Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP 1. Nghiên cứu về tạo lập môi trường cho hoạt động kinh doanh nông nghiệp và khung chính sách nông nghiệp Gabor Konig Carlos A. da Silva và Nomathemba Mhlanga (2013) trong nghiên cứu “Tạo lập môi trường cho kinh doanh nông nghiệp và các lĩnh vực nông nghiệp phát triển: Quan điểm khu vực và quốc gia” (Enabling environmentsforagribusinessandagro-industriesdevelopment: Regional andcountryperspectives) cho rằng:Những năm gần đây đã chứng kiến những nỗ lực gia tăng của các quốc gia và các cơ quan phát triển thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh như một cách để thúc đẩy khu vực tư nhân đầu tư vào tăng trưởng kinh tế.
Số lượng ngày càng tăng của các tổ chức tham gia vào những nỗ lực này, bao gồm việc tìm cách phát triển các chỉ số định lượng sự thuận lợi trong môi trường kinh doanh khác nhau và xếp hạng các quốc gia theo các tiêu chí này. Những nỗ lực để đánh giá và đo lường sự thuận lợi trong kinh doanh đã chứng tỏ thành công, chủ yếu trong việc chỉ ra các lĩnh vực cần cải cách để giảm chi phí và thông qua bảng xếp hạng quốc gia để kích hoạt cải cách môi trường kinh doanh. Trong thực tế, việc kiểm tra thứ hạng quốc gia để dễ dàng kinh doanh cho thấy rằng một số quốc gia xếp hạng hàng đầu khó có thể được coi là triển vọng tốt cho đầu tư kinh doanh nông nghiệp, trong khi các nền kinh tế khác không xếp hạng cũng là điểm đến lựa chọn cho đầu tư trong các lĩnh vực này. Những nhà hoạch định chính sách Luận văn tiến sĩ Kinh tế 6 phát triển doanh nghiệp nông nghiệp cần lưu ý rằng mặc dù xu hướng kinh doanh thuận lợi cho đầu tư vào kinh doanh nông nghiệp là quan trọng, nhưng các nhà đầu tư không thể tự đảm bảo rằng các khoản đầu tư như vậy sẽ mang lại hiệu quả trong tương lai bởi vì kinh doanh nông nghiệp tiềm ẩn rất nhiều rủi ro từ thiên tai, dịch bệnh, mùa vụ.
Ngoài những nỗ lực kích hoạt môi trường để phát triển kinh doanh nông nghiệp để cải thiện môi trường kinh doanh, cũng cần phải đảm bảo rằng lợi tức đầu tư đủ hấp dẫn để bù đắp cho hạn chế nhận thức về gia tăng rủi ro và chi phí kinh doanh. Hitchcock (2018) trong nghiên cứu “Kinh doanh nông nghiệp và cạnh tranh” (Agribusiness and Competitive) chỉ ra rằng, để nâng cao khả năng cạnh tranh trong chuỗi giá trị nông nghiệp, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ các chuỗi giá trị nông nghiệp, cần tập trung vào các nội dung sau: Đánh giá thị trường và cơ hội kinh doanh nông nghiệp, phát triển các phương thức phù hợp để ưu tiên các ngành công nghiệp nông nghiệp & chuỗi giá trị; tạo điều kiện thúc đẩy mối liên kết lâu dài giữa nông hộ sản xuất nhỏ với các công ty cung ứng, xuất khẩu hoặc các công ty chế biến nông sản; cung cấp các sản phẩm tài chính vi mô để tạo điều kiện cho các nông hộ nhỏ tham gia vào các dự án kinh doanh nông sản; thiết kế và thực hiện các sáng kiến nâng cao năng lực kinh doanh của nông hộ và doanh nghiệp nhỏ để tham gia vào chuỗi giá trị cho các sản phẩm có giá trị cao, bao gồm các sản phẩm có thương hiệu và được các tổ chức có uy tín chứng nhận. Steven Jaffee và cộng sự (2016) trong nghiên cứu “Báo cáo chuyển đổi Nông nghiệp Việt Nam: tăng giá trị, giảm đầu vào”cho rằng, Nhà nước kiểm soát phần lớn dịch vụ tưới tiêu thông qua các doanh nghiệp nhà nước nhưng lại chưa đảm bảo minh bạch về hiệu quả hoạt động của những doanh nghiệp này, chưa có cơ chế định giá nước và hầu như chưa có quy chế giám sát tính hiệu quả của việc sử dụng nước. Do vậy đã dẫn đến năng suất sử dụng nước Luận văn tiến sĩ Kinh tế 7 thấp, đồng thời tăng tính tổn thương trước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
Trong lĩnh vực nghiên cứu nông nghiệp, chủ yếu chỉ có các tổ chức nghiên cứu của Nhà nước với nhiều bộ ngành tham gia phân bổ ngân sách nghiên cứu trong bối cảnh chưa bảo vệ được quyền sở hữu trí tuệ, máy móc nông nghiệp sẵn sàng bị sao chép, thủ tục hành chính, tài chính cho triển khai nghiên cứu quá phức tạp, nguồn kinh phí cho đầu tư mạo hiểm phục vụ nghiên cứu quá hiếm hoi nếu không nói là không có. Doanh nghiệp nhà nước vẫn giữ vai trò rất đáng kể trong nhiều lĩnh vực thương mại mà thông thường cần phải có đầu tư tư nhân, như lĩnh vực giống, phân bón, sản xuất cao su, lâm nghiệp, kinh doanh gạo, chế biến sữa. Ở những nơi Nhà nước tham gia trực tiếp vào các hoạt động nông nghiệp, sân chơi nhìn chung còn chưa bình đẳng. Nhiều nông lâm trường quốc doanh có năng suất thấp.
Tuy (hoặc có thể đây chính là nguyên nhân) Nhà nước tham gia trực tiếp tương đối nhiều vào các chuỗi giá trị nông nghiệp nhưng nhìn chung năng lực quy hoạch chiến lược còn yếu, trong khi các giải pháp phối hợp để xử lý, giải quyết vấn đề trong những chuỗi giá trị còn hạn chế. Chẳng hạn, Việt Nam tuy hiện là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới nhưng vẫn chưa có chiến lược xuất khẩu lúa gạo.Ngành nông nghiệp phát triển trong bối cảnh có nhiều mục tiêu định lượng, cả ở cấp ngành và tiểu ngành. Trong khi đó thì lại không coi trọng quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm, môi trường, từ đó gây lo ngại cho người tiêu dùng, làm tăng các rủi ro về sinh kế và/hoặc làm giảm uy tín của quản lý nhà nước đối với nông dân và doanh nghiệp. Các tỉnh thành ven biển đề ra các mục tiêu xuất khẩu và tham gia cạnh tranh để thu hút đầu tư vào lĩnh vực chế biến thuỷ hải sản nhưng hàng trăm ngàn ngư dân vẫn bị mất đi nguồn sống chính do các nguồn lợi hải sản ven bờ đã bị cạn kiệt.
An- drzej Kwieciński và cộng sự (2015) trong nghiên cứu “Agribusiness and Agro-Industrial Strategies, Policies and Priorities for Achieving Higher Luận văn tiến sĩ Kinh tế 8 Competitiveness, Employability and Sustainability in the Western Balkans Region”cho rằng, khung chính sách phát triển doanh nghiệp bao gồm 2 loại chung: chính sách dài hạn để tăng sản lượng/năng suất và chính sách ngắn hạn để đối phó với biến động giá. Trong khi khuyến khích đầu tư và chính sách tài khoá khác được thiết kế để tăng sản lượng nông nghiệp, trọng tâm của chính sách ngắn hạn là để tác động đến giá thị trường. Các mục tiêu không phù hợp của việc giữ giá thấp để làm lợi cho người tiêu dùng trong khi vẫn giữ giá cao để đảm bảo thu nhập nông thôn dẫn đến chính sách bình ổn giá không nhất quán khi kết hợp thu mua và can thiệp giá bằng hạn ngạch. Khi giá lúa thấp, chính phủ trung ương cung cấp hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp mua gạo từ các nhà sản xuất, gây sức ép để tăng giá.
Ngược lại, khi giá thế giới cao, chính phủ có thể hạn chế xuất khẩu, tạo áp lực giảm giá, gây hại đến các hộ nông dân trong khi người tiêu dùng gạo được lợi ích ròng. Khung chính sách nông nghiệp được đặc trưng bởi một mức độ manh mún cao giữa các cục/vụ khác nhau trong các Bộ khác nhau. Như một hệ quả của việc kết hợp lỏng lẻo giữa các cục/vụ này với nhiều quy định chồng chéo và những khe hở trong chính sách và điều hành. Xuất hiện trong các lĩnh vực như an toàn thực phẩm, kiểm soát dịch bệnh và quản lý nước.
Mặc dù có những thay đổi về mục tiêu chính sách, ít thay đổi về cơ chế quản lý và tài trợ cho nghiên cứu nông nghiệp hạn chế chuyển trách nhiệm quản lý thủy lợi cho các địa phương và các nhóm người sản xuất. Những yêu cầu thay đổi này cần được Bộ Nông nghiệp và PTNT sớm vào cuộc để phục vụ ngành nông nghiệp theo định hướng thị trường nhiều hơn. Một số chức năng như hợp tác quốc tế, phân tích chính sách, giám sát ngành và thiết lập tiêu chuẩn cần phải được thực hiện ở mức cao hơn nhiều, trong khi những chức năng khác chẳng hạn như thực hiện các hoạt động thương mại và thực hành cấp phép cần được giảm đi. Việc miễn thanh toán thủy lợi phí cho hầu hết cá nhân và các hộ gia Luận văn tiến sĩ Kinh tế 9 đình tham gia vào sản xuất nông nghiệp là một bước lùi.
Việc này được thực hiện như phương pháp đơn giản để nâng cao thu nhập trang trại với chi phí giao dịch thấp. Tuy nhiên, loại bỏ các khoản phí cho thủy lợi không hỗ trợ mục tiêu nâng cao hiệu quả tài nguyên và hỗ trợ phát triển môI trường bền vững. Việc sử dụng quá trình đấu thầu cạnh tranh để chọn dự án khuyến nông tạo ra khả năng phân bổ nguồn lực hiệu quả. Tuy nhiên, dường như tồn tại sự chồng chéo trong các dự án trúng thầu ở cấp trung ương và địa phương.
Hơn nữa, các dự án khuyến nông tập trung mạnh vào sản xuất, ít chú ý đến đáp ứng nhu cầu của thị trường, ví dụ: làm thế nào để có thị trường, tham gia vào các hợp đồng, đáp ứng yêu cầu an toàn thực phẩm. Nhóm nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thuỷ sản Cộng hoà Nam Phi (2011)trong nghiên cứu“African Smallholders: Food Crops, Markets and Policy”cho rằng, để đạt được tầm nhìn và sứ mệnh của một ngành chế biến nông sản hòa nhập với sự tham gia tích cực của các nhà chế biến nông nghiệp vừa và nhỏ, các chính sách sau đây cần được tập trung sử dụng, đó là chính sách hỗ trợ ươm tạo doanh nghiệp, xúc tiến kinh doanh, hỗ trợ tài chính, hỗ trợ cơ sở hạ tầng. Mark Lundy và cộng sự (2017)trong nghiên cứu “A Territorial based Approach to Agro-Enterprise Development”chỉ ra rằng, những nhà hoạch định chính sách cần tập trung vào việc hiện thực hóa các cơ hội kinh doanh cho cộng đồng nông thôn bằng chính sách chuyển trọng tâm từ tập trung hỗ trợ sản xuất sang hỗ trợ thị trường bằng cách hỗ trợ và lập kế hoạch chung cho phát triển các quan hệ đối tác dựa trên các thông tin về lãnh thổ; xác định các cơ hội thị trường cho các nhà sản xuất nhỏ ở nông thôn trong khu vực; hỗ trợ các tổ chức tư vấn phân tích chuỗi thị trường và thiết kế các cơ hội kinh doanh mới; liên tục đánh giá và cải thiện các chính sách tiếp thị và thương mại.