Pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện từ thực tiễn huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

Phân tích sâu sắc thực tiễn pháp luật BHXH tự nguyện tại huyện Thanh Miện, Hải Dương. Đánh giá những vướng mắc và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách.

Trường đại học

Trường Đại học Hòa Bình

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

90
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Việt Nam

Bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, người lao động tự nguyện tham gia và được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng. Pháp luật BHXHTN được quy định chủ yếu tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đối tượng tham gia BHXHTN là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. Các chế độ hiện hành bao gồm chế độ hưu trí và tử tuất. So với nhiều quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, mô hình BHXHTN của Việt Nam có những đặc trưng riêng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội. Pháp luật quy định mức đóng linh hoạt, tạo điều kiện cho người lao động thu nhập thấp tiếp cận hệ thống an sinh xã hội. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực tế tại các địa phương, đặc biệt tại huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, vẫn đặt ra nhiều thách thức cần được nghiên cứu và giải quyết.

1.1. Khái niệm và bản chất của bảo hiểm xã hội tự nguyện

BHXHTN là hình thức bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức, người lao động được quyền lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập. Bản chất của BHXHTN mang tính chất hỗ trợ, chia sẻ giữa những người tham gia, hướng tới mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động tự do. Khác với BHXH bắt buộc, BHXHTN không ràng buộc bởi quan hệ lao động, tạo điều kiện cho nông dân, lao động phi chính thức tham gia hệ thống bảo hiểm. Đây là công cụ quan trọng để mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội.

1.2. Khung pháp lý điều chỉnh bảo hiểm xã hội tự nguyện

Khung pháp lý về BHXHTN bao gồm Luật Bảo hiểm xã hội 2014, Nghị định 134/2015/NĐ-CP và các thông tư hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Luật quy định rõ về đối tượng tham gia, mức đóng bằng 22% mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn. Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ khác nhau tùy thuộc vào đối tượng: hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng khác. Các quy định về thủ tục, hồ sơ cũng được hướng dẫn chi tiết nhằm tạo thuận lợi cho người tham gia.

II. Thực trạng pháp luật BHXH tự nguyện tại huyện Thanh Miện Hải Dương

Huyện Thanh Miện là địa phương có tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Thực tế triển khai BHXHTN tại địa phương này cho thấy nhiều kết quả đáng ghi nhận song cũng tồn tại không ít hạn chế. Số người tham gia BHXHTN có xu hướng tăng qua các năm nhưng vẫn chưa đạt chỉ tiêu đề ra. Nhận thức của người dân về quyền lợi và ý nghĩa của BHXHTN còn hạn chế, đặc biệt tại vùng nông thôn. Nhiều người lao động chưa hiểu rõ về chế độ hưu trí và tử tuất mà BHXHTN mang lại. Bên cạnh đó, mức thu nhập thấp, không ổn định của lao động nông thôn là rào cản lớn. Công tác tuyên truyền, vận động tuy được đẩy mạnh nhưng hiệu quả chưa tương xứng. Đội ngũ cán bộ làm công tác BHXH tại cấp xã còn mỏng, kiêm nhiệm nhiều việc. Qua phân tích thực tiễn tại Thanh Miện, nhiều bất cập trong quy định pháp luật và cách thức triển khai được chỉ ra rõ ràng.

2.1. Kết quả đạt được trong triển khai BHXH tự nguyện

Tại huyện Thanh Miện, số người tham gia BHXHTN tăng trưởng qua các năm nhờ nỗ lực tuyên truyền của chính quyền và cơ quan BHXH. Tỷ lệ người tham gia chế độ hưu trí chiếm đa số, cho thấy người dân quan tâm đến vấn đề an sinh khi về già. Chính sách hỗ trợ tiền đóng của Nhà nước đã phát huy tác dụng, giúp nhiều hộ nghèo, cận nghèo tiếp cận được BHXHTN. Các buổi tư vấn trực tiếp tại xã, thôn đã góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền lợi khi tham gia BHXHTN.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân của tồn tại

Một số hạn chế nổi bật tại Thanh Miện bao gồm: tỷ lệ người tham gia vẫn thấp so với tiềm năng, tình trạng ngừng đóng xảy ra phổ biến. Nguyên nhân chính là thu nhập của người lao động tự do không ổn định, mức đóng vẫn là gánh nặng. Nhiều người chưa tin tưởng vào hiệu quả của chính sách. Công tác vận động còn hình thức, chưa đi vào chiều sâu. Pháp luật chưa có cơ chế linh hoạt về thời gian đóng, mức hưởng phù hợp với đặc thù lao động nông thôn. Sự phối hợp giữa các cấp chính quyền còn lỏng lẻo.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện

Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHXHTN tại huyện Thanh Miện, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, pháp luật cần được sửa đổi theo hướng tăng tính linh hoạt về mức đóng và thời gian đóng, phù hợp với thu nhập bấp bênh của lao động nông thôn. Mở rộng các chế độ BHXHTN beyond hưu trí và tử tuất, thí điểm thêm chế độ ốm đau, thai sản. Tăng cường mức hỗ trợ tiền đóng cho đối tượng nông dân, lao động phi chính thức. Thứ hai, đổi mới công tác tuyên truyền bằng cách sử dụng công nghệ số, mạng xã hội, mô hình truyền thông trực quan tại cộng đồng. Thứ ba, đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ BHXH cấp xã, phường. Thứ tư, tăng cường sự phối hợp giữa BHXH huyện, chính quyền địa phương, tổ chức đoàn thể trong vận động người dân tham gia. Cuối cùng, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giảm thủ tục hành chính, tạo thuận lợi tối đa cho người tham gia.

3.1. Kiến nghị sửa đổi bổ sung quy định pháp luật

Kiến nghị sửa đổi Luật BHXH theo hướng cho phép người tham gia BHXHTN được lựa chọn mức đóng theo từng giai đoạn phù hợp thu nhập. Bổ sung quy định về mức hưởng tối thiểu đảm bảo cuộc sống khi về hưu. Nghiên cứu mở rộng đối tượng được hưởng hỗ trợ cao hơn từ ngân sách nhà nước. Hoàn thiện quy định về thủ tục hồ sơ theo hướng đơn giản hóa, ứng dụng trực tuyến. Ban hành cơ chế khuyến khích doanh nghiệp hỗ trợ người lao động tự do tham gia BHXHTN.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền và vận động

Cần xây dựng chương trình tuyên truyền chuyên biệt cho vùng nông thôn huyện Thanh Miện. Sử dụng mô hình người tham gia thực tế chia sẻ lợi ích thực tế, tạo hiệu ứng lan tỏa trong cộng đồng. Tổ chức các buổi tư vấn lưu động tại chợ, đình làng, nơi tập trung đông người dân. Đào tạo đội ngũ tuyên truyền viên là người có uy tín trong thôn, xã. Kết hợp tuyên truyền qua loa truyền thanh, tờ rơi với nền tảng số như Zalo, Facebook để tiếp cận đa dạng đối tượng.

IV. Kết luận và định hướng ứng dụng thực tiễn pháp luật BHXH tự nguyện

Nghiên cứu pháp luật BHXHTN từ thực tiễn huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương cho thấy hệ thống pháp luật hiện hành đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc triển khai BHXHTN. Tuy nhiên, khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng vẫn còn đáng kể. Người lao động nông thôn, lao động tự do - đối tượng chính của BHXHTN - vẫn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận và duy trì tham gia. Các giải pháp đề xuất cần được thực hiện đồng bộ trên cả ba phương diện: hoàn thiện pháp luật, đổi mới tuyên truyền và tăng cường năng lực triển khai. Định hướng ứng dụng thực tiễn bao gồm thí điểm các mô hình BHXHTN linh hoạt tại Thanh Miện, nhân rộng kinh nghiệm cho các huyện nông thôn khác trong tỉnh Hải Dương. Kết quả nghiên cứu kỳ vọng đóng góp vào quá trình cải cách chính sách an sinh xã hội, hướng tới mục tiêu bao phủ BHXHTN toàn dân theo Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này có ý nghĩa lý luận trong việc hệ thống hóa cơ sở pháp lý về BHXHTN, phân tích mối quan hệ giữa pháp luật và thực tiễn triển khai. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tế về tình hình tham gia BHXHTN tại huyện Thanh Miện. Những phát hiện từ nghiên cứu giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ hơn về rào cản mà người lao động nông thôn gặp phải, từ đó có điều chỉnh phù hợp.

4.2. Định hướng phát triển và nhân rộng mô hình

Định hướng phát triển BHXHTN tại Thanh Miện cần gắn với chiến lược chuyển đổi số trong lĩnh vực an sinh xã hội. Xây dựng mô hình điểm về BHXHTN tại một số xã tiêu biểu, rút kinh nghiệm trước khi nhân rộng. Tăng cường hợp tác giữa cơ quan BHXH, ngân hàng, tổ chức tín dụng vi mô trong thu nộp và chi trả. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung, quản lý người tham gia hiệu quả. Hướng tới mục tiêu mỗi người dân đều được tiếp cận BHXHTN một cách thuận lợi nhất.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Vuthihang luan van lan 3 hoan chinh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội tự nguyện 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội tự nguyện Con người muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải lao động để tạo ra các giá trị giúp thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu về vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, không phải lúc nào cuộc sống của con người cũng thuận lợi, có thu nhập thường xuyên, sức khỏe ổn định mà nó luôn tiềm ẩn những nguy cơ, rủi ro như: thiên tai, lũ lụt, ốm đau, tai nạn, những biến động xã hội,… và không ai tránh được quy luật sinh lão bệnh tử.

Đó là những rủi ro nằm ngoài mong muốn mà con người không thể kiểm soát được. Để tạo ra cơ chế hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, các nước trên thế giới ngay từ rất sớm đã xây dựng các loại hình bảo hiểm xã hội. Thực tế cho thấy người lao động không chỉ làm việc cho mình mà còn cho cả xã hội nên Nhà nước phải có trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho họ. Xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống cần có sự san sẻ, giúp đỡ nhau đã dẫn đến những hoạt động tập thể phát huy truyền thống tương thân, tương ái trong xã hội, và bảo hiểm xã hội tự nguyện xuất hiện bên cạnh bảo hiểm xã hội bắt buộc như một yêu cầu tất yếu khách quan.

Nguyễn Tiến Phú và cộng sự, có thể hiểu: “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một loại hình BHXH do Nhà nước ban hành và quản lý để vận động, khuyến khích người lao động và người sử dụng lao động tự nguyện tham gia, nhằm đảm bảo bù đắp một phần thu nhập cho chính bản thân người lao động và gia đình họ bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập do gặp phải những rủi ro xã hội như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già… Đồng thời góp phần đảm bảo công bằng và ASXH” [19]. - Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học: “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội hình thành trên cơ sở kết hợp giữa tổ chức, bảo trợ của 8 Nhà nước với sự tham gia tự nguyện của người lao động có nhu cầu bảo hiểm” [30, tr. - Theo Luật BHXH Việt Nam năm 2006: “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình BHXH mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH” [24]. - Theo Luật BHXH Việt Nam năm 2014: “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất” [25].

Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về BHXH tự nguyện nhưng đều có những điểm chung là: BHXH tự nguyện do Nhà nước tổ chức và quản lý; người lao động hoàn toàn tự nguyện tham gia, không bị pháp luật cưỡng chế. Họ tự lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phí BHXH theo quy định của pháp luật, phù hợp với điều kiện và khả năng tài chính của mình để được hưởng các chế độ BHXH. Có thể nói, BHXH tự nguyện là loại hình BHXH nhằm lấp đầy dần các khoảng trống chưa được tham gia loại hình BHXH bắt buộc của người lao động, là cầu nối, là bước quá độ tiến tới thực hiện BHXH cho mọi người lao động trong xã hội. Có thể thấy, định nghĩa về BHXH tự nguyện theo pháp luật Việt Nam năm 2014 đã có sự bổ sung so với Luật bảo hiểm xã hội 2006.

Theo đó, định nghĩa đã nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong BHXH tự nguyện, đồng thời định nghĩa cũng đưa ra 2 chế độ mà người tham gia BHXH tự nguyện được hưởng đó là chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. Có thể thấy, định nghĩa về BHXH tự nguyện theo Luật bảo hiểm xã hội 2014 cụ thể hơn, rõ ràng hơn so với định nghĩa về BHXH tự nguyện trước đó, từ đó giúp NLĐ dễ hiểu hơn về BHXH tự nguyện và có cái nhìn tổng quát nhất về loại hình bảo hiểm này. Tuy nhiên việc quy định các chế độ BHXH tự nguyện trong khái niệm này phần nào làm hạn chế việc mở rộng chế độ BHXH tự nguyện. Do vậy, từ những quan điểm trên, luận văn đưa ra cách hiểu về BHXH tự nguyện như sau: “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng, phương thức 9 đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH nhằm góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình khi người lao động bị giảm hoặc bị mất thu nhập do gặp phải những rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm như ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già, tử tuất…; đồng thời góp phần đảm bảo công bằng, tiến bộ, văn minh và an sinh xã hội”.

Bản chất của bảo hiểm xã hội tự nguyện BHXH ra đời là nhu cầu khách quan và là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế. Ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển như Nhật, Đức, Anh, Canada… BHXH phát triển vững mạnh, cùng với hệ thống BHXH đa dạng, với nhiều loại hình BHXH phong phú. BHXH nhằm bù đắp những thiệt hại, rủi ro cho người lao động và gia đình họ khi gặp những biến cố trong cuộc sống, BHXH nói chung và BHXH nói riêng mang bản chất kinh tế và mang bản chất xã hội. Vì vậy, bản chất của BHXH nói chung, BHXH tự nguyện nói riêng là sự tương trợ cộng đồng, là sự đoàn kết đùm bọc chia sẻ rủi ro cho nhau, mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc, cụ thể: Về bản chất kinh tế: BHXH nói chung, BHXH tự nguyện nói riêng đều thể hiện những người tham gia phải đóng góp một khoản tiền (trích trong thu nhập, sau khi trừ đi các khoản phục vụ tối thiểu cho nhu cầu cá nhân và không ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của cá nhân) để lập một quỹ dự trữ.

Mục đích của việc hình thành quỹ này để trợ cấp cho những người tham gia BHXH tự nguyện khi gặp rủi ro dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập. Quỹ hoạt động theo nguyên tắc “lấy số đông bù số ít người rủi ro”. Khoản tiền tạm thời nhàn rỗi được sử dụng cho hoạt động đầu tư sinh lời, quỹ BHXH với tư cách là một yếu tố cấu thành nên hệ thống tài chính quốc gia. Như vậy, BHXH tự nguyện cũng giống BHXH bắt buộc là quá trình phân phối lại thu nhập cho những thành viên khi phát sinh nhu cầu về BHXH như ốm đau, bệnh tật, già yếu, chết.

Xét trong nội tại BHXH tự nguyện thì sự phân phối của BHXH tự nguyện được thực hiện theo cả chiều dọc và chiều ngang. Theo chiều dọc là sự phân phối giữa những người khỏe mạnh với người ốm đau; giữa người trẻ và người già; giữa người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp, giữa người ở khu vực này với người ở khu vực khác. Theo chiều ngang là sự phân phối giữa chính bản thân 10 người lao động theo thời gian giữa thời gian lao động và thời gian nghỉ hưu. Nhờ sự phân phối lại thu nhập mà đời sống của người lao động và gia đình họ luôn được đảm bảo trước những bất trắc và rủi ro xã hội.

Tóm lại, bản chất kinh tế của BHXH tự nguyện chính là việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH tự nguyện góp phần tổ chức, phân phối lại thu nhập, nhằm bảo đảm đời sống của người lao động và gia đình họ trước những bất trắc, rủi ro xã hội. Về bản chất xã hội: Bản chất xã hội của BHXH tự nguyện được thể hiện ngay trong mục tiêu của nó. BHXH tự nguyện hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Mục tiêu của bất kỳ hệ thống BHXH nào cũng là mục tiêu xã hội, là một hoạt động vô vi lợi.

Điều này được thể hiện thông qua việc chi trả chế độ BHXH. Người tham gia BHXH tự nguyện sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động. Do có sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHXH tự nguyện nên mặc dù chỉ đóng một phần nhỏ trong thu nhập mình cho quỹ BHXH tự nguyện, nhưng có thể được hỗ trợ lại một khoản đủ lớn để giúp họ trang trải rủi ro. BHXH tự nguyện đó thực hiện nguyên tắc “lấy của số đông, bù cho số ít” như một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi thu nhập của họ bị giảm, bị mất hoặc không may gặp rủi ro khác mà tự họ không thể lo liệu được bản thân.

Trên góc độ vĩ mô, BHXH tự nguyện góp phần ổn định an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo và giữ vững ổn định xã hội đã được ghi nhận và khẳng định tại Nghị quyết số 21- NQ/TW ngày 22/11/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012-2020: “Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị- xã hội và phát triển kinh tế xã hội” và Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội: “Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội để bảo hiểm xã hội thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân”. 11 Về phương diện chính trị, pháp lý: Khi được Nhà nước đặt ra quy định và điều chỉnh bằng pháp luật, BHXH tự nguyện đã trở thành quyền cơ bản của người lao động, xét trên cả bình diện quốc gia và quốc tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ