Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tỉnh An Giang nằm ở khu vực đầu nguồn sông Cửu Long khi chảy vào lãnh thổ Việt Nam và giữ vị trí trọng điểm về sản xuất lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Từ năm 1995, huyện Chợ Mới thuộc tỉnh An Giang đã bắt đầu triển khai hệ thống đê bao triệt để (đê bao khép kín) nhằm ngăn lũ, tạo điều kiện thâm canh tăng vụ sản xuất lúa vụ ba (vụ Thu Đông), qua đó gia tăng tổng sản lượng lúa trên một đơn vị diện tích đất canh tác. Tuy nhiên, việc duy trì hệ thống đê bao khép kín trong thời gian dài đã phát sinh nhiều hệ lụy tiêu cực đối với môi trường đất và hệ sinh thái nông nghiệp: đất không được rửa trôi định kỳ dẫn đến tồn đọng độc chất và dư lượng nông dược, hàm lượng ion đồng ($\text{Cu}^{2+}$) và các kim loại nặng có xu hướng gia tăng, nguồn lợi thủy sản suy giảm và đặc biệt là sự thiếu hụt nghiêm trọng lượng phù sa bồi lắng tự nhiên từ nước lũ hàng năm.

Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Chiếm và ctv. (2017) trong giai đoạn 2013–2016 tại tỉnh An Giang đã ghi nhận một thực tế: hàm lượng chất hữu cơ, đạm tổng số và lân tổng số trong đất ruộng thâm canh ở khu vực trong đê bao khép kín vẫn duy trì ở mức khá đến giàu và cao hơn có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) so với đất ngoài đê bao, mặc dù thời gian đê bao đã kéo dài gần 20 năm. Dù vậy, sự tích lũy các chất dinh dưỡng này lại không đồng hành với việc gia tăng năng suất lúa, trong khi lượng phân bón vô cơ nông dân sử dụng ngày càng tăng. Vấn đề khoa học đặt ra là nguồn gốc bổ sung các chất dinh dưỡng vào đất thâm canh đến từ đâu giữa các nguồn như rơm rạ, phù sa ngập lũ hay từ hệ quần xã vi sinh vật bản địa, cụ thể là vi tảo (bao gồm vi tảo phù du, vi tảo sống đáy và vi khuẩn lam có khả năng quang dưỡng, cố định đạm). Cho đến trước thời điểm thực hiện luận án, tỷ lệ đóng góp dinh dưỡng định lượng hàng năm của phù sa và vi tảo đối với môi trường đất trồng lúa vùng đê bao khép kín vẫn chưa được xác định rõ ràng.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu chung: Nghiên cứu khả năng cung cấp khối lượng phù sa bồi lắng, sinh khối và dưỡng chất từ vi tảo và phù sa giúp cải thiện môi trường đất trồng lúa vùng đê bao khép kín.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định khối lượng và hàm lượng dinh dưỡng (NPK dạng tổng) do phù sa bồi lắng cung cấp cho đất ở khu vực trong và ngoài đê bao khép kín.
    2. Xác định ngành vi tảo ưu thế và ước tính tổng sinh khối và hàm lượng các chất dinh dưỡng (NPK dạng tổng) do vi tảo cung cấp cho ruộng lúa thâm canh ở trong đê bao khép kín.
    3. Xác định tỷ lệ đóng góp dinh dưỡng từ phù sa và vi tảo cho đất trồng lúa hàng năm và đánh giá vai trò góp phần cải thiện môi trường đất của chúng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Phù sa bồi lắng từ nguồn nước lũ sông Cửu Long và các nhóm vi tảo (vi tảo phù du, vi tảo đáy và vi khuẩn lam) sống trong hệ sinh thái ruộng lúa thâm canh.
  • Phạm vi không gian:
    • Ruộng lúa thâm canh 3 vụ/năm ở khu vực trong đê bao khép kín và ruộng lúa 2 vụ/năm ở khu vực ngoài đê bao thuộc bốn huyện của tỉnh An Giang: Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn và Châu Phú.
    • Các điểm thu mẫu thực địa chi tiết và đặt đài vật nhân tạo được thực hiện tại ấp Long Hòa 1, xã Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
    • Các thí nghiệm kiểm chứng trong chậu pot được bố trí tại nhà lưới Trường Đại học An Giang.
  • Phạm vi thời gian: Toàn bộ công trình được triển khai trong giai đoạn 5 năm (2013–2018), cụ thể:
    • Khảo sát khối lượng và chất lượng phù sa bồi lắng: các mùa lũ từ năm 2013 đến năm 2015.
    • Thí nghiệm bổ sung phù sa vào đất trồng lúa: vụ Đông Xuân 2013–2014 (tiền kiểm chứng) và vụ Đông Xuân 2014–2015.
    • Khảo sát đa dạng sinh học, mật độ và sinh khối vi tảo: 3 vụ canh tác liên tục gồm vụ Thu Đông 2016 (tháng 8–12/2016), vụ Đông Xuân 2016–2017 (tháng 12/2016–03/2017) và vụ Hè Thu 2017 (tháng 5–8/2017).
    • Thí nghiệm đánh giá tác động của độ che rợp tán lá lúa và phân bón đến sinh khối vi tảo: vụ Đông Xuân 2017–2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước được tác giả tổng quan

Tác giả luận án đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp đến các trục nội dung:

  1. Nghiên cứu về sự bồi đắp và thành phần dinh dưỡng của phù sa:

    • Nghiên cứu của Trương Thị Nga (1999) xác định lượng phù sa bồi lắng tại xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú năm 1998 đạt khoảng 100 tấn/ha và phân tích hàm lượng N, P, K tổng số trong phù sa mùa lũ 1999 tại Thoại Sơn, Châu Phú, Chợ Mới.
    • Dương Văn Nhã (2003, 2005) xác định lượng phù sa bồi lắng tại Bắc Vàm Nao năm 2000 đạt từ 35–80 tấn/ha, đồng thời công bố số liệu chi tiết về tính chất hóa học của phù sa lũ năm 2002 tại An Giang với hàm lượng chất hữu cơ trung bình 2,69 tấn/ha, đạm tổng số 199 kg/ha, lân tổng số 146 kg/ha, $\text{Ca}^{2+}$ 278 kg/ha.
    • Bùi Đạt Trâm (2006) và Tô Văn Trường (2014) khảo sát sự vận chuyển phù sa lơ lửng sông Cửu Long và chỉ ra sự suy giảm phù sa khi đi sâu vào vùng nội đồng Tứ giác Long Xuyên (giảm từ 25% ở cự ly 15 km đến 75% ở cự ly 60 km).
    • Dương Minh Viễn và ctv. (2010, 2013) đánh giá tác động của phù sa đến độ phì nhiêu đất và năng suất lúa qua 5 năm thí nghiệm tại Tịnh Biên và Vĩnh Ngươn (Châu Đốc).
    • Lý Ngọc Thanh Xuân (2011) so sánh các đặc tính hóa học và độ xốp của đất trồng lúa giữa vùng xả lũ định kỳ 3 năm/lần (Phú Tân) và vùng không xả lũ (Chợ Mới).
  2. Nghiên cứu về tác động bất lợi của hệ thống đê bao triệt để:

    • Các công bố của Trần Như Hối (2005), Trần Anh Thư và ctv. (2013), Huỳnh Đào Nguyên và Võ Thị Gương (2010a), Lê Quốc Tuấn và Phạm Thị Bích Diễm (2014) và Trần Thành và ctv. (2014) đã chứng minh tình trạng gia tăng sử dụng phân bón hóa học (tăng từ 20–50% lượng lân và kali), suy giảm năng suất lúa (trung bình giảm 16,6% sau 4 năm canh tác 3 vụ), sự tích lũy dư lượng kim loại nặng (Zn, Cu, Pb, Cd) và thuốc bảo vệ thực vật trong đất và nước kênh rạch.
  3. Nghiên cứu về phân loại học, sinh lý sinh thái và khả năng cố định đạm của vi tảo và vi khuẩn lam:

    • Hệ thống phân loại và điều tra thủy vực nước ngọt của Dương Đức Tiến (1982, 1996), Đặng Đình Kim và Đặng Hoàng Phước Hiền (1999), Đặng Thị Sy (2005), Nguyễn Bá (2007), Hoàng Thị Sản (2009), Vũ Ngọc Út và Dương Thị Hoàng Oanh (2013), Đào Thanh Sơn và Nguyễn Thanh Tùng (2013).
    • Các nghiên cứu về vi khuẩn lam cố định đạm trong ruộng lúa trên thế giới của Roger and Reynaud (1977, 1979), Roger et al. (1987a, 1996), Ramesh (2004), Sandhyarani and Kumar (2014), Kemprai (2013), Malhotra (2011), Smith (2008), Bothe et al. (2010); và tại Việt Nam của Nguyễn Thị Minh Lan (1995), Võ Hành và ctv. (2006), Hoàng Phương Hà và ctv., Nguyễn Đức Diện và ctv. (2017) theo hệ thống Komárek (2013).
  4. Nghiên cứu thành phần vi tảo trên hệ thống sông ngòi Việt Nam:

    • Lê Thị Thúy Hà và ctv. (2003), Võ Hành và Nguyễn Thị Thơm (2011) trên sông Mã; Hồ Sỹ Hạnh và ctv. (2011) tại các cửa sông Hàm Luông, Cửa Đại, Trần Đề; Huỳnh Vũ Ngọc Quý và ctv. (2011) trên sông Hậu; Dương Thị Thủy và ctv. (2012) trên sông Nhuệ – Đáy; Lưu Thị Thanh Nhàn (2013) trên sông La Ngà; Pham Thanh Luu (2017) trên sông Đồng Nai; Phạm Thanh Lưu và ctv. (2017) trên sông Ba Lai; Trần Thị Hoàng Yến và ctv. (2018) trên sông Hàm Luông.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các nghiên cứu trước đã ghi nhận vai trò dinh dưỡng của phù sa và sự hiện diện của vi tảo trong đất lúa, nhưng chưa có công trình nào tích hợp đồng thời việc định lượng khối lượng và dưỡng chất phù sa bị mất đi do đê bao khép kín tại An Giang trong điều kiện lũ vừa và nhỏ (2013–2015), đi kèm với việc điều tra định lượng có hệ thống về cấu trúc quần xã, mật độ, động thái sinh khối và hàm lượng dinh dưỡng của cả vi tảo phù du và vi tảo sống đáy trong suốt chu kỳ sinh trưởng của cây lúa qua nhiều vụ liên tiếp. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách định lượng hóa tỷ lệ cung cấp đạm, lân, kali từ phù sa và vi tảo so với nhu cầu bón phân thực tế của nông dân.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Cơ chế quang tự dưỡng và chuyển hóa carbon của vi tảo: Vi tảo sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời qua hệ sắc tố quang hợp để khử $\text{CO}_2$ và $\text{H}_2\text{O}$ tạo thành carbon hữu cơ theo phản ứng: $$6\text{CO}_2 + 6\text{H}_2\text{O} \xrightarrow{\text{ánh sáng}} \text{C}6\text{H}{12}\text{O}_6 + 6\text{O}_2$$
  • Chu trình sinh hóa của nitrogen trong ruộng lúa:
    • Cố định đạm sinh học bởi các loài vi khuẩn lam có dị bào (heterocyst) nhờ phức hợp enzyme nitrogenase theo phản ứng: $$\text{N}_2 + 8\text{H}^+ + 8e^- + 16\text{MgATP} \rightarrow 2\text{NH}_3 + 16\text{MgADP} + 16\text{P}_i + \text{H}_2$$
    • Quá trình amon hóa (khoáng hóa chất hữu cơ chứa nitơ thành $\text{NH}_4^+$), quá trình nitrate hóa hai giai đoạn qua hoạt động của vi khuẩn Nitrosomonas và Nitrobacter: $$\text{NH}_3 + \text{O}_2 + 2\text{H}^+ \xrightarrow{\text{Ammonia monooxygenase}} \text{NH}_2\text{OH} + \text{H}_2\text{O}$$ $$\text{NH}_3 + \frac{3}{2}\text{O}_2 \xrightarrow{\text{Hydroxylamine oxidoreductase}} \text{NO}_2^- + \text{H}^+ + \text{H}_2\text{O}$$ $$\text{NO}_2^- + \frac{1}{2}\text{O}_2 \xrightarrow{\textit{Nitrobacter}} \text{NO}_3^-$$
    • Thủy phân phân bón urea qua enzyme urease và allophanate lyase; quá trình khử nitrate/phản nitrate hóa chuyển $\text{NO}_3^-$ thành $\text{N}_2\text{O}$ và $\text{N}_2$ thoát vào khí quyển.
  • Chuyển hóa phosphorus: Tảo hấp thụ chủ yếu dạng orthophosphate ($\text{H}_2\text{PO}_4^-$, $\text{HPO}_4^{2-}$, $\text{PO}_4^{3-}$). Các hợp chất lân hữu cơ được chuyển hóa thành dạng vô cơ nhờ enzyme phosphatase ngoại bào và nội bào của vi tảo.
  • Tỷ lệ dinh dưỡng tế bào: Tỷ lệ nguyên tố $\text{C} : \text{H} : \text{O} : \text{N} : \text{P}$ trong sinh khối tảo là $42 : 8,5 : 57 : 7 : 1$ (theo Round, 1975). Tỷ lệ $\text{N} : \text{P}$ tối ưu dao động từ $16–23 : 1$ đối với tảo nhân thật và $10–16 : 1$ đối với vi khuẩn lam.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng thực địa, thí nghiệm kiểm chứng trong nhà lưới và các kỹ thuật phân tích hóa lý, sinh học trong phòng thí nghiệm:

  1. Khảo sát bồi lắng phù sa thực địa:

    • Bố trí hệ thống bẫy thu phù sa chuyên dụng đặt tại các điểm trong và ngoài đê bao khép kín ở bốn huyện (Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn, Châu Phú) trong các mùa lũ 2013, 2014 và 2015.
    • Ghi nhận độ dày tầng phù sa bồi lắng, thời gian ngập lũ và thu thập mẫu phù sa, mẫu đất mặt ($0–20\text{ cm}$) để phân tích.
  2. Bố trí thí nghiệm nhà lưới (Trường Đại học An Giang):

    • Thí nghiệm bổ sung phù sa vụ Đông Xuân 2014–2015: Thiết kế chậu pot bổ sung các mức khối lượng phù sa từ 1,2 kg đến 2,4 kg vào 3,8 kg đất ruộng (tổng khối lượng 5,0 kg hỗn hợp đất/chậu) kết hợp các mức phân bón hóa học khác nhau (từ 0% đến 100% khuyến cáo), có nghiệm thức đối chứng (5,0 kg đất + 0% phân bón; 5,0 kg đất + 100% phân bón) nhằm đánh giá sự thay đổi đặc tính hóa học đất sau thu hoạch và các chỉ tiêu cấu thành năng suất lúa (chiều cao, số chồi, số bông, chiều dài bông, trọng lượng 1000 hạt, khối lượng hạt chắc, sinh khối rơm).
    • Thí nghiệm che rợp tán lá và phân bón vụ Đông Xuân 2017–2018: Bố trí các nghiệm thức có trồng lúa và không trồng lúa (NL1, NL2) với các mức bón phân khác nhau nhằm xác định ảnh hưởng của ánh sáng che rợp bởi tán lá lúa đến sự phát triển sinh khối của vi tảo phù du.
  3. Khảo sát quần xã vi tảo và chất lượng nước ngoài đồng ruộng:

    • Thu mẫu nước và vi tảo phù du định kỳ bằng ống thu mẫu và lưới vớt thực vật phù du chuyên dụng tại các ruộng lúa và kênh cấp nước liền kề tại xã Long Kiến, huyện Chợ Mới qua 3 vụ canh tác (Thu Đông 2016, Đông Xuân 2016–2017, Hè Thu 2017).
    • Thu mẫu tảo sống đáy thông qua việc bố trí giá thể/đài vật nhân tạo (gạch thẻ tiêu chuẩn) đặt chìm trên mặt ruộng.
    • Tần suất thu mẫu được phân chia chi tiết theo các mốc phát triển của cây lúa (ngày sau sạ - NSS) và các đợt bón phân (ngày sau bón - NSB).
  4. Kỹ thuật phân tích phòng thí nghiệm và xử lý số liệu:

    • Chỉ tiêu đất và phù sa: Thành phần cơ giới (sa cấu), pH, độ dẫn điện (EC), dung tích hấp thu cation (CEC), hàm lượng carbon hữu cơ (C hữu cơ), đạm tổng số, lân tổng số, kali tổng số, các cation trao đổi ($\text{Ca}^{2+}$, $\text{Mg}^{2+}$, $\text{K}^+$, $\text{Na}^+$).
    • Chỉ tiêu nước: Nhiệt độ, pH, oxy hòa tan (DO), ammonium ($\text{NH}_4^+$), nitrate ($\text{NO}_3^-$), phosphate ($\text{PO}_4^{3-}$).
    • Chỉ tiêu vi tảo: Định danh hình thái học dưới kính hiển vi quang học; đếm mật độ cá thể/L (tảo phù du) và cá thể/$\text{m}^2$ (tảo đáy); tính toán chỉ số đa dạng loài Margalef ($d$); xác định hàm lượng Chlorophyll-a; cân xác định sinh khối tươi và sinh khối khô (SKK); phân tích hàm lượng N, P, K tổng số tích lũy trong mô tế bào vi tảo.
    • Xử lý thống kê: Phân tích phương sai một nhân tố và nhiều nhân tố (ANOVA), kiểm định sai biệt trung bình bằng phép thử Duncan ở mức ý nghĩa $p < 0,05$, phân tích tương quan và xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính giữa các biến số môi trường, thời gian ngập lũ và sinh khối/mật độ tảo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương này trình bày bối cảnh thâm canh nông nghiệp tại tỉnh An Giang và vùng ĐBSCL. Tác giả luận giải mâu thuẫn giữa việc gia tăng sản lượng nhờ hệ thống đê bao khép kín phục vụ lúa 3 vụ với tình trạng suy thoái chất lượng môi trường đất do mất nguồn phù sa lũ tự nhiên. Chương xác lập mục tiêu nghiên cứu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, 3 nội dung nghiên cứu chính, đối tượng, phạm vi thời gian (2013–2018), không gian (4 huyện tỉnh An Giang) cùng ý nghĩa khoa học, thực tiễn và tính mới của luận án.

Chương 2: Tổng quan tài liệu

Chương 2 tổng hợp cơ sở lý luận và các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về:

  • Quá trình bồi đắp, thành phần cơ giới, thành phần hóa học của phù sa sông Cửu Long và tác động của đê bao khép kín đến sự suy giảm độ phì, tích lũy kim loại nặng và gia tăng chi phí phân bón.
  • Đặc điểm sinh học, hệ thống phân loại 10 ngành vi tảo, quá trình chuyển hóa các hợp chất carbon, nitrogen, phosphorus trong môi trường nước và cơ chế cố định đạm của vi khuẩn lam có dị bào.
  • Mối quan hệ tương tác sinh thái giữa vi tảo với các yếu tố môi trường (nhiệt độ, pH, nồng độ $\text{NH}_4^+$, $\text{NO}_3^-$, $\text{PO}_4^{3-}$, tỷ lệ $\text{N} : \text{P}$), với phù sa bồi lắng và với quần thể sinh vật ăn tảo (grazers).
  • Tổng quan về điều kiện tự nhiên, hệ thống đê bao, hiện trạng sản xuất lúa tại tỉnh An Giang và huyện Chợ Mới.

Chương 3: Phương tiện và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 mô tả toàn bộ công cụ, hóa chất, thiết bị, phần mềm, khóa phân loại định danh hình thái tảo và quy trình thực nghiệm:

  • Phương pháp bố trí bẫy phù sa ngoài đồng ruộng tại Thoại Sơn, Phú Tân, Chợ Mới, Châu Phú.
  • Quy trình bố trí thí nghiệm chậu pot đánh giá hiệu quả bổ sung phù sa đến môi trường đất và năng suất hạt lúa chắc (vụ Đông Xuân 2014–2015).
  • Phương pháp điều tra đa dạng vi tảo trong kênh và ruộng lúa thâm canh tại xã Long Kiến (Chợ Mới) qua 3 vụ canh tác (Thu Đông 2016, Đông Xuân 2016–2017, Hè Thu 2017) và thí nghiệm che rợp tán lá (vụ Đông Xuân 2017–2018).
  • Các phương pháp tiêu chuẩn phân tích đất, nước, mô vi tảo và quy trình phân tích thống kê toán học.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

4.1 Đánh giá khối lượng phù sa bồi lắng và khả năng cải thiện môi trường đất, khối lượng hạt chắc

Kết quả khảo sát trong giai đoạn 2013–2015 cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về lượng phù sa bồi lắng giữa hai khu vực:

  • Khối lượng phù sa bồi lắng trung bình ở khu vực ngoài đê bao đạt 22,5 tấn/ha, cao gấp 5 lần so với khu vực trong đê bao khép kín (4,43 tấn/ha).
  • Khi tiến hành đê bao khép kín ngăn lũ, hàng năm lượng chất dinh dưỡng cung cấp từ phù sa bị mất đi tương ứng là 121 kg N/ha, 34,3 kg $\text{P}_2\text{O}_5$/ha và 262 kg $\text{K}_2\text{O}$/ha.
  • Phù sa bồi lắng có thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng chất hữu cơ và dung tích hấp thu cation (CEC) cao, giúp cải thiện lý tính và hóa tính đất mặt.
  • Kết quả thí nghiệm chậu pot vụ Đông Xuân 2014–2015 chứng minh: khi bổ sung lượng phù sa từ 1,2 đến 2,4 kg/chậu (hoàn toàn không bón thêm phân hóa học), hàm lượng carbon hữu cơ trong đất sau thu hoạch tăng từ 1,5 đến 1,58 lần và lân tổng số tăng từ 1,29 đến 1,59 lần so với đất đầu vụ; đồng thời khối lượng hạt lúa chắc tăng gấp 2,5 lần so với nghiệm thức đối chứng không bổ sung phù sa và không bón phân.
  • Tác giả đã thiết lập được phương trình tương quan hồi quy tuyến tính đơn biến có ý nghĩa giữa khối lượng phù sa bồi lắng với thời gian ngập lũ tại các tiểu vùng.

4.2 Đa dạng loài, mật độ và sinh khối của vi tảo trong ruộng lúa

Qua 3 vụ khảo sát liên tiếp tại ruộng lúa thâm canh xã Long Kiến, huyện Chợ Mới, tác giả đã phát hiện và định danh:

  • Tổng cộng 445 loài vi tảo, bao gồm 407 taxon vi tảo phù du và 157 taxon vi tảo sống đáy, thuộc 4 ngành: Tảo lục (Chlorophyta), Tảo khuê (Bacillariophyta), Tảo mắt (Euglenophyta) và Vi khuẩn lam (Cyanobacteria).
  • Ngành Tảo lục (Chlorophyta) chiếm ưu thế lớn nhất về cấu trúc thành phần loài trong tất cả các vụ khảo sát.
  • Ghi nhận sự hiện diện của 6 loài vi khuẩn lam có dị bào có khả năng cố định đạm tự do gồm: Anabaena affinis Lemm, Anabaena circinalis, Anabaena oscillarioides, Anabaenopsis elenkinii, Calothrix aeruginosa và Aphanizomenon flos-aquae. Trong đó, loài Anabaena oscillarioides phát triển với mật độ cá thể rất cao ở đầu giai đoạn lúa đẻ nhánh trong vụ Hè Thu 2017.
  • Mật độ và sinh khối vi tảo biến động mạnh theo các đợt bón phân (tăng vọt sau các đợt bón phân lân và đạm từ 1–3 ngày) và theo độ che phủ của tán lá lúa (thí nghiệm vụ Đông Xuân 2017–2018 cho thấy khi tán lá lúa che rợp mạnh làm giảm cường độ ánh sáng chiếu xuống mặt nước, sinh khối tảo phù du giảm đáng kể so với nghiệm thức không trồng lúa).
  • Hàng năm, tổng lượng sinh khối do tảo phù du và tảo đáy cung cấp cho đất trồng lúa ước đạt khoảng 1,08 tấn/ha/năm (tính theo sinh khối tươi).
  • Hàm lượng lân tổng số trong sinh khối tảo cao gấp 2,1 lần so với trong rơm rạ. Dù hàm lượng đạm tổng số trong mô tảo bằng 0,71 lần so với phù sa, nhưng đạm trong tảo tồn tại ở dạng hữu cơ dễ khoáng hóa và dạng dễ tiêu, giúp cây lúa hấp thụ nhanh chóng và hoàn trả nguồn dinh dưỡng hữu dụng cho đất khi tế bào tảo chết và phân rã.

4.3 Ước tính tỷ lệ đóng góp dinh dưỡng của phù sa và vi tảo cho đất lúa hàng năm

Kết hợp các số liệu phân tích nồng độ N, P, K trong phù sa mùa lũ và sinh khối vi tảo, luận án lượng hóa khả năng cung cấp dinh dưỡng cho ruộng lúa thâm canh trong đê bao khép kín:

  • Tổng lượng dưỡng chất do phù sa và vi tảo cung cấp hàng năm cho đất đạt 14,9 kg N/ha, 10,9 kg P/ha và 64,2 kg K/ha.
  • Khi so sánh với tổng lượng phân bón hóa học nguyên chất ($\text{N}$, $\text{P}_2\text{O}_5$, $\text{K}_2\text{O}$) mà nông dân địa phương thực tế bón cho cây lúa hàng năm, lượng dinh dưỡng từ phù sa và vi tảo đóng góp tỷ lệ tương ứng là 3,98% N, 4,03% $\text{P}_2\text{O}_5$ và 41,1% $\text{K}_2\text{O}$.
  • Riêng nguồn dinh dưỡng từ phù sa đóng góp tương ứng 3,85% N, 3,95% $\text{P}_2\text{O}_5$ và 40,3% $\text{K}_2\text{O}$ tổng lượng phân bón hóa học. Dinh dưỡng trực tiếp từ sinh khối vi tảo đóng góp 0,465 kg N/ha, 0,197 kg P/ha và 1,26 kg K/ha (chưa tính lượng đạm cố định sinh học thực tế bổ sung vào môi trường của vi khuẩn lam).
Chỉ tiêu dinh dưỡng Lượng mất đi khi đê bao khép kín (kg/ha/năm) Lượng phù sa và vi tảo cung cấp (kg/ha/năm) Tỷ lệ đóng góp so với lượng phân hóa học nông dân bón (%)
Đạm ($\text{N}$) 121 14,9 3,98%
Lân ($\text{P}_2\text{O}_5$ / $\text{P}$) 34,3 10,9 4,03%
Kali ($\text{K}_2\text{O}$ / $\text{K}$) 262 64,2 41,1%

Chương 5: Kết luận và đề xuất

Chương 5 tổng hợp toàn bộ các kết luận rút ra từ các chuỗi thực nghiệm và khảo sát thực địa, khẳng định vai trò bổ trợ của phù sa và vi tảo trong việc cải thiện môi trường hóa học đất và duy trì cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các khuyến nghị ứng dụng kỹ thuật và điều hành hệ thống thủy lợi vùng đê bao.


Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Lượng hóa sự mất mát phù sa và dinh dưỡng do đê bao khép kín: Cung cấp cơ sở khoa học định lượng chứng minh sự suy giảm khối lượng phù sa bồi lắng ở vùng đê bao khép kín (chỉ đạt 4,43 tấn/ha so với 22,5 tấn/ha ở ngoài đê), xác định lượng N, P, K bị thất thoát hàng năm và thiết lập phương trình hồi quy đơn biến mô tả mối quan hệ giữa khối lượng phù sa bồi lắng với thời gian ngập lũ tại An Giang.
  2. Lý giải nguyên nhân duy trì độ phì nhiêu của đất đê bao lâu năm: Chứng minh việc hàm lượng chất hữu cơ và đạm, lân tổng số trong đất thâm canh trong đê bao vẫn ở mức khá đến giàu sau nhiều năm bao đê là nhờ sự tích lũy sinh khối liên tục của quần xã vi tảo (1,08 tấn tươi/ha/năm) và khả năng cố định đạm sinh học của các loài vi khuẩn lam có dị bào.
  3. Bổ sung cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học thủy sinh: Phát hiện và định danh 445 loài vi tảo phù du và vi tảo sống đáy trong hệ sinh thái ruộng lúa thâm canh 3 vụ tại ĐBSCL, ghi nhận 6 loài vi khuẩn lam có dị bào (Anabaena affinis Lemm, Anabaena circinalis, Anabaena oscillarioides, Anabaenopsis elenkinii, Calothrix aeruginosa, Aphanizomenon flos-aquae), xây dựng bộ sưu tập hình ảnh vi tảo phục vụ công tác tra cứu.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Định lượng tỷ lệ thay thế phân bón: Xác định lượng N, P, K do phù sa và vi tảo cung cấp tương đương 3,98% N, 4,03% $\text{P}_2\text{O}_5$ và 41,1% $\text{K}_2\text{O}$ tổng lượng phân hóa học nông dân bón hàng năm, làm căn cứ điều chỉnh công thức bón phân cân đối, đặc biệt là giảm lượng phân kali bón cho lúa.
  2. Cung cấp luận cứ điều hành hệ thống đê bao: Cung cấp số liệu thực nghiệm làm cơ sở khoa học cho Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh An Giang trong việc xây dựng quy chế vận hành cống, chủ động xả lũ đón phù sa.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Áp dụng chế độ xả lũ định kỳ: Cần thực hiện việc mở đê xả lũ vào vụ Thu Đông ở các tiểu vùng đê bao khép kín để đón nhận phù sa bồi đắp dinh dưỡng cho đất, thau chua rửa phèn, rửa trôi độc chất và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng, đồng thời tạo nguồn nước bổ sung vi tảo tự nhiên vào đồng ruộng.
  • Tận dụng nguồn đạm sinh học từ vi khuẩn lam: Trong canh tác vụ Hè Thu, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp (như điều tiết mực nước, bón phân lân hợp lý ở giai đoạn đầu vụ) nhằm kích thích sự bùng phát mật độ của loài vi khuẩn lam có dị bào Anabaena oscillarioides ở giai đoạn lúa đẻ nhánh để nâng cao hiệu quả cố định đạm tự nhiên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu được thực hiện tập trung trên địa bàn 4 huyện của tỉnh An Giang (trọng tâm khảo sát chi tiết tại huyện Chợ Mới) trong giai đoạn các mùa lũ 2013–2015 (những năm có đỉnh lũ vừa và nhỏ), do đó các thông số bồi lắng phù sa cần được kiểm chứng thêm ở các năm có lũ lớn hoặc các tiểu vùng sinh thái khác của ĐBSCL.
  • Hạn chế trong phương pháp định lượng cố định đạm: Tỷ lệ đóng góp đạm từ vi tảo trong luận án mới chỉ tính toán dựa trên tổng lượng nitơ tích lũy trong sinh khối tươi/khô của vi tảo thu thập được; chưa tiến hành đo lường trực tiếp hoạt độ enzyme nitrogenase bằng phương pháp khử acetylene (ARA) hoặc đánh dấu đồng vị bền $^{15}\text{N}$ ngoài đồng ruộng để định lượng chính xác tuyệt đối lượng đạm khí quyển do các loài vi khuẩn lam cố định bổ sung vào đất.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu đánh giá vai trò của vi khuẩn lam cố định đạm dưới các chế độ quản lý nước khác nhau (như kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ - AWD) và thử nghiệm các chế phẩm vi sinh từ vi khuẩn lam bản địa nhằm giảm thiểu lượng phân đạm khoáng trong canh tác lúa thâm canh.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách: Nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho cán bộ ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tài nguyên và Môi trường tại tỉnh An Giang và các tỉnh vùng lũ ĐBSCL trong việc lập kế hoạch vận hành hệ thống đê bao, quy hoạch chu kỳ xả lũ (sản xuất 8 vụ lúa/3 năm thay vì thâm canh 3 vụ liên tục quanh năm).
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án cung cấp hệ thống phương pháp luận hoàn chỉnh từ việc đặt bẫy phù sa ngoài đồng, thiết kế giá thể nhân tạo thu mẫu tảo đáy, bố trí thí nghiệm chậu pot đánh giá độ che rợp tán lá đến quy trình phân tích dinh dưỡng vi mô; đồng thời danh lục 445 loài vi tảo cùng hệ thống ảnh chụp vi học là tài liệu chuyên khảo cho các ngành Môi trường Đất – Nước, Khoa học Môi trường, Nông học và Thủy sinh học.
  • Đối với người nông dân: Kết quả định lượng dinh dưỡng là cơ sở thực tế để nông dân vùng đê bao nhận thức rõ lợi ích của việc tiếp nhận nước lũ và điều chỉnh giảm lượng phân kali bón cho ruộng lúa khi có phù sa và vi tảo phát triển.

Câu hỏi thường gặp

1. Việc đê bao khép kín làm giảm khối lượng phù sa bồi lắng và thất thoát dinh dưỡng hàng năm ở mức độ nào?

Theo số liệu khảo sát thực địa giai đoạn 2013–2015 của luận án tại tỉnh An Giang, khối lượng phù sa bồi lắng ở khu vực ngoài đê bao đạt trung bình 22,5 tấn/ha, cao gấp 5 lần so với khu vực trong đê bao khép kín (chỉ đạt 4,43 tấn/ha). Khi đê bao khép kín ngăn lũ, lượng dinh dưỡng từ phù sa mất đi hàng năm cho mỗi hecta đất lúa tương ứng là 121 kg N, 34,3 kg $\text{P}_2\text{O}_5$ và 262 kg $\text{K}_2\text{O}$.

2. Thành phần loài vi tảo trong ruộng lúa thâm canh được ghi nhận gồm những ngành nào và ngành nào chiếm ưu thế?

Luận án đã ghi nhận tổng cộng 445 loài vi tảo (gồm 407 taxon vi tảo phù du và 157 taxon vi tảo sống đáy) thuộc 4 ngành: Tảo lục (Chlorophyta), Tảo khuê (Bacillariophyta), Tảo mắt (Euglenophyta) và Vi khuẩn lam (Cyanobacteria). Trong đó, ngành Tảo lục (Chlorophyta) là ngành có độ đa dạng về cấu trúc thành phần loài cao nhất qua cả ba vụ khảo sát.

3. Những loài vi khuẩn lam nào có khả năng cố định đạm được phát hiện trong ruộng lúa nghiên cứu?

Nghiên cứu đã phát hiện sự hiện diện của 6 loài vi khuẩn lam có tế bào dị bào (heterocyst) có khả năng cố định đạm tự do gồm: Anabaena affinis Lemm, Anabaena circinalis, Anabaena oscillarioides, Anabaenopsis elenkinii, Calothrix aeruginosa và Aphanizomenon flos-aquae. Trong đó, loài Anabaena oscillarioides xuất hiện với mật độ cá thể rất cao ở giai đoạn đầu đẻ nhánh của cây lúa trong vụ Hè Thu 2017.

4. Phù sa và vi tảo đóng góp bao nhiêu phần trăm nhu cầu phân bón NPK mà nông dân bón cho cây lúa hàng năm?

Hàng năm, phù sa và vi tảo cung cấp cho đất trồng lúa lượng dưỡng chất tổng số tương ứng là 14,9 kg N/ha, 10,9 kg P/ha và 64,2 kg K/ha. Lượng dưỡng chất này đáp ứng tương ứng 3,98% N, 4,03% $\text{P}_2\text{O}_5$ và 41,1% $\text{K}_2\text{O}$ tổng lượng phân bón hóa học nguyên chất mà người nông dân địa phương thực tế bón cho cây lúa hàng năm.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của NCS. Bùi Thị Mai Phụng đã định lượng hóa một cách khoa học khối lượng phù sa bồi lắng bị suy giảm và mức độ thất thoát dinh dưỡng do tác động của đê bao khép kín tại tỉnh An Giang. Nghiên cứu đã chứng minh vai trò quan trọng của phù sa và quần xã 445 loài vi tảo (đặc biệt là 6 loài vi khuẩn lam có dị bào) trong việc bồi hoàn chất hữu cơ, cải thiện đặc tính hóa học đất và cung cấp một lượng đạm, lân, kali đáng kể (đáp ứng tới 41,1% nhu cầu phân kali). Các kết quả thực nghiệm này là cơ sở khoa học vững chắc hỗ trợ công tác quản lý tài nguyên đất, cung cấp luận cứ cho việc xả lũ định kỳ vụ Thu Đông và điều chỉnh kỹ thuật canh tác nhằm hướng tới sản xuất lúa bền vững tại Đồng bằng sông Cửu Long.