Chương I: Đánh giá tải nguyên nước mặt đảo Trin. Chương này tình bảy kết quả đánh giá và phân tích hiện trạng khai thác tài nguyên nước mặt trên đảo Trin, Tỉnh Quảng Ninh Chương IIL: Đánh giá tải nguyễn nước ngẫm đảo Trần, Chương này trình bày kết quả tính toán và phân ích kết quả đảnh giả tai nguyên nước ngằm trên đảo từ đó đề xuất một số giải pháp khai thác nước bén vững trên đảo Trần. CHGJONG 1: TONG QUAN VE ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NGJOC 1.1 Một số khái niệm. Theo “Đánh giá ải nguyên nước Việt Nam" của Nguyễn Thanh Sơn, ta có thể hiểu được một số định nghĩa sau: “Tài nguyên noớc.
Nước một loại tai nguyên qui giá và được coi là vĩnh cửu. Không có nước thì không có sự sống trên hãnh tinh của chúng ta. Nước là động lực chủ yếu chi phối. mọi hoạt động dân sinh kinh tế của con người.
Nước được sử dụng rộng rãi trong. sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ điền, giao thông vận ti, chấn nuôi thuy sản v. Do tính chất quan trọng của nước như vậy nên UNESCO lấy ngày 23/3 lâm ngày nước thể giới. Tài nguyên nước lš lượng nước trung sông, ao hỗ, im lây, biển và đại dương và rong khí quyén, sinh quyền.
Trong Luật Tai nguyễn nước của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: " Tai nguyên nước bao sm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đắt, nước biễnthuộc lãnh thổ nước Công hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ", Nước có hai thuộc tính cơ bản đó là gây lợi và gây hại. Nước là nguồn động lực cho mọi hoạt động kinh tế của con người, song 1g gây ra những hiểm hoạ to lớn không lường trước được d6i với con người Những trận lũ lớn có thể gây thiệt hai về người và của thậm chí tối mức có thé phá huỷ cả một ving sinh thái Tài nguyên nước là một thành phin gắn với mức độ phát triển của xã hội loài người tức là cũng với sự phát triển của khoa học công nghệ ma tài nguyên nước ngày cảng được bô sung trong ngân quỹ nước các quốc gia. Thời kỳ nguyên thuỷ, tải nguyễn nước chỉ bó hẹp ở các khe suối, khí con người chưa có khả năng khai thác sông, hỗ và các thuỷ vực khác. Chỉ khi kỹ thuật khoan phát triển thi nước ngẫm.
tổng sâu mới trở thành ti nguyên nước. Và ngày nay với các công nghệ sinh hoá học tiên tiến thì việc tạo ra nước ngọt từ nước biển cũng không thành vấn đẻ lớn. Tương li các khối bang trên các nổi cao và cúc vùng cực cũng nằm trong tằm khai thác của con người và nó là một nguồn tài nguyên nước tiềm năng lớn. Tuy mang đặc tính vĩnh cứu nhưng trữ lượng hang năm không phải là vô tận, tức là sức tái tạo của dòng chảy cũng nằm trong một giới hạn nào đó không phy thuộc vào mong muốn của con người.
Tài nguyên nước được đánh giá bởi ba đặc trưng cơ bản là lượng, chất lượng và động thái của nó. Lượng là đặc trưng biểu thị mức độ phong phú của tải nguyên nước trên một lãnh thổ. Chat lượng nước là các đặc trưng về hàm lượng các chất hoa tan trong. nước phục vụ yêu cầu đăng nước cụ thé về mức độ lợi và hại theo tiêu chun đối tượng sử dụng nước.
Động thấi của nước được đánh giá bởi sự thay đội của các đặc trưng nước theo thời gian ‘Tai nguyên nơớc ngọt Nude ngọt hay nước nhạt là loại nước chứa một lượng tối thiểu các muối hòa tan, đặc biệt là clorua natri (thường có nông độ các loại muỗi hay còn gọi là độ mặn. trong khoảng 0,01 = 5 ppt hoặc tới 1 ppt), vi thé nó được phân biệt tương đổi rõ rằng với nước lợ hay các loại nước mặn và nước mudi, Tắt cả các nguồn nước ngọt phát điểm là từ các cơn mưa được tạo ra do sự ngưng tụ tối hạn của hơi nước trong không khí, rơi xuống ao, hỗ, sông của mặt đắt cũng như trong các nguồn nước ngằm hoặc do sự tan chy của băng hay tuyết, Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy mà việc cung cấp nước ngọt và sạch trên thể giới đang từng bước giảm di, Nhu cầu nước đã vượt cung ở một vài nơi trên thé giới, trong khi dân số thể giới vẫn đang tiếp twe tăng lim cho nhu cầu nước cảng ting. Sự nhận thức về tằm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước cho nhu cầu hệ sinh thái chỉ mới được lên tiếng gần diy. Trong suốt thé kỷ 20, hơn một nữa các vũng đắt ngập nước trên thé giới đã bị biến mắt cùng với các môi trường hỗ trợ có giá trị của chúng.
Các hệ sinh thai nước ngọt mang đậm tinh đa dạng sinh học hiện đang suy giảm nhanh hon các hệ sinh thái biển và đắt liền. “Tài nguyên noyie mặn Nước mặn là thuật ngữ chung để chỉ nước chứa một him lượng đáng ké các mudi hòa tan (chủ yếu là NaCl). Ham lượng này thông thường được biểu diễn dưới. dạng phần nghìn (ppt) hay phần miệu (ppm) hoặc phần trăm (%) hay gi Các mức him lượng muối được USGS Hoa Kỳ sử dụng để phân loại nước mặn thành ba thể loi.
Nước hơi in chứa mudi trong phạm vi 1. Nước mặn vừa phải chứa khoảng 3. Nước mặn nhiều chứa khoảng 10.000 tới 35,000 ppm (10tới 35 ppt) muối. Trên Trái Đất, nước biển trong các đại dương là nguồn nước mặn phổ biển nhất và cũng là nguồn nước lớn nhất.
Độ mặn trung bình của đại dương là khoảng 35.000 ppm hay 35 ppt hoặc 3,5%, tương đương với 35 gi. Him lượng nước mặn tự nhiên cao nhất có tại hồ Assal 6 Djibouti với nông độ 34.894 Tài nguyên noyée mặt "Nước mặt là nước trong sông, h hoặc nước ngọt trong ving đất ngập nước. Nước mặt được bd sung một cách tự nhiên bai giáng thủy va chúng mắt đi khi chảy vào đại dương, bốc hoi và thắm xuống đất Lượng giáng thủy này được thu hỗi bởi sắc lưu vực, tổng lượng nước trong hệ thống này tại một thi điểm công tủy thuộc vào một số yếu tổ khác. Các yếu tổ này như khả năng chứa của các hồ, ving dit ngập nước và các hồ chứa nhân tạo, độ thấm của dat bên dưới các thể chứa nước này, các đc điểm của đồng chây mặt trong lưi vực, thời lượng giáng thấy va tốc độ bốc hơi địa phương.
Tắt cả các yếu tổ này đều ảnh hưởng đến tỷ lệ mắt nước. Sự bốc hơi nước trong đất, a0, hỗ, sông, biển; sự thoát hơi nước ở thực vật và động vật. hơi nước vào trong không khí sau đồ bị ngưng t li trở v thể ong rơi xuống mặt đất hình thành mưa, nước mưa chỏy tran trên mặt đất từ nơi cao đến nơi thấp tạo nên các dong chảy hình thành nên thác, ghẳnh, suối, sông và được tích tụ lại ở những nơi thấp trên lục địa hình thành hồ hoặc được đưa thằng ra biển hinh thành. nên lớp nước trên bé mặt của võ tri đắt Trong quá trình chảy trần, nước hỏa tan các muối khoáng trong các nham thạch nơi nó chảy qua, một số vật liệu nhẹ không hòa tan được cuốn theo đồng chảy va bai lắng ở nơi khác thấp hơn, sự tích tụ muối khoáng trong nước biển sau một thời gian dài của quá trình lịch sử của quả dt dẫn in làm cho nước biể cảng trở nên mặn.
Có hai loi nước mặt là nước ngọt hiện điện trong sông, ao, hồ rên các lục địa và nước mặn hiện diện trong bin, cúc đại dương mênh mông, trong các hd nước mặn trên các lục địa Tài nguyên nơióc ngầm. Nước ngim hay còn gọi là nước đưới đất, là nước ngọt được chứa trong các lỗ. ring của đất hoặc đả. Nó cũng có thé là nước chứa trong các ting ngâm nước bên dưới mực nước ngằm.
Đôi khi người ta còn phân biệt nước ngằm nông, nước ngằm sâu và nước chôn vùi. "Nước ngim là một dạng nước dưới dit, ích trữ trong các lớp đắt đá trim tích bo rời như cặn, sạn, edt bột kế, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bE mặt tri đất có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người Nước ngim cũng có những đặc diém giống như nước mặt như: nguồn vào (bổ cấp), nguồn ra và chứa. Sự khác biệt chủ yếu với nước mặt là do tốc độ luân chuyển châm (đồng thấm rất châm so với nước mặt), khả năng giữ nước ngằm nhìn chung lớn hơn nước mặt khi so sinh về lượng nước đầu vio, Nguồn cung cắp nước cho nước ngằm li nước mặt thắm vào ting chứa, Các nguồn thoát tự nhiên như suỗi và. thắm vào các đại dương.
Theo độ sâu phân b có thể chia nước ngầm thành nước ngầm ting mặt và nước ngằm ting sâu. Đặc điểm chung của nước ngằm là khả năng di chuyển nhanh trong cic lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngim theo địa hình Nước ngằm tầng mặt thường không có lớp ngăn cách với địa hình bé mặt. Do vậy, thành phần và mực nướcbiển đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thải của nước mặt Loại nước ngầm ting mặt ắt dễ bị ô nhiễm. Nước ngằm ting sâu thường nằm trong lớp đất đá xốp được ngăn cách bên trên và phía dưới bởi các lớp không thẩm nước.
‘Theo không gian phân bỗ, một lớp nước ngầm ting sâu thường có ba vùng chức năng + Vũng thu nhận nước, + ˆ Vũng chutải yển nước, + ˆ Vũng khai thác nước có ấp. Khoảng cách giữa vũng thu nhận và vũng khai thác nước thường khá xa từ vài chục đến vải trăm km. Các lỗ khoan nước ở vùng khai thác thường có áp lực. loại nước ngằm có chất lượng tốt và lưu lượng ổn định.
Trong các khu vực phát triển đá cacbonat thường tồn tại loại nước ngam caxtơ di chuyển theo các khe nứt ceodơ. Trong các đài cồn cit vũng ven biên thường có các thấu kính nước ngọt nằm trên mục nước biển. Có hai loại nước ngằm: nước ngầm không có áp lực và nước ngằm có p lực. Nước ngằm không có áp lực: là dang nước được giữ lai trong các lớp đá ngậm nước và lớp đá ni n bên trên lớp đá không thắm như lớp digp thạch hoặc lớp sét nến chất Loại nước ngẫm này có áp suit ắt yếu, nên muốn khu thắc nó phải thì phải đảo giếng xuyên qua lớp đá ngậm rồi dùng bơm hút nước lên.
Nước ngầm loại này thường ở không sâu dưới mặt đất có nhiều trong mia mưa vã ít dồn tong mùa khô. "Nước ngằm có áp lực: là dạng nước được giữ lạ trong các lớp đá ngậm nước và lớp đá này bị kẹp giữa hai lớp sét hoặc diệp thạch không thắm.