CHƯƠNG I : TONG QUAN VE DIEU KIỆN DIA CHAT VÀ GIẢI PHAP MONG 1.Đánh giá về địa chất công trình trên địa bàn thành phổ Sóc Trang Đất yéu thuộc đối tượng nghiên cứu chủ yéu là bản sét vi bùn sét pha với bể dây xắp xi khoảng 10m, một số nơi có thé đạt đến 20m, nằm gin mặt đắt, hầu như chưa được nén chặt, mới ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành đá trim tích.Vì vậy, rất khó khăn cho công tác xây dựng đường. iit có thành phần hat rit mịn, hàm lượng các nhóm hạt bụi và sết khá cao đồng thời cũng có mặt các khoáng vật có tính phân tần cao như montmorillonit và illit, không thuận lợi cho các giải pháp sử dụng xử lý nền đắt yéu bằng các chất kết dính. Cac kết quả nghiên cứu về độ pH, khả năng trao đổi cho thấy, độ pH của đất thấp, nhỏ hơn 7, dao động ừ 3 đến xắp xi6, Khả năng trao đổi hấp thụ không cao, ding lượng "hấp thy chi đao động tir 19,6+27,25 me/100g đất khô nên thuận lợi cho việc cải tạo đất ông thường nên dùng các biện phip bằng các chất kết dinh và cả các giải pháp làm chặt đất. Tại các dia điểm nghiên cứu ta thấy trong đất có chữa muối dé hỏa tan.
Dit được xếp vào loại nhiễm mudi í thường từ L+2%, đắt thuộc loại nhiễm muỗi ít, Loại mudi trong đất 1a chlorua natri, Như vậy, sự có mặt cia muối dé hỏa tan sẽ gây ảnh hưởng xấu đến vige cải tạo đất bằng các chất kết dinh vô cơ. Tuy nhiên, với mức nhiễm mudi này, vẫn có thé cải tạo được bằng các chất kết dính vô cơ. Hầu hết các mẫu nghiên cứu cho thấy, đất đều chứa chất hữu cơ, hàm lượng hữu cơ trong đất không cao, đại đa số các mẫu nghiên cứu cho hàm lượng hữu cơ dao động. trung bình từ 34%, Hàm lượng hữu cơ đã gây ảnh hưởng ti các đặc trưng cơ lý, cũng như chất lượng cải tao đắt bằng xi mang.
Dit nghiên cứu là lại đất yếu, chưa được nén chặt, có chứa mudi và chất hữu cơ. Mức độ nén lún mạnh, hệ số nén lún và chỉ số lún ở tất cả các mẫu đều lớn hơn 0.1; áp lực tiền cố kết nhỏ, dao động trung bình từ xắp xi 0,3+0,5 kg/em2, Sức kháng cắt khong thoát nước từ thí nghiệm cắt cánh hiện trường và thí nghiệm 3 trục trong phòng cho thấy đất nghiên cứu không thuận lợi cho việc xây dụng đường, các thông số nghiên cứu có thé phục vụ kiểm toán én định. Các giải pháp móng công trình phổ biển hiện đang áp dung Do đặc điểm về địa chất công trình nên hiện nay trên địa bàn thành phố Sóc Trăng hiện nay sử dụng một số loi nén mồng như sau: 12. Phương ân mông nông Móng nông là giải pháp móng cực kỳ phổ biển tai Việt Nam hiện nay với chỉ phí thì công rit hợp lý, thường được áp dụng đổi với cá tông trình có quy mô vừa và nhỏ (dui 5 ting), Móng nông có thể tận dạng tối đa khả nding làm việc của các lớp đất phía trên cùng, thích hợp với những địa điểm thi công với điều kiện địa chất công trình có các lớp đất sét hoặc sét pha ở trạng thái từ déo cứng cho đến cứng, đáp ứng bề day sâu chôn móng nông phổ biến từ 0.5m ~ âm, phụ thuộc vào ề ip.
sự phân bố của đất yếu, hay chiều sâu. mực nước dưới đất, Thành phố Sóc Trăng khi xây dựng sử dụng mỏng nông trong trường hợp sau Móng đơn: Sử dụng cho nhà ở riêng lẻ đệ tích nhỏ, chủ yếu là nhà tet Móng băng: Sử dụng cho nha trên một ting va dưới 4 ting có tải trong tương đối nhỏ.2, Phương án móng cọc áp, cục đẳng Khi phương án móng nông không thể đáp ứng được yêu cầu vẻ mat kỹ thuật (biến dang nhiề không én định) công trình tải trọng lớn hay trong trường hợp chi phí phí xử lý dit nỀn khi thi công móng nông qué tốn kém, thi phương án móng cọc Ép, cọc đồng là một giải pháp thay thé hữu hiệu. Đây là loại móng gồm có các cọc và dai cọc, được sử dụng để tuyỄn tải trọng của củ công tình xuống lớp đất tt đến tận sỏi đá nằm ở phía dui sâu công trình. Trên thực tế thi công, người ta có thé đồng, hạ những cây cọc rất lớn xuống các ting dit rt sâu, qua dé lim tăng đáng kể Khả năng chịu tả trọng lớn cho n ông Đối với công trình có ting cao từ 2 ting trở xuống và quy mô diện tích tương đổi nhỏ có thé sử dụng móng cọc cừ tram, Đối với nhà cổ ting cao trên 4 ting, diện tích và tải trọng lồn chủ yếu sử dụng móng se bé tổng cốt thép.
Do đặc điểm dia chất nên trên địa bàn thành phổ Sóc Trăng sử dụng móng cọc bê tông cốt thép được dùng phổ biến nhất trong trường hợp tải trọng sông trinh khả lớn hay trong điều kiện địa chất yễu, giải phip mồng cọc luôn được xem là giải pháp thuận lợi nhất do đặc tinh phong phú v8 cầu tạo vit liệu học của cọc, cđược chia làm các loại như sau: Móng cọc dai cao và Móng cọc đài thấp. Phương án móng cọc khoan nhôi Giải pháp mồng cọc khoan nhi hiện nay được áp dụng chủ yếu đối với các công tinh nhà cao tang (thường cao trên 10 ting). Tuy nhiên, phương pháp cọc khoan nhồi lại có. chỉ phí th công khá tổn kém (cao hơn nhiều so với phương ấn cọc Ép) nên chủ đầu tr ky su thiết kế kết cầu cũng như các bên liên quan thường cân nhắc hết sức kỹ lưỡng khi quyết định áp dụng gi pháp móng này.
Trên thực ổ, móng cọc khoan nhỗi sẽ là giải pháp không thể thay th đối với trường hợp phương án cọc ép hoặc cọc ép không thể đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật Đối với các công tình nha cao ting, tải trọng truyền xuống một cột thường rt lớn, và nếu áp dụng móng cọc ép. lượng cọc cần sử dụng sẽ là rất nhiều và kích thước. đài cọc cũng rit lớn, Nếu mặt bằng mồng đủ rộng để có thể bé trí dai cọc và không ảnh hưởng đến các hạng mục he ting, phương ấn mông cọc ép là hoàn toàn hợp lý, Tuy nhiên, các công trình nhà cao ting hiện đại hiện nay với ting him, bể nước ngằm, hệ thống cắp thoát nước, bể phốt, cũng hạ ting kỹ thuật khác chiếm khoảng không gian khá đáng ké nên việc áp dụng mỏng cọc ép là gần như không thé. Vi lề đó, phương án mồng coc khoan nhồi là giải pháp duy nhất với sức chịu tải cao hơn và điện tích móng, cũng nhỏ hơn nhiều “Tùy thuộc từng điều kiện dia chất điều kiện kỹ thuật và thi công cụ thé ma người kỹ sư thiết kế kết cấu dựa tr những thông số kỹ thuật cụ thể và các tính toán chính xác ẽ đưa ra một giải pháp móng và hệ chịu lực chính tối ưu cho từng công trình.
Tuy hiền, để có thể làm được điều này, ngoài việc tính toán chính xác, nghiên cứu hỗ sơ địa chất kỹ lưỡng. người kỹ sư cũng cần có rit nhiễu kinh nghiệm thực té công như chuyên môn vũng ving mới có thé tim ra được một phương án tối ưu, an toàn và tiết kiệm.Phan tích các giải pháp xử lý nền móng áp dụng địa bàn thành phố Sóc Trăng Nếu ải trọng dưới chin cột không lớn ta có thể dùng móng đơn dưới ct. Nếu ải trọng lớn thi móng đơn không đảm bảo điều kiện chịu lực hay biến dạng quá mức thi ta có. thể dung mồng băng một phương, hai phương hoặc móng bẻ dưới khung nha.1 Móng băng hai phương 13.
Mông bè Xông bé là loại móng mém, chiếm toàn bộ diện tích nén nha. Khi nhà tả trọng lớn (hà > 3 tng), nền xấu thì thường phải dùng móng bang đặt sâu và diện tích móng chiếm đến 75% diện tích nễn, khi đó nên ding móng bẻ, Mông bề còn dùng thich bop khi cần hạn chế chin động, lún lệch nhiều, cần tăng cường độ và độ cứng của móng. 6 Nếu nền có lớp trên là đất tốt, lớp dưới là đất yêu. Khi lớp đất tốt trên mỏng (< 1.5m): coi như toàn bộ là nén yễu.
Với trường hop này sẵn phải có những biện pháp gia cổ nén phi hợp với quy mô công nh: 13. Giữ cổ nền bằng cừ trim: (Chi đồng với các công trình có quy mô nhỏ nhưng sức chịu tải của nên vẫn là ắt yếu, sơ sở tinh toa chỉ là giả định, ngôi nhà bị tro trên ting đắt yêu. Nên bạn chế sử dụng. Ưu điểm Đối với nhà thắp ting, ải trọng nhỏ ụ dùng cọc tre ( mig Bắc ), cọc tram ( miền [Nam ) và coe gỗ sẽ tiết kiệm được | phần chỉ phí nền móng.
Với nhu cầu xây nhà giá rẻ hoặc giá tim trung có tải trọng công trình không lớn có thể chọn giải pháp móng, don hay mồng bang, Cừ trầm phải đóng xuống dưới mực nước ngằm, cit ngâm trong nước mới ving bền. Cir tram 8 - 10 em là loại cử thông dụng nhất, được sử dụng trong xây dựng làm móng nhà ở nhiều vi đắt chụi ti tố và giá cả hợp lý, phủ hợp với nhiều loại công tình khác nhau. Mật độ đóng 25 cọe/m” Nhược điểm Khi ding cử trầm thì phải dio sâu 1,8 - 22m nên dễ ảnh hưởng đến các công ình lần cân, chi sử đụng cho công trình thấp ting, cỉ tải trọng không cao. VỀ độ sâu của móng cử trim, nhiều người có thói quen đặt đầu cir tram là phải đặt nằm dưới mực nước ngim thấp nhất lều này dẫn đến việc phải đặt đáy móng quá sâu, gây bit lợi cho thi công, nhất là vào mia mưa.
Các tài liệu địa chất cho thấy: ở vị trí cao hơn mạch nước ngằm, đất khi đó vẫn dm ướt, độ bão hỏa cao, do đó đủ độ âm để đầu cit trim không bị khô và sẽ không bị mục. Vì vậy, tiy theo chất lượng đất bn trên mực: nước ngằm, cổ thé chọn đầu ci trim cao hơn mực nước ngằm, miễn sao là đầu cử luôn âm ướt. Ở đất sét, nước mao dẫn có thể lên đến 5 - óm. Hình 14 Sử dụng cử tram gia cổ nên 1.
Gia cỗ nền bằng cọc khoan nhô Đổi với những công trình có quy mô vừa nhưng có thm quan trong và những công trình có quy mô lớn thi biện pháp gia cổ nén nảy là tối ưu nhất. Đối với các công trình nhà tải trọng lớn thì hiểm khi dũng biện pháp gia cổ nén bằng cọc khoan nhồi vỉ chí phí khá cao.