Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Quản lý chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam" do nghiên cứu sinh Đào Đức Huấn thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Hoàng Ngọc Việt, bảo vệ năm 2017 tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội). Công trình thuộc chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, mã số đào tạo 62620115.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Chỉ dẫn địa lý (CDĐL) được các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là khu vực Liên minh Châu Âu (Pháp, Ý, Tây Ban Nha) và một số nước châu Á (Ấn Độ, Thái Lan), sử dụng như công cụ bảo vệ danh tiếng sản phẩm đặc sản, bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao năng lực cạnh tranh nông sản trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tại Việt Nam, sau 15 năm triển khai (2001–2016), việc phát triển CDĐL được định hướng như một giải pháp xây dựng thương hiệu nông sản. Tính đến tháng 12/2016, Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã cấp giấy chứng nhận đăng ký CDĐL cho 44 sản phẩm nông sản và tiểu thủ công nghiệp.

Mặc dù số lượng CDĐL gia tăng, tác giả chỉ ra rằng trên thực tế chưa có sản phẩm nông nghiệp nào của Việt Nam được quản lý và bảo hộ vận hành hiệu quả trên thị trường dưới danh nghĩa CDĐL. Nguyên nhân xuất phát từ các rào cản mang tính hệ thống:

  • Chủ thể quản lý chưa rõ ràng và hợp lý giữa cơ quan quản lý nhà nước (Sở Khoa học và Công nghệ, Ủy ban nhân dân cấp huyện) và tổ chức tập thể (Hội, Hiệp hội).
  • Các quy định quản lý, quy trình kỹ thuật và hệ thống kiểm soát chất lượng không phù hợp với điều kiện sản xuất nhỏ lẻ, thiếu sự đồng thuận của cộng đồng sản xuất.
  • Giá trị cốt lõi về tính cộng đồng chưa được phát huy; vai trò của tổ chức tập thể còn mờ nhạt.
  • Sản phẩm mang CDĐL xuất hiện hạn chế trên thị trường, thiếu vắng các tác nhân thương mại đủ mạnh để phát triển chuỗi giá trị và thúc đẩy nhu cầu sử dụng của người dân.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu chung: Làm rõ cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý CDĐL phù hợp với điều kiện sản xuất, thị trường và thể chế của Việt Nam trên cơ sở tổng hợp lý luận, kinh nghiệm quốc tế và đánh giá thực trạng.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về tổ chức quản lý CDĐL, xác định vai trò của Nhà nước, tổ chức tập thể và các nhân tố ảnh hưởng.
    2. Đánh giá thực trạng quản lý CDĐL tại Việt Nam; phân tích thành công, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại.
    3. Đề xuất hệ thống giải pháp và chính sách nhằm hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý CDĐL ở cấp vĩ mô và địa phương.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thiết khoa học

Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Vai trò của Nhà nước trong quản lý CDĐL và những yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động quản lý CDĐL?
  2. Thực trạng hoạt động quản lý CDĐL ở Việt Nam hiện nay diễn ra như thế nào và chịu sự chi phối của các yếu tố nào?
  3. Cần thực hiện những giải pháp, chính sách nào để hoàn thiện tổ chức quản lý CDĐL ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo?

Tác giả đưa ra 2 giả thiết nghiên cứu:

  • Giả thiết 1: Nhà nước và tổ chức tập thể là hai chủ thể trong quản lý CDĐL ở Việt Nam, trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo.
  • Giả thiết 2: Nâng cao năng lực tổ chức và thương mại của tổ chức tập thể là giải pháp nền tảng để thúc đẩy quản lý CDĐL tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý CDĐL đối với các sản phẩm nông nghiệp tại Việt Nam dưới góc độ kinh tế thể chế.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các nội dung quản lý CDĐL ở cấp địa phương (xây dựng thể chế, cấp quyền sử dụng, kiểm soát chất lượng, xúc tiến thương mại, xử lý xâm phạm), không tiếp cận thuần túy dưới góc độ marketing thương mại.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn cả nước, tập trung vào các địa phương có sản phẩm nông nghiệp được bảo hộ CDĐL.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn 2001–2016; các giải pháp và khuyến nghị chính sách đề xuất định hướng cho giai đoạn 2017–2025.
  • Phạm vi khảo sát điển hình: Khảo sát chuyên sâu 8 mô hình CDĐL đại diện cho các hình thức tổ chức quản lý: Nước mắm Phú Quốc (Kiên Giang), Cà phê Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), Gạo Nàng Nhen thơm Bảy Núi (An Giang), Bưởi Tân Triều (Đồng Nai), Nho Ninh Thuận (Ninh Thuận), Vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang), Quế Văn Yên (Yên Bái) và Nón lá Huế (Thừa Thiên Huế - mô hình phi nông nghiệp do Hội quản lý dùng để đối chứng).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Lý luận về CDĐL trên thế giới, đặc biệt tại Châu Âu, khẳng định CDĐL là kết quả của một quá trình xây dựng mang tính xã hội và kinh tế thể chế:

  • Về chủ thể và tổ chức quản lý: Barjolle (2002, 2003) cùng các nghiên cứu của INRA/INAO (2005) chỉ rõ tổ chức tập thể giữ vai trò chủ thể chính trong quản lý CDĐL (xây dựng thể chế, kiểm soát chất lượng, tiếp thị, điều phối sản xuất), trong khi Nhà nước chỉ thực hiện chức năng công nhận quy trình kỹ thuật và kiểm tra mức độ tuân thủ.
  • Về cơ chế hình thành mạng lưới: Granovetter (1985) tiếp cận quá trình xây dựng CDĐL dựa trên nền tảng mạng lưới xã hội đồng nhất và ổn định có sẵn. Trái lại, Callon (1986) xây dựng lý thuyết mạng lưới xã hội – kỹ thuật (social-technical network), cho rằng mạng lưới này không đồng nhất, mang tính ngắn hạn và được hình thành thông qua các dự án chung với sự đàm phán, thỏa hiệp về mặt kỹ thuật và thể chế giữa các tác nhân. Quan điểm này được củng cố bởi Fort và cs (2007), Paulo Andre và Jhulia (2013).
  • Về vai trò của hành động tập thể: Các nghiên cứu của FAO và SIGER-GI (2006, 2008, 2009), Vandecandelaere (2008) khẳng định CDĐL là công cụ bảo vệ tài sản chung của cộng đồng; hành động tập thể là chìa khóa để xây dựng các công cụ kỹ thuật, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc.

Các nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu về CDĐL tại Việt Nam bắt đầu phát triển từ sau năm 2002 và tập trung vào hai nhánh chính:

  • Góc độ pháp luật bảo hộ sở hữu công nghiệp: Lê Thị Thu Hà (2009, 2010) hệ thống hóa cơ sở lý luận về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với CDĐL dưới góc độ thương mại, đề xuất định hướng nâng cao năng lực cho tổ chức tập thể và xây dựng mô hình kiểm soát chất lượng nhưng chưa đi sâu vào cơ chế vận hành thực tế ở cấp địa phương.
  • Góc độ hành động tập thể và quản lý chất lượng: Các công trình của Vũ Trọng Bình, Đào Đức Huấn, Bùi Thị Thái, Lê Đức Thịnh (2005, 2006, 2007) và Đào Đức Huấn (2011) nghiên cứu trường hợp Tên gọi xuất xứ gạo Tám Xoan Hải Hậu và CDĐL Nước mắm Phú Quốc. Các nghiên cứu này xác định hai chức năng cơ bản của tổ chức tập thể là tổ chức sản xuất/kiểm soát chất lượng và thương mại/marketing chung, song chưa làm rõ cơ chế phân định vai trò giữa Nhà nước và tổ chức tập thể trong mô hình quản lý tổng thể.
+-------------------------------------------------------------------------+
|                  KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN GIẢI QUYẾT            |
+-------------------------------------------------------------------------+
| 1. Cơ chế quản trị CDĐL trong bối cảnh "thể chế mở" (luật không quy định |
|    bắt buộc tổ chức tập thể là chủ thể quản lý duy nhất như Châu Âu).   |
| 2. Mô hình phân định chức năng giữa Nhà nước (vai trò chủ đạo) và Tổ    |
|    chức tập thể (vai trò phối hợp) phù hợp với thực tiễn Việt Nam.      |
| 3. Năng lực, cấu trúc hoạt động của tổ chức tập thể trong điều kiện nông|
|    hộ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, tiếp cận quản lý theo hướng từ trên    |
|    xuống (top-down).                                                    |
+-------------------------------------------------------------------------+

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án kết hợp các lý thuyết nền tảng:

  • Lý thuyết quản lý của Stoner (1982) với 4 chức năng cốt lõi: Hoạch định, Tổ chức, Lãnh đạo và Kiểm soát.
  • Lý thuyết về mạng lưới xã hội – kỹ thuật của Callon (1986) và các nghiên cứu của Barjolle (2002), Vandecandelaere (2008), Paulo Andre và Jhulia (2013).
  • Lý thuyết quản trị thương hiệu của Philip Kotler (2002) và WIPO (2010), đối chiếu với tính chất của CDĐL như một thương hiệu tập thể và hàng hóa công cộng.

Tác giả đề xuất khái niệm quản lý CDĐL: "Quản lý CDĐL là quá trình xây dựng chính sách và tổ chức, điều hành của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức, cá nhân liên quan nhằm đảm bảo quyền sử dụng, quyền lợi hợp pháp của các nhà sản xuất và người tiêu dùng sản phẩm CDĐL được Nhà nước bảo hộ."

Mô hình phân tích gồm 2 nhóm yếu tố:

  • Nhân tố phụ thuộc: 5 nội dung quản lý CDĐL (Xây dựng chính sách/thể chế; Cấp quyền sử dụng; Kiểm soát CDĐL; Quảng bá và phát triển thương mại; Xử lý vi phạm quyền) gắn với vai trò của Nhà nước và Tổ chức tập thể.
  • Nhóm nhân tố ảnh hưởng: (1) Mức độ bảo hộ pháp lý phù hợp; (2) Thể chế rõ ràng, thống nhất và ổn định; (3) Tác nhân thị trường đủ mạnh; (4) Năng lực của tổ chức tập thể; và (5) Nhu cầu sử dụng CDĐL trong điều kiện sản xuất truyền thống (nhân tố đặc thù do tác giả bổ sung).

Phương pháp tiếp cận và thu thập dữ liệu

Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp 4 cách tiếp cận: tiếp cận thể chế, tiếp cận mô hình tổ chức quản lý, tiếp cận theo lãnh thổ và tiếp cận có sự tham gia. Phương pháp định tính giữ vai trò chủ đạo, kết hợp với thống kê mô tả và thống kê so sánh thông qua phần mềm Stata.

Nhóm đối tượng điều tra Quy mô mẫu Phương thức thu thập Nội dung thu thập chính
Cơ quan quản lý CDĐL địa phương 35/42 CDĐL (Sở KH&CN các tỉnh) Phiếu hỏi bán cấu trúc gửi qua thư Thể chế, bộ máy quản lý, cấp quyền, kiểm soát, khó khăn vướng mắc
Chuyên gia địa phương (khảo sát sâu) 20 chuyên gia Phỏng vấn, thảo luận sâu trực tiếp Đánh giá bản chất thể chế, nguyên nhân hạn chế, vai trò của Nhà nước
Chuyên gia khảo sát diện rộng 78 chuyên gia (tại 8 mô hình) Phiếu điều tra cấu trúc Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố, tiêu chí thành công của mô hình
Doanh nghiệp, hộ sản xuất (7 CDĐL nông nghiệp) 140 cơ sở (35 có GCN, 105 chưa có GCN) Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi Hiểu biết quy định, thực trạng sử dụng, lý do không đăng ký, hiệu quả sản xuất

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm nông nghiệp

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm, bản chất pháp lý và kinh tế của CDĐL theo Hiệp định TRIPs (Điều 22), Quy chế Châu Âu (CEE 2081/92, CE 1151/2012) và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 (Điều 79, Điều 121, Nghị định 103/2006/NĐ-CP, Thông tư 01/2007/TT-BKHCN, Thông tư 05/2013/TT-BKHCN).

Tác giả phân tích 4 đặc trưng cơ bản của CDĐL:

  1. Đặc tính riêng gắn liền với khu vực địa lý tự nhiên (khí hậu, thổ nhưỡng, thủy văn).
  2. Sự kết tinh của truyền thống, tập quán canh tác và sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
  3. Danh tiếng thương hiệu được định hình trước khi thực hiện thủ tục bảo hộ pháp lý.
  4. Bản chất của một loại hàng hóa công cộng, đòi hỏi cơ chế quản lý tập thể để ngăn chặn hiện tượng lạm dụng hoặc độc chiếm bởi nhóm thiểu số.

So sánh giữa quản trị thương hiệu thông thường và quản lý CDĐL cho thấy quản lý CDĐL không tập trung tạo dựng nhãn hiệu mới mà tập trung duy trì tính ổn định, chất lượng đặc thù của sản phẩm và bảo vệ quyền lợi cộng đồng thông qua hệ thống kiểm soát tuân thủ quy trình kỹ thuật.

+--------------------------------------------------------------------------+
|                  NỘI DUNG QUẢN LÝ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ THEO LUẬN ÁN            |
+--------------------------------------------------------------------------+
|  1. Xây dựng và ban hành hệ thống văn bản, chính sách thể chế quản lý    |
|  2. Tổ chức xét duyệt và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng CDĐL          |
|  3. Tổ chức hệ thống thanh tra, kiểm soát chất lượng và sử dụng dấu hiệu |
|  4. Quản lý hoạt động quảng bá, phát triển thương mại sản phẩm           |
|  5. Kiểm soát, phát hiện và xử lý các hành vi xâm phạm quyền CDĐL        |
+--------------------------------------------------------------------------+

Về kinh nghiệm quốc tế, chương 1 phân tích mô hình Viện Quốc gia về Nguồn gốc và Chất lượng Pháp (INAO) với cơ chế kiểm soát 3 cấp và hệ thống phân cấp kiểm soát của Thái Lan, rút ra 4 bài học: xây dựng chính sách hỗ trợ đồng bộ, xác định vai trò hỗ trợ của Nhà nước, thiết lập hệ thống kiểm soát độc lập và nâng cao nhận thức cộng đồng.

Chương 2: Thực trạng về quản lý chỉ dẫn địa lý các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam

Chương 2 đánh giá thực trạng 44 CDĐL đã được bảo hộ tính đến tháng 12/2016, tập trung vào số liệu khảo sát 35 CDĐL phản hồi và 8 trường hợp nghiên cứu điển hình.

Tác giả phân loại 2 nhóm mô hình quản lý hiện diện tại các địa phương:

  • Mô hình 1: Cơ quan nhà nước là chủ thể quản lý (chiếm đa số, chủ yếu là Sở Khoa học và Công nghệ, ví dụ: Nước mắm Phú Quốc, Cà phê Buôn Ma Thuột, Gạo Tám xoan Hải Hậu; hoặc UBND cấp huyện, ví dụ: Quế Văn Yên).
  • Mô hình 2: Tổ chức tập thể là chủ thể quản lý (Nhà nước trao quyền quản lý cho Hội/Hiệp hội, ví dụ: Nón lá Huế).

Đánh giá thực trạng 5 nội dung quản lý tại địa phương:

  • Xây dựng văn bản quản lý: 100% các CDĐL khảo sát đều ban hành quy chế quản lý, nhưng chất lượng văn bản chưa cao, thiếu tính khả thi, quy trình kỹ thuật quá phức tạp hoặc không sát với thực tế canh tác của nông hộ.
  • Cấp quyền sử dụng: Tỷ lệ cơ sở sản xuất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng CDĐL rất thấp. Trong 140 cơ sở khảo sát tại 7 CDĐL, chỉ có 35 cơ sở được cấp GCN. Đa số hộ nông dân không đăng ký do thủ tục phức tạp, chưa thấy được lợi ích kinh tế rõ ràng và chi phí tuân thủ cao.
  • Kiểm soát CDĐL: Hệ thống kiểm soát chưa vận hành trên thực tế. Hoạt động tự kiểm soát nội bộ của tổ chức tập thể hầu như không thực hiện được do thiếu nhân lực, kinh phí và công cụ kỹ thuật. Hoạt động kiểm soát ngoại vi của cơ quan nhà nước mang tính hình thức, lồng ghép vào các đợt kiểm tra hành chính định kỳ.
  • Quảng bá và thương mại: Hoạt động xúc tiến thương mại chủ yếu dựa vào ngân sách hỗ trợ từ các đề tài, dự án của Nhà nước; khi dự án kết thúc, các hoạt động này dừng lại do Hội không tự chủ được tài chính.
  • Xử lý vi phạm: Hoạt động bảo vệ quyền và xử lý hàng giả, hàng nhái mang CDĐL trên thị trường chưa hiệu quả; sự phối hợp giữa Sở KH&CN, Quản lý thị trường và Công an kinh tế còn rời rạc.
+--------------------------------------------------------------------------+
|           5 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ CDĐL TẠI VIỆT NAM (CHƯƠNG 2)    |
+--------------------------------------------------------------------------+
| 1. Chính sách và sự hỗ trợ của Nhà nước chưa đồng bộ, thiếu nguồn lực duy|
|    trì sau bảo hộ.                                                       |
| 2. Năng lực tổ chức tập thể yếu, hoạt động bị "hành chính hóa".         |
| 3. Thiếu vắng các tác nhân doanh nghiệp thương mại làm đầu tàu chuỗi.    |
| 4. Bất cập trong lựa chọn sản phẩm và tiếp cận phương thức kiểm soát.   |
| 5. Nhu cầu sử dụng CDĐL thấp trong bối cảnh sản xuất truyền thống nhỏ lẻ.|
+--------------------------------------------------------------------------+

Chương 3: Giải pháp về quản lý chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam

Dựa trên bối cảnh hội nhập quốc tế, đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp và các phát hiện thực trạng, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp giai đoạn 2017–2025 gồm 3 nhóm:

  1. Nhóm giải pháp về chính sách và quản lý vĩ mô:

    • Hoàn thiện khung pháp luật về sở hữu trí tuệ liên quan đến CDĐL; phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước giữa Bộ Khoa học và Công nghệ (quản lý xác lập quyền, hướng dẫn chuyên môn SHTT) và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (quản lý chất lượng sản phẩm, quy trình kỹ thuật sản xuất, truy xuất nguồn gốc).
    • Xây dựng và ban hành biểu trưng (logo) CDĐL quốc gia nhằm thống nhất nhận diện sản phẩm CDĐL Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.
  2. Nhóm giải pháp cải thiện mô hình quản lý CDĐL ở địa phương:

    • Chuẩn hóa cấu trúc hệ thống văn bản quản lý địa phương (quy chế quản lý chung, quy trình kỹ thuật, quy chế kiểm soát chất lượng, quy chế sử dụng tem nhãn).
    • Thiết lập mô hình hệ thống kiểm soát 2 cấp:
      • Cấp 1 (Kiểm soát nội bộ): Do tổ chức tập thể hoặc ban quản lý chuyên trách thực hiện, giám sát việc tuân thủ quy trình kỹ thuật và cấp tem nhãn cho hội viên.
      • Cấp 2 (Kiểm soát ngoại vi): Do cơ quan quản lý nhà nước (Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản, Thanh tra Sở KH&CN) hoặc tổ chức chứng nhận độc lập thực hiện định kỳ và đột xuất.
  3. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực của tổ chức tập thể:

    • Củng cố bộ máy tổ chức, nâng cao năng lực quản trị, kỹ năng kiểm soát chất lượng và xúc tiến thương mại cho cán bộ Hội/Hiệp hội.
    • Xây dựng cơ chế tài chính tự chủ cho tổ chức tập thể thông qua việc thu hội phí, phí cấp quyền sử dụng tem nhãn CDĐL và cung cấp dịch vụ đầu vào/đầu ra cho thành viên.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Xây dựng và chuẩn hóa khái niệm cùng 5 nội dung cốt lõi của hoạt động quản lý CDĐL trong bối cảnh thể chế của Việt Nam; xác định việc xây dựng chính sách thể chế địa phương là một nội dung quản lý đặc thù.
  • Luận giải vị trí chủ thể quản lý tại Việt Nam: chứng minh mô hình quản lý CDĐL tại Việt Nam tồn tại một chủ thể chính mang tính quyết định là Nhà nước (quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo), trong khi tổ chức tập thể chỉ đóng vai trò phối hợp và hỗ trợ (khác biệt với lý thuyết quản lý CDĐL tại các nước Châu Âu nơi tổ chức tập thể giữ vai trò chủ đạo).
  • Vận dụng và phát triển lý thuyết mạng lưới xã hội – kỹ thuật trong xây dựng CDĐL tại các nước đang phát triển; bổ sung nhân tố "nhu cầu sử dụng CDĐL trong điều kiện sản xuất truyền thống" vào khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đối với mô hình tiếp cận từ trên xuống (top-down).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh toàn diện và hệ thống dữ liệu thực chứng về thực trạng quản lý CDĐL tại Việt Nam thông qua điều tra 35 CDĐL và 8 mô hình nghiên cứu sâu.
  • Phân tích rõ các điểm nghẽn thực tiễn: sự bất cập của các văn bản quản lý, sự hình thức của hệ thống kiểm soát chất lượng và tình trạng thiếu động lực kinh tế của người sản xuất quy mô nhỏ.
  • Đề xuất các công cụ ứng dụng cụ thể cho địa phương: khung cấu trúc văn bản quản lý mẫu, quy trình phân cấp kiểm soát chất lượng 2 cấp (nội bộ - ngoại vi) và lộ trình nâng cao năng lực tự chủ cho các Hội/Hiệp hội ngành hàng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung phân tích dưới góc độ kinh tế thể chế và quản lý nhà nước, chưa lượng hóa chi tiết mức độ tác động kinh tế (doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng) của CDĐL tới thu nhập của từng nhóm hộ nông dân và doanh nghiệp thông qua các mô hình kinh tế lượng. Phạm vi khảo sát sâu giới hạn ở 8 mô hình đại diện và dữ liệu thứ cấp dừng lại ở thời điểm cuối năm 2016.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    1. Đánh giá định lượng tác động kinh tế - xã hội và chuỗi giá trị của nông sản sau khi được bảo hộ và quản lý CDĐL.
    2. Nghiên cứu cơ chế vận hành của các tổ chức chứng nhận kiểm soát độc lập bên thứ ba (Third-party certification) trong kiểm soát ngoại vi CDĐL tại Việt Nam.
    3. Đánh giá hiệu quả thương mại của CDĐL Việt Nam trên các thị trường xuất khẩu theo các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như EVFTA).

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ KH&CN, Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ NN&PTNT, UBND và Sở KH&CN các tỉnh): Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế quản lý SHTT, hướng dẫn các địa phương tái cấu trúc bộ máy quản lý, rà soát quy chế quản lý và tổ chức hệ thống kiểm soát chất lượng CDĐL hiệu quả.
  • Đối với các tổ chức tập thể (Hội, Hiệp hội ngành hàng, Hợp tác xã): Cung cấp khung hướng dẫn thực hành về quản trị nội bộ, phương pháp tổ chức kiểm soát tuân thủ quy trình kỹ thuật và định hướng liên kết chuỗi giá trị với doanh nghiệp thương mại.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo về kinh tế thể chế, quản lý kinh tế nông nghiệp, phương pháp tiếp cận mạng lưới xã hội – kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nông sản.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa khái niệm quản lý chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam như thế nào?

Theo tác giả, quản lý CDĐL là quá trình xây dựng chính sách và tổ chức, điều hành của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức, cá nhân liên quan nhằm đảm bảo quyền sử dụng, quyền lợi hợp pháp của các nhà sản xuất và người tiêu dùng sản phẩm CDĐL được Nhà nước bảo hộ.

2. Sự khác biệt cơ bản về chủ thể quản lý CDĐL giữa Việt Nam và các nước Châu Âu là gì?

Ở Châu Âu, tổ chức tập thể (Hội các nhà sản xuất) là chủ thể quản lý chính (xây dựng quy chế, kiểm soát chất lượng, tiếp thị), Nhà nước chỉ công nhận và giám sát tuân thủ. Tại Việt Nam, do quy định CDĐL thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, cơ quan nhà nước (Sở KH&CN, UBND cấp huyện) đóng vai trò là chủ thể quản lý chủ đạo, còn tổ chức tập thể chỉ đóng vai trò phối hợp và hỗ trợ do năng lực còn hạn chế.

3. Quy mô điều tra thực tế của luận án được tiến hành như thế nào?

Nghiên cứu gửi phiếu khảo sát tới 42 cơ quan quản lý CDĐL (thu về 35 phiếu phản hồi từ các Sở KH&CN); khảo sát chuyên sâu tại 8 mô hình CDĐL điển hình; phỏng vấn sâu 20 chuyên gia địa phương; điều tra bằng phiếu hỏi 78 chuyên gia và khảo sát trực tiếp 140 cơ sở sản xuất (35 cơ sở đã có GCN quyền sử dụng và 105 cơ sở chưa có GCN) tại 7 vùng CDĐL nông nghiệp. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Stata.

4. Luận án xác định những nhân tố nào ảnh hưởng đến hoạt động quản lý CDĐL tại Việt Nam?

Luận án xác định 5 nhân tố ảnh hưởng: (1) Chính sách và sự hỗ trợ của Nhà nước; (2) Vai trò và năng lực của tổ chức tập thể; (3) Năng lực của các tác nhân thúc đẩy thương mại; (4) Lựa chọn sản phẩm và phương thức tiếp cận hoạt động kiểm soát; (5) Nhu cầu sử dụng CDĐL trong điều kiện sản xuất truyền thống quy mô nhỏ.

5. Luận án đề xuất mô hình kiểm soát CDĐL như thế nào để khắc phục tính hình thức hiện nay?

Tác giả đề xuất hệ thống kiểm soát 2 cấp: Cấp 1 là kiểm soát nội bộ do Tổ chức tập thể thực hiện thường xuyên nhằm giám sát quy trình sản xuất và cấp tem nhãn cho hội viên; Cấp 2 là kiểm soát ngoại vi do cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành (Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản, Thanh tra Sở) hoặc tổ chức chứng nhận độc lập thực hiện định kỳ và đột xuất để đảm bảo tính khách quan.


Kết luận

Luận án của NCS. Đào Đức Huấn là công trình nghiên cứu hệ thống về quản lý chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nông nghiệp tại Việt Nam dưới góc độ kinh tế thể chế. Bằng việc kết hợp lý thuyết mạng lưới xã hội – kỹ thuật với dữ liệu điều tra thực chứng tại 35 CDĐL, luận án đã làm rõ cơ chế quản lý lấy Nhà nước làm chủ đạo và chỉ ra những điểm nghẽn trong khâu kiểm soát chất lượng và vai trò của tổ chức tập thể. Hệ thống giải pháp đề xuất về phân cấp quản lý, hoàn thiện khung pháp lý và thiết lập mô hình kiểm soát hai cấp có giá trị ứng dụng trực tiếp cho công tác quản trị tài sản trí tuệ nông sản tại Việt Nam giai đoạn 2017–2025.