CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỌNG CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TỚI BÁT BÌNH ĐẢNG THU NHẬP. MOT SO VAN DE LY LUẬN CƠ BẢN VÈ TĂNG TRƯỞNG KIN| TẾ 1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế “Tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự gia tăng mức sản xuất của nền kinh tế theo thời gian. Tốc độ tăng trưởng nhanh có thể làm cho một quốc gia nghèo đuổi kịp và vượt qua quốc gia giàu hơn mình.
Những nước tăng trưởng nhanh, thu nhập bình quân đầu người được nâng cao sẽ tạo điều kiện cho xã hội phát triển, đời sống vật chất và văn hóa của công chúng có cơ hội được tăng lên Ngược lại, một nước tăng trưởng chậm, thu nhập thấp thì sẽ phải đương đầu với những mâu thuẫn liên miên trong quá trình chọn lựa các mục tiêu. Điều đó lý giải vì sao tắt cả các quốc gia đều quan tâm đến vấn đề tăng trưởng ‘Tang trưởng kinh tế là sự gia tăng về sản lượng hay thu nhập thực tế được tính cho toàn bộ nền kinh tế (của một quốc gia, một vùng hay một ngành) trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Tăng trưởng kinh tế có thê biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số. Trong phân tích kinh tế, để phản ánh mức độ mở rộng quy mô của nền kinh tế, khái niệm tốc độ tăng trưởng kinh tế thường được dùng.
Đó là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời kỳ nghiên cứu so với mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc thời kỳ gốc. Có nhiều nghiên cứu đã bàn luận tới khái niệm này nhưng ở đây xin đề cập tới một số nghiên cứu nhất định. Trong nghiên cứu của Paul Saumelson, W. N (1989) tuy không nhắc tới khái niệm về tăng trưởng kinh tế một cách trực tiếp.
Ở đây tác giả nhắc tới mức sản lượng của nền kinh tế đạt được khi lựa chọn phân bồ nguồn lực của. nền kinh tế trong một khoảng thời gian, nhưng mức sản lượng này xoay quanh mức sản lượng tự nhiên của nên kinh tế tương ứng với năng lực sản xuất của nền kinh tế. Năng lực sản xuất của nền kinh tế ngày càng mở rộng là xu thế dài hạn và do vậy sản lượng cũng lớn lên. Sau này Mankiw, N.G (2000) khi nói về các biến số cơ bản của kinh tế vĩ mô đã cho rằng một biến số rất quan trọng là &ết quá hoạt động kinh tế của quốc gia.
Kết quả các hoạt động kinh tế này được tạo ra bởi kết quả hoạt động sản xuất của tất cả người sản xuất trong nền kinh tế như doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình. Hoạt động sản xuất của họ là quá trình sử dụng các nguồn lực như tài nguyên, vốn, lao động, công nghệ .kết hợp với nhau để tạo ra sản lượng. Quá trình này họ tích lũy mở rộng để tăng năng lực sản xuất và tăng dần sản lượng. Kết quá hoạt động của nền kinh tế ngày càng tăng lên theo thời gian hay tăng trưởng kinh.
Cả hai nghiên cứu này đều khẳng định mức sản lượng của nền kinh tế hay kết quả hoạt động kinh tế của nền kinh tế được phản ánh qua gid tri tng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP). Điều này cũng hàm ý rằng tăng trưởng kinh tế được thể hiện qua sự gia tăng của giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tông sản phẩm quốc dân (GNP) theo thời gian và theo giá so sánh. ‘Theo Mankiw (2000) xu hướng thay đổi của GDP thực tế xoay quanh mức sản lượng tự nhiên của nền kinh tế mà trong đó đường xu thế của sản lượng tự nhiên dốc lên theo xu thế thay đổi năng lực sản xuất ngày càng mở. ông của nền kinh tế trong dài hạn.
Trong ngắn hạn, mức sản lượng thực tế cũng có thể cao hơn hay thấp hơn mức sản lượng tự nhiên do tác động từ các. cú sốc cung hay cầu, khi đó sẽ xuất hiện các chu kỳ biến động kinh tế. chu kỳ biến động sẽ kết thúc và nền kinh tế sẽ cân bằng trở lại theo cơ chế tự. cần bằng hay có các biện pháp can thiệp của chính phủ.
Như vậy trong dài hạn xu thế tăng trưởng kinh tế vẫn thể hiện một sự đi lên và ôn định như kết quả của quá trình mở rộng năng lực sản xuất không ngừng. “Trên cở sở cách tiếp cận thiên vẻ chất lượng, Vinod et al. rằng tăng trưởng kinh tế là quá trình duy trì tốc độ tăng trưởng GDP trong dài hạn và thành quả của nó cần phải được sử dụng để cải thiện phúc lợi con người. Theo nhóm tác giả này tăng trưởng gắn với sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người nhưng phải đi liền với việc duy trì tăng trưởng GDP cao có thể trong dài hạn và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Cùng với các nghiên cứu của thế giới các nghiên cứu của Việt Nam cũng đề cập tới điều này. Ở Việt Nam cũng có những tác giả trong nghiên cứu của mình đã bàn tới khái niệm tăng trưởng kinh tế. Theo Vũ Thị Ngọc Phùng (2006) “Tăng. trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nên kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).
Sự gia tăng thể hiện ở quy mô và tốc độ.Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu GDP, GNI và được tinh cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người." Hay theo Bùi Quang, 'Bình (2012) “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế (GDP) hay sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người (GDP/người) qua một thời gian nhất định. Thường được phản ảnh qua mức tăng trưởng và tỷ lệ tăng trưởng.” Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006) cho rằng tăng trưởng của nên kinh tế là quá trình duy trì xu thế tăng trưởng liên tục trong dài hạn. Đồng thời xu thế tăng trưởng như vậy sẽ thẻ hiện cách thức tạo ra tăng trưởng kinh tế như thể nào. Nguyễn Văn Nam, Trần Thọ Đạt (2006) khi bàn tới tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam đã khẳng định việc nền kinh tế đạt được tỷ lệ tăng trưởng cao có thể trong nhiều năm sẽ là điều kiện quan trọng.
để đánh giá chất lượng tăng trưởng. Trong nghiên cứu của Nguyễn Kế Tuấn và nhóm tác giả (2011) khi phân tích tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010, xu hướng. tăng trưởng cũng được quan tâm xem xét và được coi là một nội dung đề đánh giá về cách thức tạo ra tăng trưởng của nền kinh tế giai đoạn này. Như vậy, các công trình nghiên cứu cá lý thuyết và thực nghiệm đều lấy nội dung xu thể tăng trưởng trong dài hạn để đánh giá tăng trưởng kinh tế.
Đồng thời tiêu chí đánh giá được sử dụng là giá tri GDP hay GNP theo giá cổ định hay tỷ lệ tăng GDP hay GNP hàng năm và trung bình theo thời gian. Tỉnh ốn định của tăng trưởng thường được xác định bằng tỷ lệ biến thiên — mức ôn định thông qua so sánh sai lệch giữa tăng trưởng hàng năm và trung bình. Đo lường tăng trưởng kinh tế Bản chất của tăng trưởng kinh tế là phản ánh sự thay đổi về lượng của nên kinh tế, Do đó nhìn chung, tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm. thay đổi của mức sản lượng quốc dân.
“Trong đó: g' la tốc độ tăng trưởng của thời kỳ t. Y là GDP thực tế của thời kỳ L GDP là thước đo được chấp nhận rộng rãi về mức sản lượng của một nên kinh tế. Ngoài ra tăng trưởng kinh tế còn được tính bằng phần trim thay đổi của GDP thực tế bình quân đầu người của thời kỳ nghiên cứu so với thời kỳ trước- thông thường tính cho một năm. ‘x 100% “Trong đó: sạc là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân đầu người của thời kyt y là GDP thực tế bình quân đầu người.
Mặc dù vậy, không phải quốc gia nào cũng khuyến khích tăng trưởng, bằng mọi giá. Thực tế cho thấy nhiều quốc gia đã phải trả giá cho sự tăng. trưởng nahnh bằng những hy sinh mà suy cho cùng thì chúng ảnh hưởng đến hàng loạt các mục tiêu: Phúc lợi kinh tế chung của xã hội, sự ô nhiễm môi trường, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên, làm cho thế hệ mai sau phải trả giá đắt cho sự hưởng thụ của thế hệ hiện tại. Hơn nữa, một số nhà kinh tế còn bỉ quan cho rằng chúng ta đứng trước nguồn tài nguyên có hạn, tăng trưởng.
nhanh cũng có nghĩa là đang tiêu tốn nguồn tài nguyên đó, cho đến lúc không. con gi để khai thác được nữa. Với những tác động có hại, chúng ta cần nhận thức lại rằng: tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải trả cho nó một cái giá nào đó. Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là chúng ta hạn chế tăng trưởng mà vấn đề là phải tìm cách để cho các giá phải trả càng thấp càng tốt.
Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế chịu tác động của nhiều nhân tố, bao gồm nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh tế + Nhân tố kinh tế Nhân tố kinh tế là những nhân tố tác động trực tiếp đến các biến đầu vào và đầu ra của nền kinh tế. Các nhân tố kinh tế bao gồm 4 yếu tố chủ yếu: vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, tiến bộ công nghệ. Vấn: là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế. Vốn sản xuất có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh.
10 tế được hiểu vốn vật chất chứ không phải dưới dạng tiền (giá trị). Nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích lũy lại của nền kinh tế, bao gồm: nhà máy, thiết bị, máy móc, nhà xưởng và các trang thiết bị được sử dụng như những yếu. tố đầu vào trong sản xuất. Vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế được.
các nhà kinh tế trường phái Keynes đánh giá rất cao, cụ thể nó được lượng hóa thông qua mô hình Harrod-Domar. Lao động: là yếu tố đầu vào không thể thiếu của sản xuất. Trước đây chỉ quan niệm lao động là yếu tố vật chất đầu vào, được xác định bằng số lượng dân số nguồn lao động mỗi quốc gia. Những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây đã nhắn mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao động gọi là vốn nhân lực, đó là lao động có kỹ thuật sản xuất, lao động có.