Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. 12 Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, tầm nhìn đến năm 2030. 13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 1.
Hộ kinh doanh 1. Khái niệm hộ kinh doanh Thuật ngữ hộ kinh doanh là thuật ngữ thường được sử dụng nhiều ở lĩnh vực khoa học pháp lý và kinh tế học. Đây là thuật ngữ mang yếu tố lịch sử và nội hàm thuật ngữ này được hiểu khác nhau ở các quốc gia. Ở Việt Nam, thuật ngữ này thường được giải thích từ góc độ pháp lý.
Tên gọi và nội hàm của thuật ngữ này được thay đổi gắn liền với quá trình thay đổi của hệ thống pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp và thương mại. Trong đó thuật ngữ được hiểu qua các văn bản pháp lý và giai đoạn sau đây: Một là, giai đoạn trước năm 2006 Ở giai đoạn này sử dụng thuật ngữ hộ kinh doanh cá thể và được đề cập cụ thể trong hai văn bản là Nghị định số 02/2000/NĐ- CP ngày 03/02/2000 về đăng ký kinh doanh và Nghị định số 109/2004/NĐ- CP ngày 02/4/2004 về đăng ký kinh doanh. Trong đó, Nghị định số 109/2004/NĐ- CP đã giải thích “Hộ kinh doanh cá thể là chủ thể kinh doanh do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản đối với hoạt động kinh doanh của mình”[5]. Hai là, giai đoạn từ năm 2006 đến 2020 Đây là giai đoạn pháp luật về doanh nghiệp được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp năm 2014 Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 về việc đăng ký kinh doanh và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 14 năm 2015 về đăng ký kinh doanh.
Theo đó, thuật ngữ này được sử dụng chính thức là hộ kinh doanh. Tuy nhiên, ở giai đoạn này mặc dù thuật ngữ này được sử dụng nhưng chưa được định nghĩa và giải thích. Điều 66 của Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 về đăng ký doanh nghiệp, theo đó: “Hộ kinh doanh là chủ thể knh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người làm chủ, bao gồm các cá nhân là công dân có quốc tịch Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định pháp luật, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm toàn bộ tài sản đối với hoạt động kinh doanh”[6]. Như vậy, chủ thể là cá nhân hoặc nhóm người hoặc hộ gia đình.
Ba là, giai đoạn từ năm 2021 đến nay Đây là giai đoạn, pháp luật về doanh nghiệp được điều chỉnh bởi Luật Doamh nghiệp năm 2020 và Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2021 về đăng ký kinh doanh. Trong Nghị định này cũng không định nghĩa chính thức về hộ kinh doanh, tuy nhiên tại Khoản 1, Điều 79 của Nghị định này có giải thích “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ”[7]. Theo quy định này thì hộ gia đình là do cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình (không có đối tượng là nhóm người). Như vậy, thuật ngữ hộ kinh doanh mặc dù đã được đề cập trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Tuy nhiên, hiện nay thuật ngữ này cũng chưa được luận giải một cách đầy đủ và chính thức. Các cách tiếp cận về hộ kinh doanh thường được giải thích từ góc độ các đặc điểm về địa vị pháp lý của hộ kinh doanh được đề cập trong các văn bản quy phạm pháp luật. 15 Hiện nay, hộ kinh doanh cũng là chủ thể kinh doanh nhưng có sự khác biệt nhất định với doanh nghiệp. Trên cơ sở các quy định pháp lý, có thể phân biệt hộ kinh doanh với doanh nghiệp như sau: Bảng 1.1: So sánh sự khác biệt giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp Tiêu chí Hộ kinh doanh Doanh nghiệp Cá nhân, thành viên Chủ thể Cá nhân, tổ chức hộ gia đình Lớn Nhỏ (có thể thành lập các chi (một địa điểm, sử dụng dưới Quy mô nhánh, sử dụng nhiều lao mười lao động) động) Được tự do kinh doanh Kinh doanh một ngành, nghề Phạm vi trong những ngành, nghề đã đăng ký theo Giấy chứng hoạt động mà luật không cấm (không nhận đăng ký hộ kinh doanh.
giới hạn quy mô) Tƣ cách Không có Có pháp nhân Thủ tục Đơn giản Phức tạp thành lập 16 Đơn giản Pháp luật quy định chặt chẽ, Cơ cấu tổ (bao gồm chủ hộ tùy theo từng loại hình chức và các thành viên) doanh nghiệp Trách nhiệm vô hạn và hữu hạn - Vô hạn: oanh nghiệp tư Chịu trách nhiệm vô hạn nhân và công ty Hợp danh Trách nhiệm - Hữu hạn: các loại hình doanh nghiệp khác Không bắt buộc, trừ trường Bắt buộc đăng ký kinh Về đăng ký hợp kinh doanh ở những doanh kinh doanh ngành nghề có điều kiện Nguồn: Tổng hợp của tác giả luận văn. Như vậy, có thể hiểu hộ kinh doanh là một chủ thể kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Phân loại Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại hộ kinh doanh, trong đó có các tiêu chí phân loại sau: Thứ nhất, phân loại theo lĩnh vực hoạt động Căn cứ vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh thì hộ kinh doanh có thể hoạt động ở nhiều lĩnh vực khác nhau như nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ lẻ. 17 Thứ hai, phân loại theo quy mô Theo quy mô sản xuất, kinh doanh, hộ kinh doanh thì chia thành 2 nhóm: Nhóm hộ kinh doanh quy mô nhỏ lẻ (hộ kinh doanh cá thể) và Nhóm hộ kinh doanh quy mô lớn.
Nhóm hộ kinh doanh quy mô nhỏ lẻ là hộ kinh doanh có doanh thu kinh doanh theo năm dương lịch là dưới 100 triệu (quy định khoản 2 Điều 4 Thông tư 40/2021/TT-BTC)[3]. Nhóm hộ kinh doanh quy mô lớn là những hộ kinh doanh có quy mô lớn trên các phương diện như doanh thu, lực lượng lao động sử dụng (nhưng chưa đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp theo quy định pháp luật). Thứ ba, phân loại theo chủ thể Căn cứ vào chủ thể của hộ kinh doanh có thể chia thành 2 nhóm: cá nhân phụ trách hộ kinh doanh và hộ gia đình phụ trách hộ kinh doanh. Đặc điểm Là một chủ thể kinh doanh, hộ kinh doanh sẽ mang những đặc điểm chung của chủ thể kinh doanh như là chủ thể của pháp luật kinh doanh được tổ chức dưới một hình thức nhất định; được cấp giấy chứng nhận kinh doanh; hoạt động theo khuôn khổ pháp luật; mục tiêu hoạt động là lợi nhuận; thực hiện hoạt động kinh doanh một cách thường xuyên.
Bên cạnh những đặc điểm chung của chủ thể kinh doanh, hộ kinh doanh cũng có một số đặc điểm riêng biệt như sau: Một là, đặc điểm về chủ thể Hộ kinh doanh do cá nhân hoặc hộ gia đình thành lập để hoạt động. Hộ kinh doanh thuộc sở hữu của cá nhân hoặc hộ gia đình. Cá nhân/hộ gia đình là 18 người đầu tư vốn, tài sản để thành lập và duy trì hoạt động. Các chủ thể này có quyền quyết định hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh.
Hai là, đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh Thông thường quy mô hoạt động của hộ kinh doanh sẽ nhỏ hơn nhiều so với các loại hình doanh nghiệp. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ kinh doanh thường mang tính nhỏ lẻ. Số lượng người lao động tham gia cũng thường ít (sử dụng dưới 10 lao động). Hộ kinh doanh thường hoạt động ở một số lĩnh vực đơn giản như tạp hóa, nấu ăn, trông xe, nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối… Hoạt động không mang tính bài bản, tổ chức cơ cấu không yêu cầu tính phức tạp cao như các loại hình doanh nghiệp.
Hộ kinh doanh cũng chỉ hoạt động ở một địa điểm thống nhất (doanh nghiệp có thể hoạt động ở nhiều địa điểm khác nhau, có thể thành lập chi nhánh,…) Ba là, đặc điểm về tư cách pháp nhân Xét về tư cách pháp nhân, Bộ Luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp đã khẳng định hộ kinh doanh được xác định là chủ thể kinh doanh mà không có tư cách pháp nhân. Tính chất pháp lý của hộ kinh doanh giống với doanh nghiệp tư nhân là đều không có tư cách pháp nhân. Hộ kinh doanh không yêu cầu chặt chẽ về cơ cấu tổ chức so với các doanh nghiệp. Tài sản của hộ kinh doanh có sự nhập nhằng/không tách biệt hoàn toàn với tài sản của chủ hộ.
Và hộ kinh doanh cũng chịu trách nhiệm vô hạn. Hộ kinh doanh không thỏa mãn các điều kiện của Doanh nghiệp được quy định tại Khoản 10 Điều 4 Luật doanh nghiệp Việt Nam 2020. Cụ thể như sau[25]: - Hộ kinh doanh không có con dấu (doanh nghiệp có con dấu). 19 - Hộ kinh doanh không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ.
- Hộ kinh doanh không có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức mà tài sản đó là tài sản của chủ hộ kinh doanh. Bốn là, đặc điểm về trách nhiệm pháp lý Do không phân định tài sản của hộ kinh doanh và chủ hộ nên hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn. Theo đó, chủ hộ phải chịu toàn bộ trách nhiệm đối với khoản nợ/tài chính phát sinh. Vai trò của hộ kinh doanh Hộ kinh doanh là một thành phần của nền kinh tế nên có vai trò đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế xã hội.
Vai trò của hộ kinh doanh thể hiện trên các khía cạnh sau đẩy: Thứ nhất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của quốc gia và địa phương Hộ kinh doanh sẽ đóng góp quan trọng vào nền kinh tế quốc gia. Là một quốc gia đang phát triển nên số lượng hộ kinh doanh là rất lớn. Vì vậy, đóng góp ngân sách của hộ kinh doanh vào ngân sách nhà nước là rất lớn. Hộ kinh doanh góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Hộ kinh doanh trực tiếp sản xuất, kinh doanh tạo ra các hàng hóa, của cải vật chất để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của quốc gia.