CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về rừng ngập mặn Rừng ngập mặn là một trong những hệ sinh thái quan trọng của hệ thống đất ngập nước - là hệ sinh thái đặc biệt với những điều kiện sinh thái đặc trưng: khí hậu nóng, đất mặn ngập nước quanh năm, hoặc có thuỷ triều lên xuống, thường xuyên thiếu khí và oxy khi ngập nước, đất chưa ổn định, với môi trường đó, một quần hợp thực vật không họ hàng với nhau nhưng có những đặc tính sinh lý giống nhau, thích nghi sinh thái giống nhau tạo nên một kiểu rừng được gọi là rừng ngập mặn (Quách Văn Toàn Em, 2007) [4]. Các hệ sinh thái RNM mang lại lợi ích cho người dân sống ở vùng bờ biển và giúp các nhà khoa học nghiên cứu đất ngập nước và các hệ sinh thái của chúng. Rừng ngập mặn trên thế giới Hiện nay, có rất nhiều các số liệu, tài liệu liên quan đến diện tích RNM trên thế giới.
Theo Spalding và cs (1997) [37] thì diện tích RNM hiện tại chỉ bằng khoảng một nửa tổng diện tích RNM trước đây và phần lớn trong đó là rừng bị suy thoái (UNEP, 2004; MAP, 2005). Theo Spalding và cs (1997) [37] , rừng ngập mặn phân bố chủ yếu từ vĩ độ 25° đến 30° ở hai bán cầu, song ngoại lệ lên tới 32°N đó là vùng Xanhgoogio, Pariso, Bermuda (32°20’N) và ở Nhật Bản (31°22’N) hoặc New Zealand (38°03’S) và phía Nam Australia (38°43’) Rừng ngập mặn phát triển tốt nhất ở dọc các bờ biển nhiệt đới ẩm, ví dụ như các hệ thống đồng bằng bồi đắp bởi các con sông lớn như sông Cửu Long, bán đảo Cà Mau, đảo Java (Indonesia)… Hình 1. Các vùng phân bố RMN trên thế giới [32] Luan van 4 Tomlinson (1986) [35] đã phân chia các quần xã rừng ngập mặn thành 2 nhóm có thành phần loài cây khác nhau. Nhóm phía Đông ứng với Ấn Độ - Thái Bình Dương, với số lượng loài đa dạng và phong phú gấp 5 lần (Spanlding và cs, 1997) [37].
Nhóm phía Tây gồm bờ biển nhiệt đới Châu Phi, Châu Mỹ ở cả Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Ding Hou (1958) khi nghiên cứu về phân bố rừng ngập mặn đã cho rằng, khu vực giữa Malaysia và Bắc Úc là trung tâm tiến hóa của khu vực thực vật ngập mặn. Các nghiên cứu khác lại cho rằng trung tâm này nằm ở Tây Nam và Bắc Úc tới Papua New Guinea. Ở Úc và Papua New Guinea có khoảng 30 loài cây gỗ và cây bụi thuộc 14 họ thực vật có hoa trong khu hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Tại khu vực Đông Nam Á, suy giảm diện tích rừng ngập mặn có mối liên quan mật thiết với các hoạt động của con người (Giri và cộng sự, 2011) [31]. Nguyên nhân quan trọng nhất là do tăng diện tích nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp. Nhiều tác giả cho rằng đất là nhân tố chính giới hạn sự tăng trưởng và phân bố cây ngập mặn (Gledhill, 1963; Giglioli và King, 1966; Clark và Hannonn, 1967; Aksornkoae và cộng sự, 1985). Theo Field (1998) [30], đất và thể nền có tác động đối với phân bố loài cây của rừng ngập mặn.
Hệ sinh thái rừng ngập mặn sinh trưởng tốt nhất ở những vùng ven bờ nơi có năng lượng bùn thấp. Đất ổn định, không bị xói mòn và có độ sâu thích hợp là môi trường thuật lợi cho cây rừng ngập mặn phát triển. Ngoài ra, các yếu tố quan trọng khác như các yếu tố sinh học (khả năng chịu mặn, khả năng phát tán nguồn vật liệu giống và vật hậu), yếu tố vật lý (loại đất, kiểu sóng, độ mặn, chế độ thủy triều) cũng cần được quan tâm. Các yếu tố như vật liệu giống, cây con rễ trần, có bầu hay cây con tự nhiên không làm ảnh hưởng nhiều đến kết quả của phục hồi rừng ngập mặn.
Rừng ngập mặn tại Việt Nam Việt Nam có bờ biển dài khoảng 3.260km với khí hậu nhiệt đới gió mùa và hệ thống sông ngòi dày đặc tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của RNM. Nơi có RNM phát triển tốt nhất là bán đảo Cà Mau. Trước chiến tranh (năm 1943), diện tích RNM Việt Nam là 480.500 ha phân bố chủ yếu ở miền Nam Việt Luan van 5 Nam. Đến năm 1999, diện tích rừng còn lại 156.608 ha trong đó rừng tự nhiên chiếm 38,1% và rừng trồng chiếm 61,95% (Phan Nguyên Hồng và cộng sự, 2007) [8].
Dựa vào các yếu tố địa lý, khảo sát thực địa và một phần kết quả ảnh viễn thám, Phan Nguyên Hồng (1991) [6] đã chia RNM Việt Nam thành 4 khu vực và 12 tiểu khu: - Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn. - Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường. - Khu vực III: Ven biển Trung Bộ, từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu. - Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải- Hà Tiên.
Sự phân bố rừng ngập mặn dọc ven biển Việt Nam được thể hiện qua hình 1. Phân bố rừng ngập mặn dọc ven biển Việt Nam (Nguồn: Phan Nguyên Hồng, 1991) Luan van 6 1) Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc (Quảng Ninh) đến mũi Đồ Sơn (Hải Phòng). Bờ biển Đông Bắc là khu vực phức tạp nhất, thể hiện ở các đặc điểm về địa mạo, thủy văn và khí hậu; có những mặt thuận lợi cho sự phân bố của rừng ngập mặn như có các đảo che chắn, nhưng cũng có những nhân tố hạn chế sự sinh trưởng và mức độ phong phú của các loài cây như lượng mưa không cao, nhiệt độ thấp trong mùa đông, ít phù sa. Rừng ngập mặn tập trung ở các vùng cửa sông như Tiên Yên - Ba Chẽ, nơi có điều kiện thuận lợi cho các cây ngập mặn.
Khu vực này gồm những loài chịu mặn cao, không có các loài ưa nước lợ điển hình, trừ các bãi lầy nằm sâu trong nội địa như Yên Lập và một phần phía Nam sông Bạch Đằng, do chịu ảnh hưởng mạnh của dòng chảy. Đáng chú ý là những loài phổ biển ở đây như đâng, vẹt dù, trang, lại rất ít gặp ở rừng ngập mặn Nam Bộ. Có những loài chỉ phân bố ở khu vực này như chọ, hếp Hải Nam. 2) Khu vực II: Ven biển Đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn (Hải Phòng) đến mũi Lạch Trường (Thanh Hoá) Rừng ngập mặn tự nhiên phát triển ở những vùng cửa sông có dạng hình phễu với sự có mặt của các đảo cát ngầm trước cửa sông và mũi Đồ Sơn, ngăn cản một phần cường độ của sóng.
Ở phía Nam, có địa hình phẳng, bãi triều rộng, giàu phù sa, lượng nước ngọt nhiều về mùa mưa. Nhưng do địa hình trống trải, nên chịu tác động mạnh của sóng do gió bão và gió mùa Đông Bắc tạo nên, nên phần nào ngăn cản hình thành rừng ngập mặn tự nhiên. Quần xã cây ngập mặn gồm những loài ưa nước lợ, trong đó loài ưu thế nhất là bần chua (Sonneratia caseolaris) phân bố ở vùng cửa sông ví dụ như Tiên Lãng (Hải Phòng), cây cao 5 - 10m. Để bảo vệ đê, nhân dân ven biển huyện Thái Thụy, Tiền Hải (Thái Bình), huyện Giao Thủy (Nam Định) và huyện Kim Sơn (Ninh Bình) đã trồng được những dải rừng trang (Kandelia obovata), bần chua (S.
caseolaris) ở phía ngoài đê. Các loài sú và ô rô, tạo thành tầng cây bụi dưới tán của bần, trang. 3) Khu vực III: Ven biển Trung Bộ, từ mũi Lạch Trường (Thanh Hoá) đến mũi Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu) Do địa hình trống trải sóng lớn, bờ biển dốc, các sông ngắn, ít phù sa nên nói chung không có rừng ngập mặn dọc bờ biển, trừ các bờ biển hẹp phía Tây các bán đảo nhỏ ở Nam Trung Bộ như bán đảo Cam Ranh, bán đảo Quy Nhơn (nay rừng ở đây đã không còn do bị phá làm đầm tôm). Chỉ ở phía trong các cửa sông, cây ngập Luan van 7 mặn mọc tự nhiên, thường phân bố không đều, do ảnh hưởng của địa hình và tác động của cát bay.
Ngoài các loài cây ngập mặn ở phía Bắc, có một số loài cây ngập mặn ở phía Nam di cư đến như bần trắng (Sonneratia alba), mắm trắng (Avicennia alba), vẹt khang (Bruguiera cylindrical), cóc đỏ (Lumnizera littorea),. 4) Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải, Hà Tiên (Kiên Giang). Điều kiện tự nhiên ở khu vực này rất thuận lợi cho cây ngập mặn phát triển như nhiệt độ cao, lượng mưa lớn, phù sa màu mỡ, ít khi có bão. Rừng ngập mặn ở khu vực này rất đa dạng, phong phú, với sự có mặt của hầu hết các loài cây ngập mặn ở Việt Nam.
Đầu thế kỷ XX, tại khu vực này có tới trên 250 ngàn ha rừng ngập mặn. Tuy nhiên, phần lớn diện tích rừng ngập mặn tự nhiên ở khu vực này đã bị phá huỷ do chiến tranh và do sức ép của sự gia tăng dân số dẫn đến việc khai thác quá mức và phá rừng ngập mặn nuôi tôm không có kế hoạch làm cho hơn một nửa diện tích ngập mặn của nước ta đã bị mất. RNM Việt nam đã từng bao phủ diện tích khoảng 400. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà diện tích RNM giảm đi rất nhanh.
Trong vòng 57 năm (1943 – 2000) đã mất đi 253.210 ha, chiếm 62% tổng diện tích RNM năm 1943. Điều này cho thấy tốc độ mất RNM ở Việt Nam là rất cao, khoảng 4. Cụ thể tính đến tháng 12/2000, tổng diện tích RNM khoảng 155.290 ha, trong đó RNM tự nhiên chỉ có 32.402 chiếm 21%, diện tích RNM trồng là 122. Ở Việt Nam, RNM khá phong phú về số lượng các loài thực vật: 37 loài cây ngập mặn chính thức, trên 70 loài cây tham gia RNM.
Trong số đó có 30 loài cây cho gỗ, 14 loài cây cho tanin, 24 loài cây dùng làm phân xanh, 21 loài được sử dụng làm thuốc, 21 loài cho mật nuôi ong, 1 loài cho nhựa để sản xuất nước giải khát, đường, cồn (Đỗ Đình Sâm, 2005) [15]. Phùng Trung Ngân và Châu Quang Hiền (1987) đã đề cập đến 7 kiểu thảm thực vật ngập mặn ở Việt Nam: Rừng Mắm hoặc Bần thuần loài, rừng Đước thuần loài, rừng Dừa nước, rừng hỗn hợp vùng triều trung bình, rừng Vẹt - Giá vùng đất cao, Rừng Chà là - Ráng đại và trảng thoái hóa [13] Nguyễn Hoàng Trí (1999) cho rằng loài Đưng không có ở miền Bắc Việt Nam, chỉ có ở ven biển miền Trung và Nam Bộ. Quần xã Đưng tiên phong ở phía Tây bán đảo Cam Ranh, gặp ở phía trong quần xã Mắm trắng, Bần trắng trên đất ngập triều trung bình.