mở đầu cho việc nghiên cứu truyện ké dân gian bằng type va motif truyện. Sau đó nhà nghiên cứu folklore học Mỹ Stith Thompson đã bồ sung thêm công trình Motif — Index of Folk Literature (bang tra cứu motif văn học dân gian) vào những nam 23 1932 — 1936 và sửa chữa, nâng cấp công trình Bảng tra cứu các truyện dân gian vào những năm 1955 — 1958. Hai cuốn sách này thường được gọi là Hệ thong Antti Aarne — Thompson hoặc gọi tat là hệ thống A — T, cách phân loại type và motif A — T đã trở thành khuôn mau đê nhiêu nước ứng dụng. Tuy nhiên cuốn sách giới thuyết đầy đủ, rõ ràng nhất hai khái niệm type và motif là cuốn The Folklore của Sith Thompson xuất ban năm 1977.
Trong đó Stith Thompson có sự phân biệt rõ ràng type và motif như sau: “Khi phân loại truyện kề dân gian, phải phân biệt rõ hai khái niệm type và motif. Motif là thành phần nhỏ nhất có thê tồn tại liên tiếp trong truyền thống. Type là một loại motif kết hợp theo thứ tự tương đối cố định. Ở Việt Nam, năm 1990 trong bài báo khoa học: Về các bảng mục tra cứu type va motif truyện kề dân gian, Nguyễn Tan Dac đã diễn dat lại khái niệm type và motif của Stith Thompson: “Type là những cốt ké có thé tồn tại độc lập trong kho truyện truyền miệng.
Dù đơn giản hay phức tạp, truyện nào được kế như một cốt kể độc lập đều được xem là một type”. “Trường hợp truyện chỉ có một motif thi type và motif đồng nhất” [21, tr. “Trong Folklore, motif là thuật ngữ chỉ bat kì một phần nào mà một chỉ tiết của folklore có thé phân tích ra được” [21, tr. Ông cũng đưa ra định nghĩa của mình về type va motif: “Type chỉ một tập hợp truyện có cùng một cốt kế thuộc cùng một kiểu truyện, hay một truyện đơn vị”.
“Motif chỉ một thành tố nhỏ của truyện, thường có thể tách rời ra được, có thê lắp ghép được, ít nhiều khác lạ, bất thường, đặc biệt là yếu tố đặc trưng của truyện kể dân gian” [25, tr. Đồng thời ông nhấn mạnh thêm về đặc điểm nhận dang của motif: “Bản than motif cũng có thé đã là một truyện kế ngắn và đơn giản, một sự việc đủ gây an tượng hoặc làm vui thích cho người nghe (.), phải có cái gì đó làm cho người ta nhớ và lặp đi lặp lại nó, nó phải khác với cái chung chung” [21, tr. 24 Nguyễn Thị Hiền định nghĩa: “Type là những cốt kê có thể tồn tại độc lập trong kho tàng truyền miệng”. “Motif là những yếu tố nhỏ nhất tạo nên một cốt truyện (.), có khả năng lưu truyền một cách bền vững.
Đề có được khả năng này, motif phải là một cái gì đó khác thường và gây ấn tượng” [21, tr. Nói chung chúng ta có thé bằng lòng với định nghĩa về type va motif của Nguyễn Tan Dac. Các định nghĩa đưa ra về sau này chi là diễn đạt theo cách khác mà thôi. Trong quan hệ với cốt truyện, motif vừa là một bộ phận quan trọng của cốt truyện — mang tính nội dung, nhưng lại là yếu tố tạo liên kết kết với nhau nên mang cả tính hình thức; trong mối quan hệ với tiết, motif có thé được hình thành dan từ tiết nếu tiết ấy có tính khác thường gây ấn tượng mạnh; trong quan hệ nội tại, motif có hình hài và ý nghĩa biểu tượng, đặc biệt biểu tượng ấy phải khác thường mang tính thâm mĩ sâu sắc.
Hiện nay việc nghiên cứu văn học dân gian theo loại hình ở Việt Nam đã đạt được khá nhiều thành tựu. Việc đọc truyện ké dân gian bằng type va motif đã dan quen thuộc hơn đối với giới nghiên cứu. Có thê nói chúng ta có đủ tư liệu về lý luận nghiên cứu văn học dân gian bằng type va motif từ đó tạo co sở nền tảng cho việc tìm hiểu các type truyện và motif truyện cụ thé. Chúng ta có thé kế đến một số công trình nghiên cứu truyện ké dân gian bằng cách phân tích type và motif đã xuất hiện như: Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cô Việt Nam và Đồng Nam A (Nguyễn Bích Hà), Nhân vật xdu xí mà tài ba trong truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Thị Hué), Khảo sát và so sánh một số type truyện và motif truyện dân gian Việt Nam — Nhật Bản (Nguyễn Thị Nguyệt).
Motif là yếu tố ban đầu, yếu tố hạt nhân để tạo nên cốt truyện. Các motIf có sự độc lập tương đối với nhau nhưng lại liên hệ với nhau tạo nên một kết cấu dạng mềm, một hình dạng luôn sẵn sàng tái tạo. Vì thé tác pham dân gian không có bản kể cuối cùng, việc cô định hoá tác phâm băng văn bản việt không làm giảm sức tái tạo của nó. 25 Trong kiểu truyện người mang lốt có thể xuất hiện rất nhiều những motif nhân vật khác nhau.
Ta có thê kế đến motif thử thách, motif kết hôn, tuy nhiên một motif hết sức quan trọng trong kiểu truyện này chính là motif mang lốt, nó gan kết chặt chẽ với kiêu truyện và sự phát triên của côt truyện. Motif người mang lốt vật Motif người mang lốt thé hiện phần hình thức của nhân vật. Day cũng là motif trung tâm tạo đặc điểm và tên gọi của type truyện, quy định nội dung kiểu truyện với nhân vật là người mang lốt. Motif người mang lốt là sự khởi đầu và quyết định ý nghĩa, nội dung kiểu truyện.
Kiểu nhân vật người mang lốt vật là những nhân vật ban đầu không mang hình hài con người bình thường, hoàn thiện mà mang hình hài các con vật hoặc một lốt vật kì dị, người dị hình, di dạng nào đó, có cuộc đời, số phận gặp nhiều bat hạnh, nhân vật này luôn phải trải qua nhiều khó khăn thử thách. Nhưng sau khi trút lốt thường trở thành những con người đẹp dé, hoàn thiện, hoàn mỹ cân đôi về ngoại hình và tài năng. Trong kho tàng truyện cô tích Việt Nam và Nhật Bản đây là kiêu nhân vật xuất hiện mang cảm quan tham mĩ đầy nhân văn của nhân dân lao động, gắn liền với lối tư duy hoang đường kỳ ảo day sáng tạo của tác giả dân gian, bộc lộ rõ quan điểm đạo đức và quan diém nhân sinh của nhân dân lao động. Khái lược về nghiên cứu so sánh văn học Trước đôi mới, người ta thường nhằm lẫn so sánh văn học và văn học so sánh.
Nói so sánh văn học là nói ở cấp độ phương pháp. So sánh là một thao tác của tư duy dé xác định, đánh giá các hiện tượng văn học trong mối quan hệ với nhau. Thao tác so sánh có từ thời cô đại, găn với các nền văn hóa cô như Hy Lạp, Ai Cập, Trung Quốc.; được áp dụng một cách tự phát, đơn sơ, không có một cơ sở khoa học nào. Còn nói tới văn học so sánh là nói trên phương diện bộ môn khoa học, nó hoản toàn cao hơn câp độ 26 phương pháp.
Phương pháp so sánh và bộ môn văn học so sánh là hai phạm trù hoàn toàn phân biệt với nhau, vì vậy ta không được nhằm lẫn mà đồng nhất hai khái niệm này. Trong nghiên cứu văn học, ta có thể so sánh một hiện tượng văn học với các hiện tượng cùng loại, nhưng cũng có thé so sánh với tat cả các hiện tượng đối lập đề làm nồi bật bản chất của cái hiện tượng đem ra so sánh. Việc so sánh như thế sẽ giúp ta thấy 16 bản chất của hiện tượng, từ đó xác định được vi trí của nó trong hệ thống đó. Đây cũng chính là mục đích của các bộ môn văn học sử nói chung.
Tuy nhiên so sánh là một công việc tương đối nhạy cảm, bởi lẽ nó đụng chạm đến nhiều đối tác. Khi so sánh, ta không chỉ phải đánh giá cái hiện tượng được đem ra so sánh, mà còn phải đánh giá cả các đối tác so sánh của nó. Chính vì vậy, khi so sánh chúng ta phải quán triệt thái độ thận trọng. Đề làm được điều đó cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản như: - _ Nguyên tắc khách quan, phi định kiến.
- _ Nguyên tắc so sánh cùng loại khi phân hạng thứ bậc. - Nguyên tắc so sánh liên ngành. - _ Nguyên tắc so sánh tông hợp. Xét về lĩnh vực văn hóa dân gian, sự mở của đất nước đi kèm với sự giao lưu văn hóa đã tạo nên điều kiện giúp cho các lĩnh vực khoa học của hai đất nước Việt Nam và Nhật Bản có sự kết hợp cùng phát triển.
Trong đó đã có nhiều tác phẩm văn học Nhật Bản được dịch sang tiếng Việt mà ở đó có cả các câu chuyện dân gian nói chung và cô tích nói riêng. Sự nỗ lực ấy giúp các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian có điều kiện để khảo sát và hiểu biết thêm về truyện dân gian và văn hóa Nhật Bản. Việc so sánh văn học và văn hóa Việt Nam với Nhật Bản cũng vì thế mà có những bước tiễn lớn mạnh, phát triển hơn nữa. 27 Sau khi khảo sát và khai thác về truyện cổ người mang lốt vat trong kho tàng cổ tích của hai nước Việt Nam và Nhật Bản dưới góc độ type và motif, tôi nhận thấy những nét tương đồng và khác biệt đã góp phần làm nổi bật những cơ tầng văn hóa của hai nước.
Bởi lẽ truyện cô dân gian không chỉ giúp cho người đọc thấy thư giãn và giải trí mà mỗi type truyện, mỗi motif truyện đều thể hiện nét văn hóa, thé hiện tâm tính con người và hon thê là lòng yêu nước, yêu quê hương xứ sở của người dân môi quôc gia. Tiểu kết: Truyện cô tích là loại truyện xuất hiện từ thời xa xưa, chủ yếu được sáng tạo bởi tang lớp bình dân lao động. Truyện cổ tích mang những van dé của cuộc sống, xã hội, con người và thể hiện những ươc mơ, khát vọng hay niềm tin công lí của loài người. Cũng từ đó mà truyện cô tích khuyến khích con người ta phát triển một cách tốt đẹp về nhân cách, thấu hiểu những đạo lí sống dé từ đó hướng tới nét đẹp hoàn thiện, cái đẹp chân thiện mĩ.
Có thể motif nhân vật người mang lốt không xuất hiện quá nhiều trong thế giới truyện cô tích, đặc biệt là trong kho tàng cô tích Nhật Bản. Không phải câu chuyện nào cũng có xuất hiện motif nhân vật này. Dù vậy đây vẫn là kiêu nhân vật hết sức đặc sắc, góp phần không nhỏ cau thành nên nhiều nét đẹp độc đáo riêng biệt trong kho tàng cổ tích của cả hai đât nước.