đặt vấn đề về nội dung để đánh giá hiện trạng quản lý CDĐL của các sản phẩm, các vấn đề, khó khăn trong quản lý CDĐL, đặc biệt là đánh giá về vai trò của Nhà nước, tổ chức tập thể, những yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của mô hình quản lý. 14 CDĐL, hiệu quả hoạt động của các tổ chức tập thể. Ngoài ra, nghiên cứu cũng tiến hành phỏng vấn bằng phiếu hỏi nhằm mô tả về các ý kiến đánh giá của các chuyên gia. + Phỏng vấn các cơ quan quản lý CDĐL: Dữ liệu của nghiên cứu được thực hiện dưới hình thức phỏng vấn qua thư đến 42 CDĐL và điều tra trực tiếp 8 CDĐL, với câu hỏi bán cấu trúc (semi-structured interview), câu hỏi được thiết kế với 05 phần cơ bản đó là: 1) quá trình xây dựng về thể chế, cấu trúc của mô hình tổ chức, vai trò của các bên liên quan trong quản lý CDĐL; 2) kết quả của mô hình, những khó khăn, bất cập trong quá trình vận hành mô hình tổ chức quản lý; 3) đánh giá sự phù hợp và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của các mô hình quản lý; 4) Đánh giá về vai trò của tổ chức tập thể, những khó khăn và yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức tập thể; 5) nhu cầu về chính sách, giải pháp hỗ trợ để giải quyết những khó khăn của các địa phương về quản lý CDĐL.
+ Điều tra doanh nghiệp, hộ gia đình: nghiên cứu tiến hành phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu hỏi với hai đối tượng là: i) doanh nghiệp, hộ gia đình đã được cấp GCN quyền sử dụng CDĐL; ii) doanh nghiệp, hộ gia đình chưa có GCN quyền sử dụng CDĐL nằm trong khu vực địa lý và có khả năng tiếp cận quyền sử dụng. Các doanh nghiệp, hộ gia đình thuộc 8 mô hình CDĐL được khảo sát sau, nhằm đánh giá về sự hiểu biết của họ về CDĐL, mức độ tiếp cận về thông tin, mức độ sử dụng và xác định những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng CDĐL của doanh nghiệp và người dân. - Các đối tượng, quy mô và phương pháp chọn mẫu khảo sát của luận án: + Cơ quan quản lý CDĐL: nghiên cứu đã tiến hành gửi phiếu qua thư đến 42 CDĐL của Việt Nam đã được cấp văn bằng bảo hộ (tính đến tháng 6/2016). Kết quả có 35 phiếu phỏng vấn tương ứng với 35 CDĐL trả lời.
Đối tượng trả lời phỏng vấn là Sở KHCN, cơ quan quản lý CDĐL ở địa phương. + Chuyên gia: các chuyên gia được phỏng vấn là người địa phương, thuộc 8 CDĐL khảo sát sâu, được xác định bởi ý kiến của Sở KHCN các tỉnh, bao gồm 2 mức độ: i) Chuyên gia trao đổi, thảo luận sâu: bao gồm 20 chuyên gia, được đánh giá có mức độ hiểu biết tốt nhất tại các tỉnh, đồng thời cũng là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động xây dựng và phát triển các CDĐL được bảo hộ. Đây là các chuyên gia được tác giả thảo luận, trao đổi các vấn đề theo nhóm các tiêu chí phân tích, đưa ra những phát hiện về mặt lý luận và thực tiễn trong quản lý CDĐL. ii) Chuyên gia khảo sát bằng phiếu hỏi: 78 chuyên gia đã được phỏng vấn bằng phiếu hỏi, bao gồm cả các chuyên gia phỏng vấn sâu, còn lại là cán bộ quản lý CDĐL, lãnh đạo tổ chức tập thể, các chuyên gia từ các Sở như: nông nghiệp và PTNT, Công thương.
Số lượng các chuyên gia tối đa là 10 chuyên gia/CDĐL. 15 iii) Tiêu chí và phương pháp lựa chọn chuyên gia như sau: • Tiêu chí lựa chọn chuyên gia: là những người có kinh nghiệm, hiểu biết và tham gia vào quá trình xây dựng và quản lý CDĐL ở địa phương. • Trên cơ sở tiêu chí, Sở KHCN lập danh sách 15 chuyên gia đã tham gia cùng với Sở trong quá trình xây dựng CDĐL và các chuyên gia được Sở đánh giá là có kinh nghiệm trong quản lý CDĐL ở Hội/hiệp hội, các cơ quan quản lý CDĐL. • Tiến hành lựa chọn ngẫu nhiên từ danh sách 2-3 chuyên gia để phỏng vấn sâu, 8-10 chuyên gia/CDĐL để phỏng vấn theo phiếu.
Chuyên gia được phỏng vấn theo phiếu bao gồm cả chuyên gia phỏng vấn sâu. + Doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân (cơ sở), những người có quyền lợi và nghĩa vụ trực tiếp trong việc bảo vệ và sử dụng CDĐL. i) Nghiên cứu tiến hành khảo sát 140 cơ sở sử dụng CDĐL và chưa sử dụng CDĐL ở 7 CDĐL được khảo sát sâu (không khảo sát các cơ sở sản xuất, kinh doanh của CDĐL nón lá Huế vì không phải là sản phẩm nông nghiệp). Cơ cấu khảo sát gồm: 35 doanh nghiệp, hộ gia đình đã được cấp GCN quyền sử dụng CDĐL; 105 doanh nghiệp, hộ gia đình chưa có GCN quyền sử dụng CDĐL.
Tối đa có 20 cơ sở/CDĐL được phỏng vấn, nếu số lượng cơ sở có GCN quyền sử dụng CDĐL không đủ 10 cơ sở thì sẽ bổ sung sang nhóm chưa có GCN. ii) Tiêu chí và phương pháp chọn mẫu • Tiêu chí lựa chọn mẫu khảo sát là: cơ sở đã có GCN và chưa được cấp GCN quyền sử dụng CDĐL, tỷ lệ là 50/50; lựa chọn ngẫu nhiên đảm bảo tỷ lệ các cơ sở sản xuất lớn, trung bình và nhỏ. • Sở KHCN lập Danh sách toàn bộ các cơ sở được cấp GCN quyền sử dụng, phân làm 3 nhóm theo quy mô: lớn, trung bình và nhỏ. Hội/Hiệp hội lập Danh sách 30 cơ sở chưa được cấp GCN quyền sử dụng theo tỷ lệ về quy mô sản xuất: lớn, trung bình và nhỏ.
• Lựa chọn ngẫu nhiên 10 cơ sở đã được cấp GCN quyền sử dụng, 10 cơ sở chưa được cấp GCN theo tỷ lệ về quy mô. Nếu CDĐL các cơ sở được cấp GCN không đủ hoặc bằng 10 thì khảo sát toàn bộ. Phương pháp xử lý số liệu: Luận án sử dụng phần mềm phân tích Stata để xử lý số liệu để thống kê mô tả và so sánh kết quả điều tra.4 Phương pháp phân tích thông tin Chủ đề nghiên cứu là một lĩnh vực mới, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau về chính sách, thể chế, quản lý, thị trường… Do đó, xuyên suốt quá trình nghiên cứu, luận án sử dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê. 16 nin nhằm mục đích đánh giá quá trình phát triển, những vấn đề lý luận, thực tiễn trong quản lý và phát triển CDĐL.
Các phương pháp nghiên cứu định tính sẽ được sử dụng để nghiên cứu, tiếp cận này phù hợp với bối cảnh nghiên cứu của thế giới và Việt Nam. Thứ nhất việc nghiên cứu các mô hình tổ chức quản lý CDĐL trên thế giới cho đến nay đều sử dụng phương pháp định tính, do đó việc phát triển phương pháp định lượng là vấn đề khó khăn trong bối cảnh của nước ta. Thứ hai, 15 năm qua, việc quản lý CDĐL dựa trên việc học tập của các mô hình nước ngoài (đặc biệt là châu Âu), nhưng những nghiên cứu về chủ đề này còn rất hạn chế, việc xác định những nguyên lý cơ bản để xây dựng mô hình thể chế về CDĐL ở Việt Nam vẫn còn là giai đoạn khởi đầu. Các phương pháp gồm: - Phương pháp chuyên gia: Luận án sử dụng phương pháp chuyên gia đề đánh giá và xác định những vấn đề trong quản lý CDĐL ở Việt Nam, đặc biệt là phát hiện và xây dựng nhóm nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của mô hình quản lý.
Phương pháp chuyên gia cũng cho phép đánh giá về vai trò của tổ chức tập thể trong hoạt động quản lý CDĐL, đồng thời cũng xác định các yếu tố ảnh hưởng đến CDĐL. - Nghiên cứu trường hợp điển hình (Case study): luận án sử dụng phương pháp này để nghiên cứu những trường hợp điển hình, đặc biệt là những mô hình được đánh giá là thành công, mô hình hạn chế để xác định những nguyên nhân, điểm mạnh, yếu của mô hình. Trên cơ sở đó phân tích và phát hiện ra những vấn đề mang tính lý luận và bài học kinh nghiệm cho hoạt động quản lý CDĐL ở Việt Nam. - Phương pháp phân tích thông tin định tính: Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả sẽ xác định những yếu tố ảnh hưởng và quyết định về tổ chức quản lý, vai trò của hành động tập thể, yếu tố ảnh hưởng và năng lực của tổ chức tập thể.
Những vấn đề chưa thống nhất sẽ được trao đổi và xin các ý kiến chuyên gia. - Phương pháp thống kê mô tả: nhằm mô tả các nội dung quản lý CDĐL, kết quả của các mô hình quản lý CDĐL trên cơ sở số liệu điều tra các cơ quan quản lý; chuyên gia; doanh nghiệp và hộ gia đình. - Phương pháp thống kê so sánh: nhằm so sánh, đánh giá đặc điểm của doanh nghiệp, hộ gia đình giữa hai nhóm điều tra, đồng thời so sánh các kết quả đánh giá của 2 nhóm đối tượng là: cơ quan quản lý nhà nước và chuyên gia nhằm tìm kiếm sự đồng thuận về mặt quan điểm và phát hiện những vấn đề. - Phương pháp tiếp cận phân tích theo khung lô gic (Logical Framwork Aproach) nhằm xác định các vấn đề, mối quan hệ nhân – quả tương tác giữa các yếu tố trong hoạt động quản lý CDĐL.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu Trên cơ sở thiết kế của nghiên cứu, hệ thống chỉ tiêu được khảo sát và phân tích được xây dựng trên các trục chính như sau: A.
Nhóm chỉ tiêu về hoạt động quản lý CDĐL: 1) Chỉ tiêu về xây dựng và ban hành chính sách quản lý CDĐL: gồm các chỉ tiêu chính như: số lượng văn bản chính sách được ban hành, tỷ lệ các cơ quan ban hành văn bản; tỷ lệ các địa phương xây dựng các nội dung của chính sách dựa trên nguồn lực hỗ trợ; tỷ lệ tổ chức tập thể, người dân tham gia xây dựng chính sách… 2) Chỉ tiêu về các hoạt động quản lý và sử dụng CDĐL: tỷ lệ mô hình tổ chức theo bộ máy quản lý; số lượng CDĐL cấp quyền sử dụng, kiểm soát, quảng bá, xử lý xâm phạm; tỷ lệ CDĐL có nguồn lực để triển khai; tỷ lệ doanh nghiệp, người dân sử dụng CDĐL ở địa phương; tỷ lệ theo lý do sử dụng CDĐL của doanh nghiệp, người dân… B.