Tổng quan luận án
Công trình "Quá trình thực hiện xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Sơn La (1998 - 2015)" là luận án tiến sĩ Sử học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số 92 29 013), do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Tú thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đinh Quang Hải và TS. Trần Thị Phương Hoa, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2021.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Xóa đói giảm nghèo (XĐGN) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong tiến trình đổi mới. Từ năm 1998, XĐGN chính thức được xác định là chương trình mục tiêu quốc gia, giữ vai trò thước đo cho sự phát triển bền vững và công bằng xã hội. Sơn La là tỉnh miền núi phía Tây Bắc, có đường biên giới giáp Lào và vị trí chiến lược về quốc phòng - an ninh, là nơi cư trú của 12 dân tộc. Mặc dù địa phương đã nỗ lực thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, song đến năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo tại Sơn La vẫn ở mức cao so với bình quân khu vực và cả nước: toàn tỉnh còn 5/12 huyện nghèo, 102/204 xã và 1.708 bản thuộc diện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Về mặt khoa học lịch sử, các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận vấn đề theo từng vụ việc, địa bàn hẹp hoặc theo chuyên ngành kinh tế, xã hội học. Do đó, việc nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện và có hệ thống theo tiến trình lịch sử về quá trình thực hiện XĐGN tại tỉnh Sơn La trong giai đoạn 1998 - 2015 là yêu cầu cấp thiết nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định chính sách.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ quá trình thực hiện XĐGN ở tỉnh Sơn La từ năm 1998 đến năm 2015; đưa ra những nhận xét, đánh giá và đúc kết những kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho công cuộc XĐGN ở Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Sưu tầm, hệ thống hóa các công trình nghiên cứu gián tiếp và trực tiếp liên quan đến đề tài; trên cơ sở đó nhận xét về kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục làm rõ.
- Làm rõ những chủ trương, chính sách, chương trình, dự án hỗ trợ của Đảng, Nhà nước và Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Sơn La về XĐGN được triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh từ năm 1998 đến năm 2015.
- Làm rõ quá trình triển khai và kết quả thực hiện XĐGN qua hai giai đoạn 1998 - 2005 và 2006 - 2015.
- Nhận xét ưu điểm, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện XĐGN ở tỉnh Sơn La từ năm 1998 đến năm 2015.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình thực hiện XĐGN ở tỉnh Sơn La từ năm 1998 đến năm 2015.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các chủ trương, chính sách, chương trình, dự án hỗ trợ XĐGN; quá trình triển khai thực hiện (công tác chỉ đạo, tổ chức, điều hành, tuyên truyền, huy động nguồn lực, rà soát hộ nghèo, giám sát); kết quả đạt được về tỷ lệ hộ nghèo và các mặt kinh tế - xã hội; nhận xét ưu điểm, hạn chế và đúc kết kinh nghiệm.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1998 đến năm 2015. Năm 1998 là mốc Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo trên cả nước; năm 2015 là mốc kết thúc giai đoạn thực hiện đo lường nghèo đơn chiều để chuyển sang chuẩn nghèo đa chiều. Đồng thời, luận án có đề cập khái quát bối cảnh trước năm 1998 để làm cơ sở so sánh.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Sơn La gồm 11 huyện (Bắc Yên, Mai Sơn, Mộc Châu, Mường La, Phù Yên, Quỳnh Nhai, Sông Mã, Sốp Cộp, Thuận Châu, Vân Hồ, Yên Châu) và 1 thành phố (Sơn La).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan và phân loại hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan thành 3 nhóm công trình chính:
Các công trình nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
- Nghiên cứu chung về thực trạng, chính sách và lý luận: Nguyễn Thị Hằng (1997) với Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay (Nxb Chính trị quốc gia); Vũ Thị Ngọc Phùng (1999) với Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia); Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang, Nguyễn Hữu Tiến, Lê Xuân Đình (2001) với Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam (Nxb Nông nghiệp); Trần Thị Hằng (2001) với Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay (Nxb Thống kê); Hà Quế Lâm (2002) với Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay: Thực trạng và giải pháp (Nxb Chính trị Quốc gia); Lê Quốc Lý (2012) với Chính sách xóa đói giảm nghèo: Thực trạng và giải pháp (Nxb Chính trị Quốc gia); Nguyễn Thị Hoa (2010) với Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam đến năm 2015 (Nxb Thông tin và Truyền thông).
- Báo cáo của các tổ chức và viện nghiên cứu: Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2002) về Toàn cầu hóa, tăng trưởng, và nghèo đói và Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam (2012); Báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với UNDP (2004) về đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia và Chương trình 135; Báo cáo của Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2011) về Giảm nghèo ở Việt Nam: Thành tựu và thách thức; Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng, Lê Hoài Trung, Robert Leroy Bach (2005) với Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam (Nxb Thế giới).
- Nghiên cứu trên các tạp chí và luận án: Lê Phượng (2000), Nguyễn Khánh Bích Trâm (2001), Đỗ Thiên Kính (2002), Lương Hồng Quang (2002), Nguyễn Thu Nguyệt (2004), Nguyễn Hữu Minh và Nguyễn Xuân Mai (2004), Nguyễn Hữu Minh (2006), Nguyễn Đình Tấn (2007), Phùng Thị Tố Hạnh (2011), Nguyễn Anh Cường và Phạm Quốc Thành (2014), Đặng Nguyên Anh và Trần Nguyệt Minh Thu (2017). Về luận án có: Lương Thị Hồng (2015, Luận án TS Sử học), Vũ Thanh Hoa (2016, Luận án TS Kinh tế), Phạm Thu Hằng (2018, Luận án TS Kinh tế).
Các công trình nghiên cứu về kinh tế - xã hội và XĐGN ở miền núi phía Bắc
- Sách chuyên khảo: Lê Duy Phong, Hoàng Văn Hoa, Nguyễn Thành Độ, Vũ Thành Hưởng (1999) với Kinh tế thị trường và sự phân hoá giàu - nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay (Nxb Chính trị Quốc gia); Ủy ban Dân tộc (2006) với Phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam; Trần Thị Hồng Yến (chủ biên, 2018) về biến đổi văn hóa, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Mai Hiên và Đào Minh Ngọc (2019) về phát triển du lịch gắn với giảm nghèo bền vững.
- Luận án và bài báo: Lê Minh Anh (2006, nghiên cứu người Nùng tại Lạng Sơn); Trần Thị Thu Thủy (2010, Luận án TS Kinh tế); Nguyễn Thị Nhung (2013, Luận án TS Kinh tế về Tây Bắc); Nguyễn Thanh Hải (2014, Luận án TS Kinh tế); Hoàng Thanh Đạm (2014, Luận văn ThS Kinh tế về huyện Đồng Văn, Hà Giang); Giàng Thị Dung (2015, Luận án TS Kinh tế về Lào Cai); Trần Lê Thanh (2015, Luận án TS Lịch sử Đảng); Nguyễn Đức Thắng (2016, Luận án TS Quản lý Hành chính công); Đoàn Thị Hân (2017, Luận án TS Kinh tế).
Các công trình nghiên cứu trực tiếp về tỉnh Sơn La
- Phạm Xuân Đại (1998) và Bế Văn Hậu (1999) nghiên cứu xã hội học về di dân và mức sống tại xã Cò Nòi; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La, tập 3 (1976-2000) (Nxb Chính trị Quốc gia, 2005); Hoàng Chí Thức (2005, 2007); Lê Minh Anh (2006, nghiên cứu người Khơ Mú tại xã Chiềng Lương, huyện Mai Sơn); Cầm Văn Đoản (2007); Lê Minh Phong (2007); Lê Anh Xuân (2007); Lê Đình Thái (2007); Bộ sách Địa chí Sơn La (2 tập, Nxb Chính trị quốc gia, 2020).
- Hệ thống luận án về Sơn La: Nguyễn Cao Thịnh (2009, TS Kinh tế); Lương Thu Thủy (2011, TS Kinh tế); Vũ Tú Quyên (2012, TS Lịch sử về người La Ha tại Mộc Châu); Phạm Quang Linh (2017, TS Nhân học về tái định cư thủy điện Sơn La); Tống Thanh Bình (2017, TS Sử học về kinh tế - xã hội Sơn La thời kỳ 1895-1945).
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Mặc dù các công trình đi trước đã cung cấp nguồn tư liệu phong phú, song phần lớn tiếp cận dưới góc độ ngành kinh tế, xã hội học, nhân học hoặc chỉ khảo sát trong phạm vi một huyện, một xã, một nhóm dân tộc cụ thể. Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, tổng thể và có hệ thống dưới góc độ Sử học về toàn bộ tiến trình thực hiện chính sách XĐGN trên địa bàn tỉnh Sơn La xuyên suốt giai đoạn 1998 - 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung phân tích
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo. Khung phân tích xem xét sự chuyển biến đời sống của hộ nghèo trong mối quan hệ biện chứng với sự vận hành của các chính sách, dự án hỗ trợ qua các giai đoạn lịch sử cụ thể.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình thực hiện XĐGN tại tỉnh Sơn La một cách khách quan, toàn diện và có hệ thống theo trình tự thời gian qua hai giai đoạn 1998 - 2005 (Chương 2) và 2006 - 2015 (Chương 3).
- Phương pháp logic: Phân tích các mối liên hệ bản chất, đánh giá ưu điểm, hạn chế, xác định nguyên nhân và khái quát các bài học kinh nghiệm trong Chương 4.
- Các phương pháp bổ trợ:
- Phương pháp so sánh: So sánh giữa hai giai đoạn thực hiện (1998-2005 và 2006-2015); so sánh các chỉ số giảm nghèo, thu nhập giữa Sơn La với các tỉnh có nét tương đồng trong vùng Tây Bắc (Lào Cai, Điện Biên).
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích, thẩm định các nguồn tài liệu lưu trữ, văn kiện, báo cáo tổng kết để đưa ra những nhận định tổng quát.
- Phương pháp thống kê: Xử lý các chuỗi số liệu về tỷ lệ hộ nghèo, nguồn vốn, công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội.
- Phương pháp chuyên gia: Tiếp thu ý kiến đóng góp từ các nhà nghiên cứu chuyên sâu về chính sách công và kinh tế - xã hội.
- Phương pháp khảo sát thực địa và phỏng vấn: Tiến hành khảo sát thực tế và phỏng vấn cán bộ, người dân thụ hưởng chính sách tại 5 huyện nghèo của tỉnh Sơn La: Quỳnh Nhai, Mường La, Phù Yên, Bắc Yên, Sốp Cộp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ và các bộ ngành liên quan đến XĐGN (Chỉ thị 23-CT/TW năm 1997, Quyết định 133/1998/QĐ-TTg, Quyết định 135/1998/QĐ-TTg, Quyết định 143/QĐ-TTg năm 2001, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP).
- Các nghị quyết, văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Sơn La (khóa IX, X, XI, XII, XIII), báo cáo định kỳ và chuyên đề của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, các Sở, Ban, ngành và UBND các huyện, xã thuộc tỉnh Sơn La.
- Số liệu thống kê chính thức từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Sơn La, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
- Nguồn tư liệu từ các công trình nghiên cứu đã xuất bản và dữ liệu điều tra thực địa của tác giả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học theo 3 nhóm vấn đề: các công trình nghiên cứu về XĐGN tại Việt Nam; các nghiên cứu về kinh tế - xã hội và XĐGN tại miền núi phía Bắc; các công trình nghiên cứu trực tiếp về tỉnh Sơn La. Trên cơ sở phân tích kết quả của các công trình đã công bố về mặt tư liệu, nội dung và phương pháp luận, tác giả khẳng định khoảng trống khoa học cần giải quyết. Chương này xác định rõ 4 nội dung trọng tâm mà luận án cần thực hiện: làm rõ nguyên nhân nghèo đói và thực trạng trước năm 1998; hệ thống hóa chủ trương, chính sách giai đoạn 1998 - 2015; tái hiện quá trình triển khai và kết quả qua hai giai đoạn lịch sử; rút ra các đánh giá khách quan và bài học kinh nghiệm.
Chương 2: Thực hiện xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Sơn La từ năm 1998 đến năm 2005
Chương 2 trình bày các quan niệm về đói nghèo, chuẩn nghèo ở Việt Nam và phân tích bối cảnh, thực trạng đói nghèo của tỉnh Sơn La trước năm 1998. Sơn La có diện tích tự nhiên 14.125 km² (chiếm 4,27% diện tích cả nước), địa hình chia cắt mạnh, 97% diện tích thuộc lưu vực sông Đà và sông Mã. Dân số gồm 12 dân tộc (Thái chiếm 54%, Kinh 18%, Mông 12%, Mường 8,4%, Dao 2,5%, còn lại là Khơ Mú, Xinh Mun, Kháng, La Ha, Lào, Tày, Hoa).
Thời điểm năm 1998, toàn tỉnh có 60 xã vùng III với 30.896 hộ (206.538 nhân khẩu), trong đó số hộ đói nghèo là 14.572 hộ (chiếm 47,2%), số khẩu đói nghèo là 97.276 người. Huyện Sông Mã có số nhân khẩu nghèo cao nhất, tiếp đến là Thuận Châu và Mộc Châu. Đất nông nghiệp ở các xã vùng III chỉ chiếm 7,33% (47.801 ha), năng suất lương thực bình quân đạt 200 kg thóc/người/năm (chỉ đáp ứng 67% nhu cầu), 30 - 40% số hộ thiếu ăn từ 3 đến 5 tháng. Thu nhập bình quân vùng cao đạt khoảng 500 nghìn đồng/người/tháng. Cơ sở hạ tầng rất yếu kém: 38 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm, chỉ 6% số hộ có điện sinh hoạt, 70% trạm y tế xã là nhà tre gỗ nứa, tỷ lệ mù chữ ở độ tuổi 15 - 35 là 30%.
| Chỉ tiêu thống kê trước năm 1998 tại các xã vùng III tỉnh Sơn La |
Số liệu phản ánh trong luận án |
| Số xã vùng III đặc biệt khó khăn |
60 xã |
| Tổng số hộ / Tổng số nhân khẩu vùng III |
30.896 hộ / 206.538 nhân khẩu |
| Tỷ lệ hộ đói nghèo / Số nhân khẩu đói nghèo |
47,2% (14.572 hộ) / 97.276 người |
| Tỷ trọng đất nông nghiệp / đất chưa sử dụng |
7,33% (47.801 ha) / 71,68% (467.134 ha) |
| Tỷ lệ trạm y tế xã xây bằng tranh tre nứa lá |
70% |
| Tỷ lệ mù chữ ở dân số từ 6 tuổi trở lên |
Gần 40% (độ tuổi 15-35 chiếm 30%) |
Giai đoạn 1998 - 2005, tỉnh triển khai Chương trình 133/1998/QĐ-TTg, Chương trình 135/1998/QĐ-TTg (năm 1998 có 52 xã thuộc 7 huyện trọng điểm được thụ hưởng, nhiều nhất là Sông Mã với 14 xã) và Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN giai đoạn 2001 - 2005 theo Quyết định 143/2001/QĐ-TTg. Các chính sách bao gồm: tín dụng ưu đãi, hỗ trợ y tế, giáo dục, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, định canh định cư và khuyến nông - lâm. Kết quả thực hiện giai đoạn này đã giúp giảm mạnh tỷ lệ hộ đói nghèo, giải quyết việc làm thông qua Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm, hạ tầng nông thôn miền núi từng bước được cải thiện.
Chương 3: Thực hiện xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Sơn La từ năm 2006 đến năm 2015
Chương 3 phân tích quá trình thực hiện XĐGN trong bối cảnh chuẩn nghèo được nâng cao qua hai giai đoạn 2006 - 2010 và 2011 - 2015. Đây là giai đoạn Sơn La đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ lớn: Chương trình 135 giai đoạn II, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 5 huyện nghèo (Quỳnh Nhai, Mường La, Phù Yên, Bắc Yên, Sốp Cộp), cùng công tác di dân tái định cư phục vụ xây dựng Nhà máy Thủy điện Sơn La.
Chính quyền tỉnh tập trung huy động các nguồn lực tài chính, thực hiện các nhóm giải pháp: hỗ trợ phát triển sản xuất nông lâm nghiệp hàng hóa, đào tạo nghề, chế độ cử tuyển đào tạo học sinh dân tộc thiểu số nghèo (2011-2015), chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo (Chương trình 167), bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm liên tục theo từng năm, thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành được nâng lên, thu hẹp khoảng cách phát triển khi so sánh với các tỉnh lân cận như Điện Biên, Lào Cai.
Chương 4: Nhận xét và một số kinh nghiệm
Chương 4 tổng kết các mặt ưu điểm, hạn chế, chỉ ra nguyên nhân và đúc kết 5 bài học kinh nghiệm:
- Ưu điểm: Hệ thống chính sách được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh; kết cấu hạ tầng vùng đồng bào dân tộc thiểu số có bước phát triển rõ rệt; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao; an ninh trật tự khu vực biên giới được giữ vững.
- Hạn chế: Kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao; chênh lệch mức sống giữa các vùng, các dân tộc còn lớn (đặc biệt giữa vùng cao biên giới và vùng dọc quốc lộ 6); một số dự án đầu tư còn dàn trải, hiệu quả chưa cao; năng lực của một bộ phận cán bộ cơ sở còn hạn chế; tâm lý ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước ở một bộ phận người dân chưa được xóa bỏ hoàn toàn.
- Kinh nghiệm lịch sử rút ra:
- Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy Đảng, phát huy vai trò điều hành của chính quyền và sự tham gia của các tổ chức đoàn thể; coi XĐGN là nhiệm vụ chính trị trọng tâm.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, khơi dậy ý chí tự lực vươn lên thoát nghèo của người dân, khắc phục triệt để tư tưởng trông chờ, ỷ lại.
- Lồng ghép có hiệu quả nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án di dân tái định cư thủy điện với các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Xây dựng và thực thi chính sách phải bám sát đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế, văn hóa và phong tục tập quán của từng tộc người ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa.
- Chú trọng đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng thiết yếu gắn với chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, đào tạo nghề, giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Luận án là công trình chuyên khảo lịch sử đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và đầy đủ về quá trình thực hiện chính sách XĐGN tại tỉnh Sơn La trong suốt 17 năm (1998 - 2015).
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn cùng các tiêu chí đánh giá quá trình tổ chức thực hiện XĐGN ở một địa bàn miền núi đặc thù có đông đồng bào dân tộc thiểu số cư trú.
- Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử địa phương phong phú, chính xác và có độ tin cậy cao, phục vụ cho công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn La và vùng Tây Bắc.
Ý nghĩa thực tiễn và kiến nghị giải pháp
- Đúc kết các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn Sơn La, cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan Trung ương và lãnh đạo tỉnh Sơn La trong việc hoạch định chính sách, hoàn thiện các chương trình giảm nghèo đa chiều bền vững giai đoạn tiếp theo.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo: tăng cường phân cấp quản lý vốn, chuyển đổi phương thức hỗ trợ từ cho không sang hỗ trợ có điều kiện gắn với sinh kế cụ thể, đẩy mạnh liên kết sản xuất nông - lâm nghiệp theo chuỗi giá trị và chú trọng bảo tồn bản sắc văn hóa gắn với bài trừ hủ tục lạc hậu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu đến năm 2015 – thời điểm kết thúc chuẩn nghèo đơn chiều dựa trên tiêu chí thu nhập. Do đó, các biến động và kết quả giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều (giai đoạn 2016 - 2020 và sau đó) chưa được phân tích sâu trong công trình này.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục nghiên cứu quá trình thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững theo phương pháp tiếp cận đa chiều tại tỉnh Sơn La từ năm 2016 đến nay, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và chuyển đổi số đối với đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc.
Giá trị tham khảo
- Đối với các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý: Cung cấp cơ sở thực tiễn về những thuận lợi, rào cản và bài học kinh nghiệm khi thực hiện chính sách an sinh xã hội, phát triển hạ tầng và hỗ trợ tín dụng tại các địa bàn miền núi, biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử kinh tế, Xã hội học nông thôn và Dân tộc học.
- Phần đáng tham khảo nhất: Chương 2 và Chương 3 với hệ thống số liệu lưu trữ chi tiết về thực trạng đói nghèo, các chương trình hỗ trợ sản xuất, hạ tầng; Chương 4 với hệ thống các bài học kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn triển khai chính sách tại địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao tác giả lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 1998 đến năm 2015?
Tác giả chọn năm 1998 làm mốc khởi đầu vì đây là năm Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg chính thức phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo trên phạm vi cả nước. Mốc kết thúc năm 2015 được chọn vì đây là thời điểm kết thúc giai đoạn thực hiện giảm nghèo theo phương pháp tiếp cận đơn chiều (dựa trên thu nhập), tạo tiền đề chuyển sang giai đoạn đo lường nghèo đa chiều theo tiêu chuẩn mới.
2. Những nguyên nhân chính nào dẫn đến tình trạng đói nghèo tại tỉnh Sơn La trước năm 1998?
Luận án chỉ ra 7 nguyên nhân cơ bản:
- Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, địa hình chia cắt mạnh (97% thuộc lưu vực sông Đà, sông Mã), quỹ đất nông nghiệp ít (chỉ chiếm 7,33% diện tích tự nhiên ở xã vùng III), thiên tai thường xuyên xảy ra.
- Nền kinh tế chậm phát triển, mang nặng tính tự cung tự cấp, cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông, thủy lợi, điện) rất yếu kém.
- Dân cư phân bố không đồng đều giữa các vùng, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao (chiếm trên 80% dân số toàn tỉnh).
- Tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu, hủ tục trong cưới hỏi, ma chay, cúng tế tốn kém và thói quen du canh du cư.
- Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao (gần 40% dân số từ 6 tuổi trở lên trước 1998), dịch bệnh (sốt rét, bướu cổ) phổ biến.
- Người dân thiếu thông tin khoa học kỹ thuật, chính sách pháp luật và nguồn vốn sản xuất.
- Các chính sách hỗ trợ trước năm 1998 chưa đồng bộ, mang tính phong trào cục bộ.
3. Tỉnh Sơn La có những huyện nào thuộc diện huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP được tác giả khảo sát thực địa?
Theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ, tỉnh Sơn La có 5 huyện nghèo đặc biệt khó khăn, bao gồm: Quỳnh Nhai, Mường La, Phù Yên, Bắc Yên và Sốp Cộp. Đây cũng chính là 5 địa bàn được tác giả trực tiếp khảo sát thực địa và phỏng vấn nhân chứng để thu thập dữ liệu cho luận án.
4. Luận án đã sử dụng những nguồn tư liệu và phương pháp thực địa nào?
Tác giả đã khai thác các văn kiện của Đảng, quyết định của Chính phủ, tài liệu lưu trữ và báo cáo tổng kết hàng năm của Tỉnh ủy, HĐND, UBND, các Sở, Ban, ngành tỉnh Sơn La; số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Đồng thời, tác giả kết hợp phương pháp khảo sát thực địa, phỏng vấn trực tiếp cán bộ và các hộ dân thụ hưởng chính sách tại 5 huyện nghèo của tỉnh Sơn La.
5. Những bài học kinh nghiệm trọng tâm nào được rút ra từ thực tiễn XĐGN ở Sơn La?
Luận án đúc kết 5 kinh nghiệm: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền các cấp; nâng cao nhận thức để người dân tự vươn lên, xóa bỏ tâm lý ỷ lại; lồng ghép hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia và dự án tái định cư; xây dựng chính sách phù hợp với phong tục tập quán từng tộc người; đầu tư hạ tầng đồng bộ gắn với chuyển giao kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực cơ sở.
Kết luận
Luận án "Quá trình thực hiện xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Sơn La (1998 - 2015)" của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tú là công trình khoa học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, phản ánh có hệ thống tiến trình tổ chức thực hiện và kết quả của các chính sách XĐGN tại một tỉnh miền núi Tây Bắc. Dựa trên nguồn tài liệu lưu trữ tin cậy và khảo sát thực địa tại 5 huyện nghèo, luận án đã làm rõ những thành tựu đạt được về giảm tỷ lệ hộ nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời chỉ ra những mặt hạn chế và nguyên nhân của sự thiếu bền vững trong giảm nghèo. Các bài học kinh nghiệm được đúc kết từ công trình mang lại giá trị khoa học và thực tiễn thiết thực cho việc nghiên cứu lịch sử địa phương cũng như công tác hoạch định chính sách an sinh xã hội tại các vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam.