Chương I: Tổng quan các nghiên cứu về cửa sông ven biển “Trong chương này, luận văn tập trung đưa ra một số khái niệm về vùng cửa xông ven biển, những nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vin đề nghiên cứu, tổng quan vé kha vc cia sông ven biển ng Lam, - Chương 2: Số liga và phương pháp nghiễn cứu Những nội dung nghiên cứu trong chương 2 bao gồm: Nguồn số liệu ảnh Landsat cho khu vực của sông ven bin sông Lam: cơ sở khoa học giải đoán ảnh Landsat xác định đường bax các tham số chỉnh của ảnh Landsat trong nghiền cứu biển đổi đường bờ: phương pháp và công nghệ phân ch. iải đoán ảnh Landsat để xác định đường bồ phương pháp mô hình toán trong đánh giá đặc điểm thủy động lực vùng cửa sing ven biển ~ Chương 3: Kết quả đánh giá sự biển đổi hình thái và đặc điểm thủy động lực vùng cửa sông ven biên sông Lam Trong chương 3, luận văn tập trung việc ứng dụng mô hình toán trong việc: đánh giá đặc điểm thủy động lực vùng cửa sông ven biển sông Lam bao gồm những. nội dung như: xây đựng các kịch bản tinh toán theo đặc điểm trường gid, thủy tiều. với số iệu thực đo, đặc điểm hình thái cửa biển sông Lam từ kết quả phân tích hình thi cửa sông ven biển sông Lam; hiệu chỉnh và kiểm đỉnh mô hình thủy động lực 2 chiều cho khu vục cia sông ven biển sông Lam; kết quả đánh giá đặc điểm thủy động lục vũng cửa sông ven biển sông Lam theo các kịch bản nghiên CHUONG 1.
TONG QUAN CÁC NGHIÊN CUU VE CUA SONG VEN BIEN 1L. Một số khái niệm về vùng cửa sông ven biển LLL. Khái niệm ‘Theo các tác giả Nguyễn Văn Cư, Hoa Mạnh Hùng, Nguyễn Bá Quy []]. thi thuật ngữ “cưa song” được hiểu theo hai nghĩa: Cửa sông là nơi sông đồ ra biển, ra hồ (hay kho nước) và cửa ng là đoạn cuối cùng của một con sông thông ra biển.
Nhu vậy, cửa sông là vùng giao nhau giữa sông và biển, nó là một "tấp ma” giữa “trắng sing” và “den biển ”, nghĩa là các quá trình diễn biển đồng chảy trong sông con người có thể kiểm soát được, trong khi các quá trình diễn ra ngoài biển thi rắtkhó nắm bắt, chỉ có thể nhận thấy khi nó đã xây ra ước mặn của biển và nước nggt của sing tira độ thủy văn sng sang chế độ thủy văn biển CChế độ đồng chay ở cia sông biển động kéo theo các đc tin lý ha, sinh học, mỗi trường nước, đồng thủy thạch cũng biến động theo. Do vậy, giới hạn của sông thường được sắc định bởi các đầu hiệu đặc điểm như sau: ~ Giới han phía trong cửa sông: La nơi hau như không còn dao động của thủy, triều AH = 0, nó là điểm kết thúc ảnh hưởng của biển vào trong sông. - Giới hạn phía ngoài cửa sông: là nơi dòng chảy lũ lịch sử của con sông đạt "Những đặc điểm cơ bản của cửa sông bao gồm: ~ Chế độ thủy văn vùng cửa sông được hình thành dưới tác động tổng hợp của các quá trình sông - biển và chế độ hải văn biển (sóng gió ven bờ, dòng chảy, dao động mực nước.) ~ Ảnh hưởng của sông được thé hiện qua chế độ ding nước và bùn cát, hiện tượng xôi lòng din xây ra ở phần cửa sông phía trên và bùn cát được lắng đọng ở viing biển phía trước cửa sông. - Ảnh hưởng của biển được thể hiện qua sự dao động của mực nước (thủy triều và nước dâng do gis, bão) gây dồn ứ nước sông, tạo thành đồng chảy ngược ào sông trong mùa kit và kéo theo qui trình truyỄn mặn vào sâu trong sông.
Đặc trưng của vũng cửa sông côn là sự biến động rất lớn vé độ mặn. Mùa kiệt mặn xâm nhập vào sông sâu hơn; khi triều lên độ mặn cũng cao hơn khi triều rit hay ni cách khác sự biển động của độ mặn phụ thuộc vio mùa trong năm, pha 5 triểu và fh dang cửa sông, lòng sông. Hiện nay, việc phân định ranh giới ving cửa sông còn nhiễu ý kiến khác nhau, song đều thống nhất dựa trên 3 dẫu hiệu cơ bản là () digu kiện thủy văn, Gi) điều kiện thay hóa và (iii) hình thái cửa sông. Theo đánh giá của các nhà chuyên môn.
nghiên cứu về hóa học và sinh học thi vùng cửa sông có giới hạn trong sông ở noi nước lợ có độ mặn từ 5% đến giới hạn ngoài khơi là nơi nước Ig biển đổi hoàn toàn. thành nước biển có độ mặn từ 30+32%. Như vậy, vùng cửa sông bao gồm phản cuối cia ding sông và một phần biển nông ven bờ Các chuyên gia thủy văn cho rằng ranh giới phía trong sông của vùng cửa sông là nơi lòng dẫn chính bắt đầu phân nhánh, hoặc là nơi kh ng có ảnh hưởng của thủy triều và nước dng trong mia kiệt và ranh giới ngoài pha in là nơi có chế độ thủy hóa biển tinh mạnh nit trong mùa lũ dhường ly gradient độ mặn ving nước pha trộn làm chỉ tiêu đặc trưng) ‘Tuy nhign, dù cách phân chia nào đi nữa thì ranh giới vùng của sông cũng là tương đối, bởi lẽ đường biên ảnh hưởng của thủy tiểu hay nước đảng và ranh giới vùng nước lợ côn phụ thuộc vào nhiễu yếu tổ ự nhiền khác và cả các ác động của các hoạt động kinh té xa hội 1. Phân đoạn cửu sông xông (phía trên), cửa sông và vùng biển ven bờ trước cửa sông, Ba đoạn của ving cửa sông là một hệ thống ni tại không chỉ có các đặc trưng hình thái khác nhau, mà chế độ thay động lực và điều kiện cảnh quan tự nhiên cũng khắc nhau.Baidin lại phân vùng cửa sông mm 3 đoạn chính: ~ Đoạn trong cửa sông: Đoạn này được chia làm hai dạng một nhánh sông và.
nhiều nhánh sông. Loại một nhánh, đặc trưng nhất là chiều dai của vùng ảnh hưởng. nước dâng, thủy tiểu, xâm nhập mặn và vùng xuất hiện dòng chảy ngược. Loại su nhánh, tong đó thường có 1 đến 2 nhánh chính và nhiều nhánh phụ hoặc các lông dẫn bị thoái hóa, hình thành các hd móng ngựa, dim lầy cửa sông, - Đoạn cửa sông (vùng ngưỡng cửa sông): Là nơi tranh chấp mạnh mẽ giữa quá trình động lực sông - biển.
Đặc điểm đặc trưng nhất của cửa sông là sự hình thành và phát tiễn các va cát bãi bồi ngẫm (ba, doi cát, đảo chắn .Đây là khu vực châu thổ phát trién mạnh nhất nên địa hình day va hình thai bở luôn biển động ~ Vig bién nông trước cia sông: Đoạn này côn được goi là vàng thém bin nông trước cia sông. Theo thỏi gian phát tri của cửa sông, theo dẫu hiệu hình thai đoạn cia sông được phân thành hai dạng: dạng kin và dang hở. Dang kin ứng với cửa sông dang phát tiễn ở giai đoạn đầu (giai đoạn lắp dy vũng vinh và hình thành 6 đồng bằng delta). Dạng hở ứng với cửa sông phát triển có qi trình trao đổi tự do giữa nước sông và nước biển và chịu ảnh hưởng manh của các yếu tổ động lực biển (như đồng chảy ven bờ, sóng gió, thủy tr u, nước dâng.
Vùng biển nông trước “cửa sông bao gồm các khu vực chịu ảnh hưởng của các loại dòng chảy khác nhau: Dòng lũ, dòng triều, dòng trôi, dòng sóng vỗ bờ và vùng nước bị pha trộn mạnh. Ranh giới phân chia các khu vực bién nông cửa sông cũng là tương đổi, do chúng. biến động tùy thuộc vio chế độ lực và điều kiện địa hình ving biển nông ven bờ, rất phức tạp thể hiện mỗi tương tác các yu tổ từ khi quyén, thay quy „ thạch quyển và sinh quyển. Các quả tình động lực vũng cửa sông là quả tình tương tác giữu các yếu tổ động lực từ hai khối nước mặn và nước ngọt, giữa dòng chảy sông và biển, giữa các yếu tổ động lực sông - biển tới các thành tạo dia hình (quá trình tích tụ - mai mòa, vận chuyển bin cát trong sông, van chuyển bai tích ven bờ, tạo thành bãi, kéo dai và pha hùy dng din cửa sông.
Do đỏ, việc nghiên cửu động lực vũng cửa sông phải đặt trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp một cách hệ thông với nhiều chuyên môn. lĩnh vực khác nhau. Cäc cửa sông di thuộc loại nào cũng đều được cấu tạo thành hai đoạn l mốc ngưỡng cạn (bãi chắn cia) lầm gianh giới phân cha 1 2, Cửa sông hình tam giác châu (Delu) ____ b. Cita sing hinh phéu (Estuary) Trong dé 1 là doan tiếp cân của; 2 là đoạn của sông: 3 là bãi biển ngoài cit; 4 là bờ biển; 3 là đường vin bở đắc “Hình 1-1: Phân đoạn cửa sông theo đu hình cửu ‘Theo quan điểm hệ thing, các yếu tổ xác định cấu trúc động lực vùng cửa xông có liên quan hữu cơ với nhau, tương tắc qua lại in nhau trong một hệ tị thống nhất à vũng của sông.
Mối tương tác này thể hiện thông qua 3 nhóm yếu tố tội động lực, nhôm các yêu tổ thay động lực tr triển hình thái chủ yếu tập trung vào nghiên cứu các quá trinh thủy thạch động lực. bao gồm sóng, triều, dòng chảy, xâm nhập mặn v.và quá trình vận chuyển bùn cát gây diễn biến hình thái. Các vấn dé trên đều được thực hiện dựa trên số liệu quan. trắc ngoài hiện trường, các nghiên cứu trên mô hình vật lý, m6 hình toán.
Những nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học động lực hoe dòng sông, chuyển động bùn cát và vấn dé chỉnh trị sông như nghiên cứu xác định nguyên nhân, cơ chế, diễn biển lòng dẫn: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phòng chốn im nhẹ các thiệt hại do xói lờ bờ, bồi lắng lòng dẫn. Những nghiên cứu này đã được quan tâm từ thể kỷ XIX, nhưng phát tiển mạnh từ những năm thập kỷ 30 đến thập ky 60 thé kỷ thứ XX ở các nước Âu Mỹ. Cúc nghiên cứu điển hình là nhà khoa học Pháp Du Boys về chuyển động bin eit, Barrede Saint - Venant về dng không ôn định: L. Fargue về hình thấi đoạn sông un khúe.
Vào những năm dẫu cia thé ky XX, các nhà khoa học của Liên Xô như Lotchin V. đã có các công trình vỀ vận chuyỂn bùn cát: các nhà khoa học Amtunin ST, Grsanin K. có nhiều nghiên cứu về chính trị sống[1] Vao những năm 60, các nh khoa học ở Tây Âu đã cổ nhiều kết quả nghiên cứu về hình thái lòng din như Meyer - Peter và Muller, Kennedly R.Các nha Khoa học của Mỹ như Einstein H. Ven te Chow, Ning chien.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về dòng chảy và chuyển động bùn cát, trên cơ sở đó đánh giá được. diễn biển ling dẫn.