CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẾ XÓA ðÓI GIẢM NGHÈO VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Kết quả nghiên cứu của các tác giả và tổ chức quốc tế ðói nghèo không chỉ tồn tại dưới chế ñộ công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, … với trình ñộ lực lượng sản xuất (LLSX) lạc hậu, kém phát triển mà ngay trong thời ñại công nghiệp hóa, hiện ñại hóa với trình ñộ khoa học kỹ thuật công nghệ phát triển như hiện nay, ñói nghèo vẫn tồn tại ngay cả ở các nước phát triển. Vì vậy, từ xưa ñến nay XðGN luôn là vấn ñề ñược nhiều nước, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên ở mỗi thời ñại, mỗi quốc gia lại có những quan niệm, cách giải quyết vấn ñề XðGN khác nhau tùy thuộc vào quan ñiểm phát triển KT-XH của mình.
Những nghiên cứu về nghèo ñói và xóa ñói giảm nghèo Ngay từ những năm 50 của thế kỷ XIX, K.Marx và Ph.Ăngghen ñã viết về tình trạng nghèo khổ và cùng cực của giai cấp vô sản và người lao ñộng khi sống dưới ách thống trị của chủ nghĩa tư bản ñã phải bán sức lao ñộng của mình cho chủ tư bản ñề kiếm sống, như tác phẩm nổi tiếng là Kinh tế học và Triết học (1860- 1895), rồi tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học”, 1844 của K.Marx [61] hay tác phẩm “Tình cảnh giai cấp lao ñộng ở Anh”, 1845 của ông và Ph. Trong các tác phẩm trên và hàng loạt ấn phẩm khác, các ông ñã chỉ rõ sự phân hóa hai cực giàu – nghèo ñó là: Tích lũy giàu có tột ñộ của giai cấp tư sản và tích lũy sự bần cùng cực ñộ của giai cấp vô sản và người lao ñộng. Do chế ñộ tư hữu TBCN về TLSX và chế ñộ áp bức bóc lột của giai cấp tư sản nên người lao ñộng bị tước ñoạt hết TLSX rơi vào tình trạng bần cùng buộc phải bán sức lao ñộng ñể kiếm sống. Trong “Tuyên ngôn của ðảng Cộng sản”[60], “Lao ñộng làm thuê và tư bản”[62], K.Marx và Ph.Ăngghen ñã ñề cập nhiều lần ñến tình cảnh ñói nghèo của người vô sản, của người lao ñộng làm thuê, nhất là vấn ñề lao ñộng bị tha hóa.
6 ðầu thế kỷ XX, V.Lênin tiếp tục những kiến giải trên cơ sở kế thừa và phát triển tư tưởng K.Marx và Ph.Ăngghen ñã vạch ra luận cương giải phóng toàn bộ giai cấp vô sản khỏi ách thống trị của chủ nghĩa tư bản (CNTB). Ông là người chủ trương PTKT hàng hóa, dùng ñòn bẩy kinh tế khuyến khích lao ñộng, PTKT, xóa bỏ căn bản tình trạng ñói nghèo ñặc biệt là ở nông thôn trong công cuộc xây dựng xã hội mới XHCN. Trong các tác phẩm của mình, Lênin ñã ñề cập ñến thực trạng của giai cấp công nhân và nông dân “gửi nông dân nghèo”, “Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga”, “những biến ñổi về kinh tế trong ñời sống nông dân” [59]. Trong CNTB hiện ñại vấn ñề Tăng trưởng kinh tế (TTKT) và ñói nghèo ñược ñề cập ở nhiều tác phẩm như lý thuyết “Kinh tế học” của Paul.
Samuelson và William D. Nordhans [82], lý thuyết “cải cách” của W. Hay mối quan hệ giữa thu nhập và mức sống thể hiện qua sơ ñồ ñường cong Lorens hoặc những ñề cập ñến kinh tế học phúc lợi trong “Kinh tế học” của Davit Begg hay “Kinh tế học công cộng” của JorephE. Stiglits… TTKT và giảm nghèo là một trong số các vấn ñề ñược ñược rất nhiều người quan tâm.
Lịch sử phát triển xã hội của thế giới, có nhiều quan ñiểm khác nhau về quan hệ giữa TTKT, CBXH và giảm nghèo tiêu biểu nhất là lý thuyết “Chữ U ngược” của nhà kinh tế học Kuznets. ðến những năm 80-90 của Thế kỷ XX, các nghiên cứu về ñầu tư phát triển của các tổ chức, của Ngân hàng thế giới (WB), Viện nghiên cứu phát triển xã hội (UNRID), cơ quan phát triển lương thực (FAO) của Liên hiệp quốc, Ủy ban giảm nghèo của Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC), Viện nghiên cứu của Chính phủ Indonesia (IBIRD), Ủy ban Kế hoạch của Trung Quốc và Ấn ðộ, Hiệp hội phát triển dân số và cộng ñồng của Thái Lan (CDA) … ñã thực hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về XðGN. Năm 1981 nghiên cứu “Khảo sát ở vùng nông thôn SahelianR” của tác giả R. Diawara [126] ñã nghiên cứu về vấn ñề phát triển nông thôn.
Nghiên cứu ñã nêu một phương pháp tiếp cận mới thông qua nhiều môn học về xã hội nông 7 thôn. Phương pháp này nhấn mạnh vào việc sử dụng các công cụ thống kê, xã hội học, nhân chủng học, kinh tế như thế nào ñể nghiên cứu xã hội nông thôn ñạt hiệu quả. Nói về các thí ñiểm thực hiện ở phía Tây vùng Sahel ở châu Phi. Còn Christensen, Hanne với nghiên cứu “The Reconstruction of Afghanistan: A Chance for Rural Afghan Women” (Geneva: United Nations Institute for Social Development, 1990) [127] ñã nghiên cứu công cuộc cải tổ ñất nước Apganixtan và ñời sống những người tị nạn Apghan ở Pakistan, vai trò người phụ nữ trong gia ñình và xã hội sau ñó ñưa ra bài học và khuyến nghị cho quyền lợi của phụ nữ nông thôn trong công cuộc xây dựng lại nông thôn.
Tại hội nghị về chống ñói nghèo do Ủy ban kinh tế -xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tại Băng Cốc Thái Lan (diễn ra từ ngày 15-17 tháng 9- 1993) ñã ñưa ra các khái niệm, ñịnh nghĩa, tiêu chí ñánh giá ñói nghèo và các giải pháp XðGN tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Tiếp ñó, từ ngày 20-24 tháng 9 năm 1993 Hội nghị lần thứ nhất của Ủy ban giảm nghèo ñói, TTKT và phát triển xã hội ñã bàn về giải pháp vĩ mô giảm nghèo ñói cho các nước trong khu vực ñặc biệt là nhóm dân cư yếu thế dễ bị tổn thương, dân cư các vùng dân tộc ít người, các vùng xa xôi hẻo lánh. Năm 1995, Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Thụy ðiển (SIDA) có ñề cập trong cuốn “Vấn ñề nghèo ở Việt Nam” [83] một ñịnh nghĩa rất rộng về cái nghèo, ñi sâu phân tích tình hình nghèo của các nhóm nghèo ở Việt Nam, ñánh giá những tác ñộng của công cuộc ñổi mới ñến người nghèo gắn liền với các vấn ñề về y tế, giáo dục, tín dụng … ñưa ra một số vấn ñề có ý nghĩa chiến lược cần xem xét ñể nâng cao hiệu quả giảm nghèo ở Việt Nam. Năm 1999 nhà xã hội học Max Weber có tác phẩm “Phân hoá giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường Nhật Bản từ 1945 ñến nay” [64], ñã ñi sâu phân tích tình hình nghèo ñói và nguyên nhân phân hóa giàu nghèo giữa các nhóm xã hội trên cơ sở tín nhiệm.
Các nhóm xã hội này ñược xác nhận không phải bởi vị trí của họ trong sản xuất mà chính là lối sống của họ. Theo ông, bản thân người có TLSX chưa hẳn có quyền lực và uy tín, mà có thể do nhiều yếu tố khác, chẳng hạn như 8 giáo dục, trình ñộ văn hoá. Trong lý luận của mình, Max Weber cũng nhấn mạnh ñến khả năng thị trường, coi ñó là nguyên nhân ñầu tiên của phân hóa giàu nghèo và bất bình ñẳng xã hội hơn là yếu tố tài sản. Theo cách tiếp cận khác, năm 1971 nhà kinh tế học Simon Kuznets khi viết về sự tăng trưởng kinh tế của các nước ñã ñưa ra lý thuyết phát triển là một quá trình cân bằng.
Theo ông, phát triển là một quá trình cân bằng, trong ñó các nước tiến lên một bước vững chắc. Cũng trong tác phẩm này, Kuznets có chú ý tới mối quan hệ giữa tổng sản phẩm quốc dân bình quân ñầu người và sự bất bình ñẳng trong phân phối thu nhập. Trong cuốn “Kinh tế học của các nước phát triển”, (Nhà xuất bản Thống kê, 1998) [42] E.Wayne Nafziger ñã phân tích khá cụ thể sự nghèo ñói và bất công về thu nhập ở các nước ñang phát triển, xác ñịnh các nhóm nghèo ñói, nguyên nhân nghèo ñói, tình hình nghèo ñói ở khu vực nông thôn, tình hình nghèo ñói theo giới, hậu quả của tình trạng nghèo ñói và các chính sách biện pháp giảm nghèo. Còn Sachwald, Denis Cogneau và Jean Pierre Cling trong cuốn “Chính sách và chiến lược giảm bất bình ñẳng và nghèo khổ” (sách dịch- NXB Chính trị quốc gia 2003) ñã phân tích mối quan hệ giữa toàn cầu hoá, bất bình ñẳng và nghèo khổ; những hạn chế của các sáng kiến quốc tế mới trong việc giảm ñói nghèo.
Tác giả Khan, Mahmood Hasan năm 2001 có cuốn “Rural poverty in developing countries: Implication for public policy” [137] thì lại ñi sâu phân tích về sự nghèo ñói ở vùng nông thôn các quốc gia ñang phát triển, về các dạng người nghèo, tài sản của người nghèo, nguyên nhân của sự nghèo ñói, các chính sách XðGN & các yếu tố cần thiết trong chính sách XðGN. Trong khi Dollar, D. với cuốn “Growth is Good for the Poor”, (Journal of Economic Growth, 2002) [133], lại nghiên cứu trên 92 quốc gia qua bốn thập kỷ về thu nhập bình quân của nhóm nghèo nhất tăng tương ứng với thu nhập trung bình và nhấn mạnh tầm quan trọng của TTKT với XðGN ñể cho thấy thu nhập bình quân của nhóm nghèo nhất tăng tương ứng với thu nhập trung bình ở các nước này ñược giữ ở khu vực, thời gian, mức thu nhập và tỷ lệ tăng trưởng. Tuy các 9 tác giả ñã xem xét một số yếu tố thường không cân ñối lợi ích người nghèo nhất trong xã hội, nhưng lại thấy rất ít bằng chứng tác dụng của chúng.
Năm 2004, Chen, Martha Alter và các cộng sự với nghiên cứu “Mainstreaming informal employment and gender in poverty reduction: A handbook for policy - makers and other stakeholders” [138] ñã ñề cập ñến chiến lược XðGN ở khía cạnh công việc, nghề nghiệp của các thành phần lao ñộng tự do, chủ yếu là những người nghèo. Tác ñộng của sự thay ñổi bối cảnh kinh tế ñối với các thành phần lao ñộng tự do. Sự liên quan giữa nghề nghiệp của nghèo ñói & giới tính ñối với vấn ñề PTKT toàn cầu. Cuốn sách ñã chỉ ra nền tảng của mối quan hệ trong việc tăng cường hệ thống hướng dẫn chi tiết chiến lược giảm nghèo, qua ñó xây dựng chính sách và ñánh giá tác ñộng của chính sách ñối với các nước nghèo.
Phân tích thực tiễn chính sách và kết quả thu ñược ở một số nước Anbani, Bolivia, Guyana, Honduras. Còn Dillinger, William trình bày trong Báo cáo của WB về PTKT vùng, XðGN: “Poverty and regional development in Eastern Europe and central Asia” [147] thể các nghiên cứu thực tế XðGN thúc ñẩy kinh tế nông thôn phát triển, TTKT, giảm tỷ lệ di dân.