho người lao động để đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp FDI. Cuối cùng, việc xây dựng các chính sách hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi cho người lao động cũng là rất cần thiết để đảm bảo sự hài hòa trong quan hệ lợi ích giữa các bên.

23/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan về quan hệ lợi ích trong thu hút FDI vào phát triển công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm về quan hệ lợi ích trong thu hút FDI vào phát triển công nghiệp ở tỉnh Chương 3: Thực trạng về quan hệ lợi ích trong thu hút FDI ở tỉnh Thái Nguyên Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quan hệ lợi ích trong thu hút FDI vào phát triển công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2030 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LỢI ÍCH VÀ QUAN HỆ LỢI ÍCH 1. Các công trình nƣớc ngoài Năm 1971, tác giả B. Radaev đã nêu quan điểm về lợi ích trong cuốn LIKT trong chủ nghĩa xã hội rằng mối quan hệ giữa LIKT và lợi ích tinh thần của mỗi cá thể hay lợi ích của riêng một cá thể và lợi ích chung của toàn xã hội là các mối quan hệ biện chứng.

Theo đó, tác giả cho rằng khi cân bằng được các mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung của xã hội thì sẽ thúc đẩy được sự phát triển của xã hội [105]. Như vậy, lợi ích giống như một nhân tố thúc đẩy cho sự phát triển của xã hội. Tới năm 1973, nhà kinh tế học D. Chesnokov đã nêu định nghĩa lợi ích trong cuốn Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tính cách là xã hội học của chủ nghĩa Mác - Lênin rằng: Lợi ích là mối quan hệ khách quan của xã hội, hay của một con người riêng lẻ đối với điều kiện sống của xã hội và các nhu cầu hiện có của mình, là mối quan hệ kích thích, tác động đến tập thể hay cá nhân mỗi người nhằm bảo đảm điều kiện thuận lợi cho đời sống và sự phát triển của cá nhân hay tập thể, đấu tranh với những điều kiện cản trợ sự tồn tại và phát triển của họ [113, tr.

Lợi ích kinh tế xuất hiện nhằm giải quyết mối quan hệ giữa nhu cầu của chủ thể với điều kiện sống của xã hội. Bằng việc giải quyết mối quan hệ này, chủ thể đó nhận được động lực để bảo vệ và tranh đấu giành lấy lợi ích trước sự cản trợ của các yếu tố khác [113]. Lavrinenco (năm 1978) lại định nghĩa LIKT là "mối quan hệ xã hội khách quan của sự tự khẳng định xã hội của chủ thể" [132, tr. Đối với NLĐ, họ lao động với mục đích là nhận tiền lương và trang trải cho cuộc sống của họ và 9 gia đình họ.

Đối với nhà tư bản, mục đích của họ không chỉ là trang trải cuộc sống nữa mà là lợi nhuận thu được từ quá trình sản xuất. Chính vì vậy, họ có xu hướng hành động khác nhau để phục vụ cho các mục đích khác nhau. Hay có thể nói, hành động của họ khác nhau vì mục tiêu lợi ích mà họ muốn đạt được là khác nhau. Từ đó, tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích để xây dựng nên mối QHLI trong xã hội.

Theo tác giả, hai yếu tố này luôn gắn bó và tương hỗ lẫn nhau. Lợi ích chỉ xuất hiện từ nhu cầu của chủ thể và lợi ích chính là phương thức để thỏa mãn nhu cầu đó. Như vậy, lợi ích được nhìn nhận như một tất yếu khách quan, nó là động lực cho sự phát triển của con người và xã hội và lợi ích được đặt trong các mối quan hệ đan xen, tác động qua lại lẫn nhau. Các công trình trong nƣớc Năm 1982, các tác giả Đào Duy Tùng và các cộng sự, đã cho ra đời cuốn Bàn về ba LIKT [96], trong đó trình bày các cơ sở lý luận nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý kinh tế của nhà nước lúc bấy giờ.

Ở giai đoạn những năm 1980, nền kinh tế nước ta chưa quan tâm tới lợi ích cá nhân của NLĐ, vì vậy lợi ích của xã hội không được người dân quan tâm và đóng góp sức lực. Việc quản lý kinh tế còn theo hình thức mệnh lệnh, áp dụng từ trên xuống nhưng lại không có sự xâu xát ở cấp các địa phương. Từ thực tế đó, các tác giả đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo hài hòa QHLI tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) cho đất nước, các giải pháp bao gồm nhận thức đúng vai trò của các lợi ích trong nền kinh tế, đặc biệt là lợi ích cá nhân, xây dựng cơ chế quản lý nhằm điều tiết và cân bằng hài hòa các lợi ích trong nền kinh tế. Năm 1999, Nguyễn Linh Khiếu trong cuốn Lợi ích động lực phát triển xã hội đã đưa ra khái niệm QHLI là "Mối quan hệ khách quan giữa các chủ thể có cùng nhu cầu và cùng đối tượng thỏa mãn nhu cầu như nhau trong việc thực hiện nhu cầu đó" [67, tr.

Tác giả phân tích mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần. Theo đó, lợi ích riêng là động lực thúc đẩy mỗi cá nhân lao động, là nền tảng của lợi ích chung, lợi ích của xã hội, của đất nước. Và khi đó, lợi ích chung trở thành điều kiện định hướng cho lợi ích riêng. 10 Cũng giống vậy, lợi ích vật chất là tiền đề và giữ vai trò quyết định để thực hiện lợi ích tinh thần.

Tiếp đó, lợi ích tinh thần tạo ra những khả năng mới trong việc nảy sinh những phương thức thực hiện lợi ích vật chất mới. Theo đó, các mối QHLI đều góp phần thúc đẩy cho sự phát triển của đất nước. Năm 2002, cũng với chủ đề về QHLI, tác giả nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ QHLI kinh tế gắn với các thành phần kinh tế và chỉ ra biểu hiện tập trung nhất của các QHLI là LIKT. Cuốn sách Góp phần nghiên cứu QHLI [68], một lần nữa khẳng định QHLI kinh tế là nhân tố thúc đẩy các chủ thể trong nền kinh tế thực hiện sản xuất và đóng góp cho sự phát triển của lợi ích xã hội chung.

Cùng quan điểm này, tác giả Hoàng Văn Luận (2000) đã phân tích trong luận án tiến sĩ Lợi ích - động lực của sự phát triển xã hội bền vững rằng động lực phát triển bền vững cho xã hội chính là lợi ích, trong đó LIKT được coi là động lực cơ bản nhất cho một xã hội phát triển bền vững [74]. Luận án này đã phân tích những nhân tố tác động tới LIKT và các nội dung của phát triển LIKT đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm gia tăng LIKT cho xã hội. Luận án tiến sĩ của Lê Văn Bửu năm 2012 với chủ đề Vấn đề lợi ích trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở vùng Nam bộ hiện nay cũng tập trung làm rõ cơ sở lý luận về các vấn đề lợi ích, đặc biệt là trong bối cảnh của nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta [15]. Luận án này được chia làm 4 chương, tập trung vào các nội dung gồm tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan tới luận án, cơ sở lý luận về lợi ích trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa, thực trạng lợi ích trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở vùng Nam bộ Việt Nam và các giải pháp đảm bảo lợi ích cho vùng Nam bộ Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế nêu trên.

Vấn đề lợi ích cơ bản được tác giả nghiên cứu trong luận án là LIKT và lợi ích xã hội ở vùng Nam bộ. Tác giả cũng phân tích những tác động của nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa lên LIKT và xã hội của vùng này, từ đó đề xuất giải pháp để gia tăng LIKT và xã hội cho vùng Nam bộ, hạn chế các tác động tiêu cực từ nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa lên các lợi ích cơ bản của vùng. Cuốn Giải quyết QHLI kinh tế trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay của Đỗ Huy Hà (2013) lại đề cập tới QHLI kinh tế trong bối cảnh của quá trình đô thị hoá [61]. Theo tác giả, QHLI kinh tế là những mối quan hệ thể hiện nhu cầu, 11 động cơ khách quan về sự hoạt động của các đối tượng khi tham gia vào hoạt động kinh tế xã hội và chịu sự quyết định của hệ thống quan hệ sản xuất.

Bên cạnh đó, tác giả cũng nghiên cứu về quá trình đô thị hóa và những mối QHLI diễn ra trong quá trình này khi người dân bị thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp để phục vụ cho tiến trình đô thị hóa diễn ra ở một số địa phương điển hình trong cả nước như thủ đô Hà Nội. Cùng với đó là các giải pháp cụ thể nhằm giải quyết các bất cập còn tồn đọng, góp phần giải quyết hài hòa các QHLI giữa các chủ thể trong mối quan hệ trên. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VAI TRÒ, CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG THU HÚT FDI 1. Các công trình nƣớc ngoài Các tác giả Andrea Fosfuri, Massimo Motta, Thomas Ronde (2001) với bài viết "Foreign Direct Investment and spillovers through workers’ mobili" (Đầu tư trực tiếp nước ngoài và lan tỏa thông qua dòng chảy lao động) đã đánh giá rằng thông qua dòng chảy FDI, nguồn lao động, yếu tố công nghệ vô tình được chuyển từ một công ty sang công ty khác [104, pp.

Một công ty đa quốc gia có thể chuyển giao một công nghệ vượt trội cho chi nhánh nước ngoài chỉ sau khi đào tạo công nhân địa phương. Sau khi được đào tạo, công nhân này có thể được thuê bởi một công ty địa phương và sự lan tỏa công nghệ có thể xảy ra. Ngay cả khi sự lan tỏa này không xảy ra thì mức lương mà người công nhân này nhận được cũng có tính cạnh tranh hơn nhằm tránh việc bị công ty khác thuê lại. Chính vì vậy, nhiều công ty công nghệ cao thường đưa một lực lượng công nhân lõi từ công ty mẹ sang chi nhánh đó để thay thế việc đào tạo công nhân địa phương.

Tuy nhiên, chi phí đưa công nhân lõi sang sẽ cao hơn. Do đó, tùy theo mức độ cạnh tranh của công nghệ mà công ty đó sẽ có chính sách khác nhau, tạo nên sức lan tỏa của từng công nghệ tại nước sở tại khác nhau. Chính vì vậy, tài liệu nghiên cứu này sẽ có ý nghĩa trong việc phân tích tác động của nguồn vốn FDI và lợi ích mà nước sở tại nhận được thông qua tác động đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về quan hệ lợi ích trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phát triển công nghiệp ở Thái Nguyên" của tác giả Đỗ Thị Thu Trang, dưới sự hướng dẫn của các giảng viên Nguyễn Minh Quang và Mai Thế Hơn, tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ lợi ích trong thu hút FDI nhằm phát triển ngành công nghiệp tại tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về chính sách thu hút đầu tư mà còn đề xuất các giải pháp thiết thực để tối ưu hóa lợi ích từ FDI cho sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp địa phương.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng tổ chức đấu thầu và quản lý hợp đồng xây dựng các công trình thuộc ban quản lý dự án công trình xây dựng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ, nơi đề cập đến quản lý dự án xây dựng trong bối cảnh đầu tư công, hay Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình, giúp bạn hiểu thêm về quản lý đầu tư trong lĩnh vực xây dựng. Cuối cùng, Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư của khu vực tư nhân theo hình thức PPP trong lĩnh vực hạ tầng giao thông tại Việt Nam cũng là một tài liệu hữu ích, cung cấp cái nhìn về các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân trong lĩnh vực hạ tầng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh liên quan đến đầu tư và phát triển kinh tế.