Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ - CƠ SỞ TÌM HIỂU HÁT IẾU Ở BẮC QUANG HÀ GIANG.1 Tổng quan về tộc ngƣời Tày ở Bắc Quang - Hà Giang. Vài nét về cộng đồng người Tày ở Hà Giang. Hà Giang là miền đất của địa đầu Tổ Quốc Việt Nam, nổi tiếng với cột cờ trên đỉnh Lũng Cú - Đồng Văn, nằm bên dải phía Tây Côn Lĩnh, là nơi sinh sống của 22 dân tộc anh em nhƣ: Tày, Nùng, Dao, Mông, Pà Thẻn, La Chí, Pu Péo, Lô Lô…Trong đó dân tộc Tày có khoảng 175.757 ngƣời, chiếm 25% dân số trong tỉnh, đứng sau dân tộc Mông 30,75% ( năm 2001).
Dân tộc Tày là cƣ dân bản địa sống lâu đời trên đất nƣớc Việt Nam. Họ cùng với các cƣ dân Tày- Thái khác là một trong những chủ nhân đầu tiên lập lên nhà nƣớc Văn Lang của các Vua Hùng, nhà nƣớc Âu Lạc của Thục Phán An Dƣơng Vƣơng trên cơ sở hợp nhất hai bộ lạc chủ yếu của thời bấy giờ là Âu Lạc và Lạc Việt. Ở Hà Giang theo các tài liệu lịch sử, khảo cổ học từ trƣớc năm 1945 đến nay đã phát hiện những hiện vật từ thời đồ đá cũ cho tới thời đại đồ đồng, đồ sắt, báo hiệu quá khứ xa xƣa của con ngƣời đã cƣ trú trên đất Hà Giang. Điều đó chứng tỏ phần nào Hà Giang là vùng đất cổ có các cƣ dân sinh sống, trong đó có dân tộc Tày.
Theo các nhà nghiên cứu và các cụ già ngƣời Tày ở Vị Xuyên, Bắc Quang kể lại thì ở Hà Giang tồn tại những cƣ dân Tày cổ ở vùng ba phƣơng: Phƣơng Tiến, Phƣơng Thiện, Phƣơng Độ thuộc huyện Vị Xuyên ngày nay. Ngoài ra họ còn cƣ trú ở vùng Bằng Hành, Vô Điếm, Đồng Yên, Xuân Giang…của huyện Bắc Quang. Các cụ già ở xã Phƣơng thiện nói: Họ biết họ Nguyễn của dân tộc Tày đã sống ở đây cách đây 700 đến 800 năm. Trong lịch sử nƣớc ta thời Lý -Trần là thời kỳ thịnh hành của phật giáo cả nƣớc, chùa chiền đƣợc tạo dựng khắp nơi, nhất là sau ba lần đại thắng quân Nguyên Mông của triều Trần, hào khí Đông A vang vọng từ Thăng Long đến 11 các miền biên viễn xa xôi.
Ở Hà Giang còn di tích 2 ngôi chùa cổ đó là chùa Sùng Khánh ở bản Bang xã Đạo Đức huyện Vị Xuyên, chùa Bình Lâm ở xã Phú Linh, thị xã Hà Giang cũng đƣợc xây dựng vào thời kỳ đó. Đặc biệt trên tấm bia ở chùa Sùng Khánh dựng năm 1367 có ghi công lao của quan Phủ đạo ngƣời Tày họ Nguyễn là Nguyễn Thiếp có công lao bảo vệ biên giới phía Bắc, xây dựng làng xã ổn định phát triển, là nơi tin cậy của triều đình ở vùng biên viễn xa xôi. Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội và đời sống văn hoá của người Tày ở Bắc Quang - Hà Giang. - Điều kiện tự nhiên: Bắc Quang là huyện miền núi thấp , nằm ở cửa ngõ phía Đông Nam của tỉnh Hà Giang trong toạ độ địa lý từ 22 độ 10’ đến 22 độ 36’ vĩ độ Bắc và 104 độ 43’ đến 105 độ 07’ kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp với huyện Vị Xuyên, Phía Đông, Đông Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía Tây, Tây Bắc giáp huyện Hoàng Su Phì. Trung tâm huyện là thị trấnViệt Quang, cách thị xã Hà Giang khoảng 60km. Năm 2005, huyện Bắc Quang đƣợc chia tách thành hai huyện Bắc Quang và Quang Bình, huyện Bắc Quang cũ gồm có 33 xã. Do việc phân chia lại địa ranh, địa giới hiện nay Bắc Quang còn 21 đơn vị hành chính cấp xã: Tân Lập, Tân Thành, Tân Quang, Việt Vinh, Đồng Yên, Vĩnh Phúc,Vĩnh Hảo, Hùng An, Tiên Kiều, Việt Hồng, Quang Minh, Kim Ngọc, Vô Điếm, Bằng Hành, Hữu Sản, Liên Hiệp, Đức Xuân, Thƣợng Bình, Đông Tâm, Đồng Tiến, Đông Thành và hai thị trấn Việt Quang, Vĩnh Tuy.
Năm 2005 dân số trung bình của huyện Bắc Quang có 105.828 ngƣời, chiếm khoảng 16% dân số toàn tỉnh. Cƣ dân Tày ở đây sống hiền hoà, đoàn kết với các dân tộc khác nhƣ Kinh, Dao, Mông, Nùng…Thiên nhiên tƣơng đối ƣu ái tạo cho vùng đất này những bãi bồi phù sa màu mỡ dọc theo hệ thống sông Lô, sông sảo, sông Bạc…thuận lợi cho việc phát triển nền nông nghiệp lúa nƣớc. Tuy nhiên do địa hình tƣơng đối phức tạp 12 nhƣ đồi núi cao, thung lũng sâu, mƣa nhiều (Bắc Quang đƣợc coi là “rốn mƣa” của cả nƣớc), sƣơng muối… đều gây ảnh hƣởng xấu đến sản xuất và đời sống con ngƣời, khó khăn trong việc giao thông đi lại, xói mòn, lũ quét, ngập úng…; Nhất là ở thời kỳ lịch sử xa xƣa khi cuộc sống của cƣ dân Tày còn thiếu thốn, lạc hậu, đói nghèo. - Đặc điểm kinh tế xã hội: Địa vực cƣ trú của ngƣời Tày ở Bắc Quang rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp toàn diện.
Trải qua hàng ngàn năm gắn bó với mảnh đất này, đồng bào Tày đã khai khẩn các thung lũng ven sông Lô, sông Bạc, Ngòi Sảo, ven các suối lớn tạo thành những cánh đồng, ruộng bậc thang trồng trọt phì nhiêu màu mỡ. Họ tạo ra hệ thống “dẫn nhập thuỷ điền” với Mƣơng, Máng, Phai, Cọn…khá hoàn thiện phục vụ cho việc sinh hoạt, tƣới tiêu. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm đa dạng, phong phú; các ngành nghề thủ công nhƣ đan lát, dệt, rèn, đúc, kéo đƣờng mật cũng phát triển. Kỹ thuật sản xuất của ngƣời Tày đã đạt tới trình độ khá cao, có kinh nghiệm về chăm sóc, thâm canh thời vụ khá chặt chẽ theo vụ theo năm.
Từ xƣa tới nay đồng bào Tày ở vùng Bắc Quang về kinh tế hàng hoá cũng đã phát triển qua những phiên chợ nông thôn họp theo quy định, việc trao đổi hàng hoá bằng hiện vật hay hình thức trao đổi trực tiếp đến nay vẫn còn tồn tại. Từ những điều kiện thuận lợi, khó khăn trên phải chăng những hình thức sinh hoạt văn hoá, văn nghệ trong đó có hát Lƣợn ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu giải toả những khát vọng tinh thần của họ. - Đời sống văn hoá: Cƣ dân ngƣời Tày ở Bắc Quang - Hà Giang cũng nhƣ nhiều ngƣời Tày khác sinh sống trong cả nƣớc đều có một nền văn hoá đa dạng và phong phú. Mặc dù ngƣời Tày giao tiếp chủ yếu bằng ngôn ngữ hệ Tày - Thái, nhóm ngôn ngữ rất gần với Tiếng Việt về hệ thống ngữ pháp và âm thanh.
Song chỉ những từ ngữ về thiên nhiên, về sự vật hiện tƣợng trong sinh hoạt giao tiếp mới là của 13 ngƣời Tày, còn đa số là vay mƣợn của Tiếng Việt, tiếng Hán hoặc từ Hán Việt. Về chữ viết của ngƣời Tày trong thời kỳ cổ đại không có nên lịch sử thành văn của dân tộc rất ít ỏi và gần nhƣ không có, Bƣớc sang giai đoạn trung đại mới xuất hiện chữ Nôm Tày, chữ Nôm Tày là thứ chữ phỏng theo chữ Hán của ngƣời Trung Quốc mà đặt ra. Theo nhiều nhà nghiên cứu, nhìn từ góc độ văn tự, thứ chữ này cũng có một vài nét khác với chữ Nôm Việt. Học giả Nguyễn Văn Huyên là ngƣời đầu tiên có công nghiên cứu về kiểu chữ Nôm Tày và sau này đƣợc học giả Đào Duy Anh tiếp tục nghiên cứu và khẳng định ý kiến của Nguyễn Văn Huyên: “Chữ Nôm Tày do ảnh hƣởng chữ Nôm Việt mà ra và có cấu tạo nhƣ chữ Nôm Việt” [49: 210-220] Chữ Nôm Việt xuất hiện vào khoảng thế kỷ XIII đến XV sang đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII khi Mạc Kính Cung chuyển vƣơng triều lên Cao Bằng đã để lại dấu tích về chữ Nôm Tày.
Do đó có thể khẳng định chữ Nôm của ngƣời Tày ra đời không muộn hơn so với chữ Nôm Việt thế kỷ XVI. Bƣớc sang giai đoạn hiện đại, việc sử dụng chữ Nôm gặp nhiều khó khăn do vốn từ tiếng Tày còn nghèo nàn trong các ngành hoạt động hành chính cũng nhƣ khoa học. Năm 1954, một lớp trí thức Tày đã tự sáng tạo ra chữ La tinh Tày nhƣng cũng không đƣợc phổ biến nhiều. Đến năm 1960, Đảng và Nhà nƣớc ta mới có chủ chƣơng quan tâm xây dựng hệ thống chữ viết cho dân tộc Tày theo lối chữ Quốc Ngữ bằng chữ cái Latinh.
Trong cuốn Một vƣờn hoa nhiều hƣơng sắc, nhà thơ Tày Nông Quốc Chấn đã nhận định: “Chữ Tày có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng phát triển nền văn hoá nghệ thuật xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta…” Trong những vùng sinh sống tập trung, dân cƣ Tày sử dụng song ngữ và chữ viết Tày - Việt đã trở thành nét đặc thù phổ biến trong đời sống ngôn ngữ. Do đó cần có kế hoạch sƣu tầm các văn bản văn học dân gian đƣợc ghi bằng chữ Nôm Tày, chữ Tày hiện đại cũng cần đƣợc chỉnh lý, sửa chữa, đóng góp cho sự nghiệp phát triển văn hoá Tày nói riêng và văn hoá trong cộng đồng 54 dân tộc 14 Việt nói chung. Có thể nói chữ viết ra đời là một trong những thành tựu to lớn, là điều kiện vô cùng quan trọng trong việc lƣu giữ và phát triển nền văn hóa văn học đa dạng của các dân tộc nói chung, cƣ dân Tày Bắc Quang nói riêng. Ngƣời Tày ở Bắc Quang có nền văn hoá đa dạng, phong phú.
Cả văn hoá vật chất lẫn tinh thần đều có những nét độc đáo. + Về văn hoá vật chất: Bản là đơn vị cƣ trú của ngƣời Tày, thƣờng ở chân núi, cạnh cánh đồng hay ven sông, suối lớn. Tên bản thƣờng đạt theo tên đồng ruộng, khúc sông. đồi núi nhƣ: Nà Ngần, Nà Đon, Nà Tông, Nà Cải… Mỗi bản trung bình có từ 25 đến 30 nhà, bản lớn có tới 60, 70 nhà, thậm chí có tới 100 nhà, có bản chỉ có ngƣời Tày, có bản sống xen kẽ với các dân tộc khác.
Nhà cửa của ngƣời Tày ở đây thƣờng dựng theo thế đất, đằng sau dựa vào đồi núi, phía trƣớc thƣờng nhìn ra cánh đồng, sông suối, bên cạnh nhà có máng nƣớc, ao cá, hƣớng nhà thƣờng căn cứ vào tuổi gia chủ…Nhà ở của họ phổ biến nhất là nhà sàn, lợp lá cọ, nhà có điều kiện thì làm nhà gỗ tất cả xà, cửa…đều làm bằng gỗ tứ thiết đƣợc bào nhẵn, ghép mộng cầu kỳ, kiến trúc trạm trổ đẹp mắt, nhiều hoa văn. Nhà nghèo thì làm gỗ kê đá, lợp lá cọ, phên vách bằng nứa đan… nhà thƣờng chia làm 3 - 5 - 7 gian, có khi còn làm bếp riêng liền với nhà chính từ 2 đến 3 gian.