Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1. Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp 1. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp Trên thực tế hiện nay, có rất nhiều khái niệm về thất nghiệp được đưa ra bởi các tổ chức, nhà khoa học khác nhau. Ở một số các quốc gia phát triển khái niệm về thất nghiệp cũng được đưa ra.
Chẳng hạn như ở Cộng hòa Liên bang Đức, thất nghiệp được xem là NLĐ tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn. Hay ở Pháp, thất nghiệp được hiểu là tình trạng không có việc làm, đang đi tìm việc làm. Còn tại Trung Quốc, thất nghiệp lại được định nghĩa là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, chưa có việc làm, đang đi tìm việc làm và đăng ký tại cơ quan giải quyết việc làm. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), thất nghiệp được định nghĩa là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương thịnh hành.
Như vậy, với cách hiểu chung nhất, ta có thể hiểu thất nghiệp là tình trạng NLĐ muốn có việc làm mà không tìm được việc làm. Thất nghiệp có ảnh hưởng lớn không chỉ với chính người đang thất nghiệp mà còn đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội của nước. Tình trạng thất nghiệp sẽ tác động đến tăng trường kinh tế và lạm phát. Theo đó, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao đồng nghĩa với việc tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp, các nguồn lực từ con người sẽ không được sử dụng hết, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ.
Bên cạnh đó, việc thất nghiệp dẫn đến số lượng sản phẩm sản xuất ra ít hơn, làm giảm tính hiệu quả của sản xuất theo quy mô. Ngoài ra, thất nghiệp còn làm giảm nhu cầu xã hội. Hàng hóa và dịch vụ làm ra có mức tiêu thụ thấp, không có người tiêu dùng. Việc nhu cầu tiêu dùng ít đi so với việc làm ra, dẫn đến cơ hội đầu tư cũng ít hơn.
7 Thất nghiệp còn làm ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của NLĐ. Thất nghiệp lâu ngày, NLĐ sẽ không có khoản thu nhập ổn định, từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng không những đến chất lượng cuộc sống cá nhân họ mà còn ảnh hưởng đến toàn xã hội và nền kinh tế.Thất nghiệp còn gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội, an toàn xã hội. Các cá nhân không có việc làm sẽ gây ra tình trạng chán nản, bất lực, có những người vì như vậy mà tự tử. Thất nghiệp khiến NLĐ không có tiền, không có khả năng chi trả những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, từ đó gây ra tình trạng trộm cắp và các tệ nạn xã hội khác.
Có thể nói, tình trạng thất nghiệp là một trong những vấn đề nan giải, cần có những biện pháp và chính sách giải quyết thích hợp để giúp cải thiện, cân bằng đời sống xã hội. BHTN đã ra đời xuất phát từ nhu cầu đó. NLĐ tham gia BHTN sẽ được đảm bảo thu nhập trong thời gian họ bị mất việc làm, đảm bảo cho họ có được cuộc sống ổn định trong thời gian không được làm việc, không có thu nhập. Rất nhiều quốc gia đã xây dựng và thực hiện chế độ BHTN.
Cho đến nay đã có khoảng 70 quốc gia thực hiện chế độ BHTN như Anh (bắt đầu thực hiện năm 1911), Mỹ (1935), Italia (1937), Pháp (1958), Trung Quốc (1986)…BHTN cũng được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ kinh tế - xã hội, BHTN được hiểu là giải pháp nhằm khắc phục hậu quả của tình trạng thất nghiệp, giúp người thất nghiệp tạm thời đảm bảo cuộc sống và tìm kiếm việc làm thông qua việc tạo lập và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung. Quỹ này được hình thành do sự đóng góp của NLĐ và người sử dụng lao động (NSDLĐ), có sự hỗ trợ của Nhà nước, được sử dụng để trả trợ cấp cho người thất nghiệp, cũng như tiến hành các biện pháp nhằm nhanh chóng giúp người thất nghiệp có được việc làm mới. Khoản tiền trợ giúp trích từ quỹ BHTN nhằm đảm bảo cuộc sống cho NLĐ trong thời gian mất việc làm được gọi là trợ cấp thất nghiệp. Về mặt bản chất, tiền trợ cấp thất nghiệp được coi là hình thức bù đắp một phần sự mất mát thu nhập do hậu quả của tình trạng thất nghiệp và giúp người thất nghiệp học nghề, tìm kiếm việc làm mới.
8 Dưới góc độ pháp lý, chế độ BHTN là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định việc đóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi trả trợ cấp thất nghiệp để bù đắp thu nhập cho NLĐ bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp đưa người thất nghiệp trở lại làm việc. Như vậy, có thể hiểu trợ cấp thất nghiệp là một trong các chế độ của BHTN nhằm hỗ trợ NLĐ khi bị mất việc làm trên cơ sở đóng góp trước đó của NLĐ vào quỹ BHTN. Bên cạnh đó, BHTN còn thực hiện các biện pháp khác để hỗ trợ NLĐ tìm kiếm các cơ hội việc làm mới để tiếp tục tham gia thị trường lao động1. Khoản 4, điều 3 Luật Việc làm năm 2013 của Việt Nam có quy định: "Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp." Như vậy, BHTN là một trong những biện pháp hỗ trợ NLĐ, khi NLĐ bị mất việc làm.
Tuy nhiên, việc hỗ trợ này dựa trên cơ sở NLĐ đã đóng vào Quỹ BHTN trước đó. Việc hỗ trợ này không chỉ là một khoản thu nhập giúp ổn định cuộc sống của NLĐ trong thời gian thất nghiệp, mà còn hỗ trợ NLĐ học nghề, tìm kiếm việc làm, nhằm sớm đưa những người này tìm được công việc mới ổn định. Có thể thấy, BHTN là một loại hình bảo hiểm tiến bộ, không chỉ có ý nghĩa hỗ trợ NLĐ khi mất việc làm mà còn giúp ổn định nền kinh tế - xã hội, an ninh trật tự của một quốc gia. Chính vì vậy, trên thế giới BHTN thường được áp dụng đối với những nước có nền kinh tế thị trường.
Đặc điểm bảo hiểm thất nghiệp Bảo hiểm thất nghiệp là một loại bảo hiểm đặc biệt, nó không mang tính bắt buộc cụ thể nhưng cũng không phải là một loại bảo hiểm thương mại. BHTN có những đặc điểm khác với BHXH hay các loại bảo hiểm thương mại khác, những đặc điểm này được thể hiện thông qua đối tượng, mục đích, cơ chế quản lý… Cụ thể: 1. Xem Giáo trình Luật an sinh xã hội, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2013. 9 Về đối tượng: Đối tượng của BHTN không được xác định cụ thể hay dự tính chính xác như các loại BHXH khác.
Đối tượng của BHTN chủ yếu là những NLĐ đang bị mất việc làm, có nhu cầu tìm việc làm và còn khả năng lao động. NLĐ bị mất việc có nhiều nguyên nhân nên không thể dự tính trước được về số lượng này. Chính vì vậy, đối tượng được thụ hưởng loại bảo hiểm này thường ít hơn so với đối tượng phải nộp loại bảo hiểm này, đặc biệt là khi thị trường lao động ổn định. Về mục đích: Cũng giống như các chế độ bảo hiểm khác, BHTN cũng hướng tới việc bù đắp một phần nào đó về lợi ích cho đối tượng được bảo hiểm.
Tuy nhiên, BHTN ngoài việc giúp hỗ trợ về kinh tế đối với NLĐ bị mất việc còn giúp họ giới thiệu việc làm, đào tạo lại nghề để họ có thể quay trở lại và tham gia vào thị trường lao động. Với mục đích này, BHTN giúp đảm bảo lợi ích về an sinh xã hội, giúp phát triển nền kinh tế của đất nước. BHTN cũng khác với các loại bảo hiểm khác (như bảo hiểm thương mại) ở chỗ nó không nhằm mục đích lợi nhuận, sinh lời mà chỉ mang mục đích bù đắp một phần về lợi ích đối với đối tượng người được thụ hưởng. Và đây cũng là một chế độ bảo hiểm ngắn hạn.
Về cơ chế quản lý và tổ chức thực hiện của BHTN: Thực hiện quản lý BHTN khác hẳn với các loại bảo hiểm khác. Trong thực tế, việc thực hiện đăng ký, thống kê và phân loại người thất nghiệp để rồi đưa ra những biện pháp hỗ trợ phù hợp với từng đối tượng NLĐ bị thất nghiệp là khá khó khăn. Chưa kể, việc hình thành quỹ BHTN cũng khác với các loại hình bảo hiểm khác. Không phải NLĐ nào muốn đóng BHTN cũng có thể đóng, nếu không có việc làm, ký hợp đồng lao động với các cơ sở kinh tế đáp ứng được điều kiện tham gia BHTN thì NLĐ cũng không thể đóng BHTN.
Không như quỹ hưu trí hay quỹ bảo hiểm y tế (BHYT), chỉ cần NLĐ góp một phần quỹ sau một thời gian hoặc một trường hợp nhất định sẽ được hưởng. BHTN chỉ xuất hiện khi NLĐ thất nghiệp. BHTN không chi trả dài hạn như bảo hiểm hưu trí mà chỉ trả trong một thời hạn nhất định. Bên cạnh hỗ trợ về vật chất, BHTN còn giúp NLĐ tham gia đào tạo, học 10 tập và tìm cơ hội việc làm mới tốt hơn nên thực hiện BHTN cần có sự tham gia của nhiều chủ thể như cơ quan BHXH, trung tâm dịch vụ việc làm… 1.
Vai trò, ý nghĩa của bảo hiểm thất nghiệp - Đối với người lao động: Bảo hiểm thất nghiệp giúp NLĐ và gia đình họ ổn định thu nhập, trang trải một phần chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của NLĐ cùng gia đình. Bên cạnh đó, BHTN còn giúp NLĐ có cơ hội được học nghề, tìm kiếm những công việc mới phù hợp với họ, để họ có nền tảng phát triển, phấn đấu vươn lên. Bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện sẽ bảo vệ NLĐ, tạo ra chỗ dựa về vật chất và tinh thần cho NLĐ khi lâm vào tình trạng mất việc làm. Việc thừa nhận sức lao động là hàng hóa trong nền kinh tế thị trường một mặt thúc đẩy sự phát triển năng động của thị trường lao động, mặt khác cũng tạo ra hậu quả là tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, giá cả sức lao động bị hạ thấp do ảnh hưởng của cung, cầu trên thị trường lao động.
Trong điều kiện cạnh tranh khắc nghiệt, số lượng các doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản cũng tăng lên, kéo theo là tình trạng mất việc làm của hàng loạt NLĐ.