CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE CÔNG TÁC BẢO TRI CÔNG TRINH XÂY DỰNG DAN DỤNG 11 Téng quan chung về công tác bảo tr công trình xây dựng dân dạng “Công trình xây dựng là sản phẩm được thành từ các y như sau ức lao động, các loại vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị. được xây dựng theo h sơ thiết kế. Công trình xây dựng gồm: công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôi công trình ha ting kỹ thuật và công trình khác, Bao trì công trình xây dựng là việc làm hết sức cần thiết, cần thực hiện thường xuyên vả liên tục nhằm chống sự xuống cắp nhanh chống của công trình, kéo di tuổi họ và dim bảo an toàn trong quá tình sử dụng công tỉnh LLL Khải niệm và lịch sử về bảo tì công trinh xây dựng Bảo trì công trình xây dung là tập hợp các công việc nhằm đảm bảo và duy trì sự làm việc ình thưởng, an toàn của công trình theo quy định của thiết kế trong quá trình khai thác sử dụng [1]. “rong quả trình sử dung công trình, các vật liệu, thiết bj bắt đầu xuống cấp, không côn đảm bảo trạng thái làm việc như ban đầu, dẫn đến tinh trạng hư hỏng, do đó ta ein phải tiến hành kiểm tra, bảo tri, bảo dưỡng va sửa chữa, Cài ự vige bảo tri, bảo dưỡng đã xuất hiện từ rt lâu trong lich sử phát triển của xã hi từ khi các công cụ sản xuất ra đồi, đặc bigt là ở gia đoạn cuộc cách mạng khoa học sông nghệ lin thứ nhất.
Nhưng trong vài thập niễn gần đây. công tác bảo tr, bảo dưỡng mới được quan tâm đúng mức khi có sự xuất hiện ngày cảng nhiều máy móc, thiết bị hiện đại, các công trình xây đựng cao ting mọc lên khắp noi Người ta ước tính kinh phí để bảo trì, bảo dưỡng thiết bị hoạt động đạt yêu cầu trong, suốt quá tình hoại động (ii thọ) của nó bằng 4-40 lẫn chỉ phí mua thi bị đó, Bảo tì đến nay đã trải qua ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất bit đầu từ xa xưa đến chiến tranh thể giới lần thứ hai, ở giai đoạn này, phương pháp bảo trì còn sơ khai, chưa đúng với ý nghĩa của nó, bảo ti được hiểu chỉ à thục hiện các công việc sa chữa các máy? móc và thiết bị khi có sự cổ hư hỏng, “Giai đoạn thứ hai: từ sau chiến tranh thé giới lần thứ hai, khi nhu cầu hing hóa tăng ngày cảng tăng cao, trong khi lực lượng lao động trong công nghiệp sản xuất lại sụt giảm, do đó con người đồi hỏi phải phát triển cơ giới hóa đẻ bù đắp lại cho nguồn nhân lực bị thiểu hụt, từ đồ nhiều máy móc, thiết bị ra đời phục vụ sản xuất, công nghiệp ngày càng phụ thuộc vào máy móc, thiết bj, vi vậy để không mắt nhiều thời im sửn chữa may mốc kh sự cố xảy ra, con người bất đầu quan tâm nhiễu đến công việc bảo tr phòng ngừa với mục tiêu là lầm cho máy móc, thiết bị luôn hoạt động ở trạng thái ôn định chứ không phải khi có hư hỏng mới sửa chữa. Giai đoạn thứ ba xuất hiện từ giữa thập niên 80 của thé kỷ XX, khi nén công nghiệp thể giới đã có những bước phát triển mới, nhiều máy móc, thiết bị hiện đại ra doi, nhiều công trình xây dựng, hạ ting đô thị mới va quy mô phúc tạp ngày cảng hình. thành, đòi hỏi nhiều hơn ở công tác bảo tri, bảo dưỡng, để đảm bảo độ an toàn, chất lượng, độ tin cậy, tăng tuổi thọ nhằm đem lại hiểu quả kinh tế cao hơn [2] Trong sự phát triển của xã hội hiện nay, bảo trì có một vai tỏ hết sức to lớn và quan trọng, góp phần phát hiện, ngăn ngừa, giảm thiểu sự cổ hư hỏng, gây thiệt lớn cho nền.
kinh tế, im khai thác a hiệu quả sử dụng của máy móc, thiết bị va công trình. Bảo trì ở Việt Nam được bắt đầu xuất hiện từ khoảng đầu thể kỷ XX, khi các nhả may, xí nghiệp bắt phát trién, Đối với các công trình xây đựng ở nước ta, việc bảo ti sông trình bắt đầu từ khi Nghị định số 177-CP ngày 20/10/1994 của Chính phủ ra đời, cquy định điều lệ quản lý đầu tr xây dung và tong quả trình khai thie công trình “Trong những năm gin đây, công tác bảo tri, bảo dưỡng công trình xây đựng đã được quan tâm đúng mức bằng các văn bản quy định của pháp luật và chủ sử dụng ngày cảng nhận thức rõ vai trồ to lớn của công tắc bảo ti trong sự phát triển của xã hội. Tuổi tho của công trình Tuổi tho công trình xây dựng được xác định trên cơ sở độ bền vững của công trình, Tuổi thọ công trình xây đựng do chủ đầu tư quyết định khi xác định nhiệm vụ thiết kế xây ‘dung công trình. Theo quy định của QCVN 03:2012/BXD - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc sia về nguyên tắc phân loi, phân cắp công trinh dân dung, công nghiệp và hạ ng kỹ thuật đô thị thì tuổi tho công trình là khả năng của công trình xây dựng bảo đảm các tính chất cơ lý và các tính chất khác được thiết lập rong tiết kế và bảo đảm diễu kiện sử cdụng bình thường trong suốt thời gian khai thác vận hành [3].
“Tuổi thọ công trình có hai loại gồm: = Tui thọ thết ké là tuổi thọ được tính toán, xác định rong qué tình thết kể xây ‘yng công tình, căn cứ vào các quy định, ác giả thuyết tính toán về khả năng chịu lực của vt liệu, ết cu, ti trọng và ác ác động lên công tỉnh để sắc định ti họ ~_ Tuổi thọ thực tổ: là khoảng thời gian công trình được sử dụng thực tế, đảm bảo các yêu cầu v8 an toin và công năng. ỗi thọ thực tẾ phục thuộc nhiễu vào quá tình vận "hành, khai thác công tình, công tác bảo tri, bảo dưỡng công trình. Nếu công trình được “quản lý, vận hành, bảo ti, bảo dưỡng theo đúng quy trình và các chỉ dẫn ky thuật thi tuổi tho sẽ cảng tăng và ngược lại 1. Phân loại bảo trì CTXD Bảo trì CTXD được phân thành bốn nhóm A, B, C, D, tủy theo ẩm quan trọng của công tình, đặc điểm kết edu, kiến tric, quy mô hệ thống trang thiết bị, các yêu tổ môi trường, các tác động xung quanh.4] Nhóm A - Bảo tri phòng ngừa: là bảo tr thực hiện ngay từ đầu từ giai đoạn thiết kế, thí công, đến kh đưa công trinh vào khai thác, vận hành.
Ap dụng đối với các công trình đặc biệt quan trọng, công trình có sự tập trung đông người làm việc, công trinh «6 ảnh hưởng lớn đến cộng đồng và các công trình khó thụ hiện sửa chữa Nhóm B - Bảo tì thông thường: là bảo tì thực hiện bing cúc biện pháp thông thưởng được xây đựng trong quy trinh bảo tỉ công trình, thực hiện ở mức độ thấp hơn nhóm A. Ap dụng đối với các công tinh xây dựng thông thường thường có tuổi thọ dưới 100 năm và dễ sửa chữa khi cần thiết. Nhóm C - Bảo trì quan sáu là bảo tri thực hiện quan sát thường xuyên, không cần khảo. sat chỉ tiết, ap dụng đối với công trình có thời hạn sử dụng ngắn, thường dưới 20 năm.
Nhóm D - Bảo trì không quan sit: là bảo tri không tiến hành kiểm tra thưởng xuyên đối với những bộ phận chỉ it bị khuất. Ap dụng đối với các công trình đưới nước, công trình ngằm và công trình dn khoan ngoài khơi Bên cạnh đó bảo tri còn phân loại theo bảo trì theo kế hoạch và bảo trì không theo kế hoạch: ~ Bảo trì có kế hoạch là bảo tri được thực biện theo một kế hoạch đã được xây dựng từ trước, theo một quy trình đã hoạch định sing, cổ kiém tra, giám sit để ngăn ngửa các hư hỏng xây ra hoặc phát hiện các sự cổ trước khi chúng bị hw hỏng gây ra thiệt hại lớn về kinh tế, Bảo ti không kế hoạch là bảo tì không theo bắt kỳ một ké hoạch hay chương trình nảo, đây là loại bảo trì thực hiện khi có sự có hư hỏng đột xuất, ma không lường trước. dược để phục hồ li trọng tha làm việc bình thường của thiết bị, bộ phận công trình. Đánh giá chung về công tác bảo trì công trình xây dựng dân dụng ở Việt Nam 1.1 Đặc diém của công trình xây dựng.1 Đặc điểm của sản phẩm ảnh hưởng đến vẫn dé chất lượng.
- Tinh cá biệt, đơn chiếc: Mỗi công tình xây dựng đều mang tinh đặc thù riêng, không công trinh nào giống công trình nào, nó phụ thuộc vào nhủ cầu, yêu cầu sử dụng, điều kiện ne nhiên, dia chất noi đặt công trình, phương pháp thi công, cầu tạo vật liệu, do đó nó mang tính cá bi cao "Được xây dựng và sử dạng tại chỗ: Không giống với các sản phẩm khác, công trình xây dựng được xây dựng và sử dụng lâu dai tại một vị trí cố định, được xác định trong quá trình lập dự án, căn cứ vào nhu. cầu, các yêu cầu, hiện trang thực tế và mục dich sử dụng để từ đồ chọn ra vị ti thích hợp xây dựng. Từ đó đòi hỏi công tác nghiên cứu, khảo sát thiết kí thi công phải thật hợp giảm thiểu việc phải digu chỉnh, sửa chữa gây thiệt hại về kinh tế - Kích thước và trọng lượng lớn, edu tạo phức tap: “Công trinh xây đựng din dụng thường được xây đựng dang khối, cỏ kich thước tổng thé lớn, cấu tạo phic tap, ting hop nhiều loại vật liệu, có khối lượng và trọng lượng rất én. Thời gian thi công công trình thường kéo dai, nên chịu nhiễu rủi ro trong công tác ‘quan lý chỉ phí, do giá cả vật liệu, thiết bị, nhân công thưởng thay đổi theo thời điểm, ảnh hưởng đến giá thành xây dựng.
Đồng thời việc thi công ngoài trời, chịu ảnh hưởng, trực ấp tác động của tồi tiết, nên việc kiểm soát chất lượng vậtiệu, cá cấu ign xây cdựng gặp nhiều khó khăn Liên quan đến nhiều ngành, đến môi trường tự nhiên và cộng đẳng đôn cư ĐỂ tạo ra một sản phẩm xây dựng hoàn chỉnh, đôi hỏi phải có sự kết nồi, tổng hợp của nhiều bộ phận, cơ quan, ngành nghề khác nhau, có như vậy mới tạo ra được sản phim tốt và chất lượng, đáp ứng yêu cầu như mong muốn cho người sử dụng, chủ đầu tư. “Công trình khi xây đựng đều được nghiên cứu đến các yêu tổ tie động mỗi trường.