Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TỔ CHỨC CÔNG TÁC KHUYẾN NÔNG Mục đích cơ bản của Chương này là giới thiệu sự ra đời của môn học, đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu môn học, cung cấp các vấn đề lý luận, các kiến thức cơ bản về tổ chức công tác khuyến nông, từ đó chuẩn bị các kỹ năng cơ bản để tổ chức các hoạt động khuyến nông ở một cơ quan chuyển giao cụ thể. Vì thế, chương này thảo luận về: Khái niệm, vai trò, đặc điểm, nguyên tắc, nội dung và các điều kiện tổ chức công tác khuyến nông. Đặc biệt, nội dung tổ chức công tác khuyến nông được thảo luận trên các phương diện: Tổ chức hệ thống khuyến nông; Tổ chức nguồn lực cho khuyến nông; Xây dựng, thực hiện, giám sát và đánh giá kế hoạch khuyến nông; Huy động sự tham gia của nông dân trong khuyến nông; Đánh giá hiệu quả khuyến nông.
SỰ RA ĐỜI, ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC 1. Sự ra đời của môn học Khoa học Khuyến nông được hình thành và phát triển ở Châu Âu từ nửa cuối của thế kỷ XVIII (Đỗ Kim Chung, 2010). Ở Việt Nam, công tác Khuyến nông chính thức được triển khai và thực hiện từ năm 1993 theo Nghị định của Chính phủ số 13-CP ngày 2/3/1993 ban hành quy định về công tác Khuyến nông. Từ đó đến nay, nước ta đã phát triển được hệ thống khuyến nông rộng khắp trong cả nước.
Công tác khuyến nông bao gồm các công việc tổ chức ra hệ thống khuyến nông, tổ chức nguồn lực, lập và triển khai kế hoạch khuyến nông, đánh giá tác động và hiệu quả của công tác khuyến nông. Đến nay đã có một số sách, giáo trình thảo luận chung về Khuyến nông như của Van den Ban (1996), Payne (1987), Tài liệu tập huấn Phương pháp Tổ chức lớp học hiện trường (FFS) của Trung tâm khuyến nông quốc gia và Trường Đại học Nông lâm Huế (2007), Phương pháp khuyến nông có sự tham gia của người dân (2003) của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Sơn La, Trung tâm Khuyến nông và Khuyến lâm Lai Châu, Trung tâm Giống và Kỹ thuật cây lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên, Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV), Tổ chức Đoàn kết quốc tế vì Hợp tác và Phát triển (CIDSE), Dự án phát triển lâm nghiệp xã hội sông Đà. Tuy nhiên, chưa có tài liệu nào thảo luận chuyên sâu về Tổ chức công tác khuyến nông. Vì vậy, giáo trình này được xây dựng và xuất bản lần đầu năm 2012.
Tuy nhiên, gần một thập kỷ qua, có nhiều biến đổi về kinh tế - xã hội: Sự đổi mới về chính sách và thể chế phát triển kinh tế - xã hội, nền kinh tế đang tiến vào hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Năm 2018, Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình 1 Dương (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP). Năm 2020, Việt Nam tham gia Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA với 28 nước thành viên EU). Hơn nữa, nền kinh tế nước ta đang chịu ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp lần thứ 4.
Nền nông nghiệp đang chuyển sang nền nông nghiệp số, vận dụng nhiều thành quả của thế hệ công nghệ thứ 4 1 vào nông nghiệp (Đỗ Kim Chung, 2017). Trong bối cảnh đó, cần phải đổi mới nội dung và cách thức tổ chức công tác khuyến nông phù hợp với hoàn cảnh mới. Vì thế, giáo trình này được biên soạn lại. Khác với lần xuất bản năm 2012, giáo trình này cập nhật các đổi mới về chính sách và tổ chức khuyến nông trong bối cảnh nền nông nghiệp đang hội nhập sâu rộng và đang chuyển sang nền nông nghiệp số.
Đối tượng nghiên cứu của môn học Tổ chức khuyến nông Đối tượng nghiên cứu của môn học này là các vấn đề về tổ chức, quản trị, điều hành và giám sát, đánh giá các hoạt động khuyến nông, bao gồm: Các loại hình tổ chức làm khuyến nông gắn liền với cơ sở pháp lý và thể chế của các loại hình tổ chức đó; Quá trình tổ chức các hoạt động khuyến nông ở từng cấp; Nghiên cứu quá trình hình thành hệ thống khuyến nông và hoạt động của các hệ thống khuyến nông. Nhiệm vụ của môn học Nhiệm vụ của môn học này là cung cấp cho người học các kiến thức và kỹ năng về tổ chức công tác khuyến nông, bao gồm: (i) Tổ chức hệ thống khuyến nông; (ii) Tổ chức nguồn lực cho khuyến nông; (iii) Kế hoạch khuyến nông; (iv) Sự tham gia của nông dân trong khuyến nông; (v) Đánh giá hiệu quả khuyến nông. Phương pháp nghiên cứu môn học Để nắm vững các kiến thức của môn học này, yêu cầu người học phải có sự am hiểu về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nắm được phương pháp và kỹ năng khuyến nông. Người học sẽ có cơ hội nắm vững lý thuyết và thực hành các hoạt động về tổ chức công tác khuyến nông trên lớp học hay đi thực địa.
Phương pháp cơ bản để nghiên cứu môn học này là thảo luận trên lớp, thảo luận nhóm và thực hành. Bài tập thực hành bao gồm cả bài tập nhóm và cá nhân để nâng cao kỹ năng cá nhân, kỹ năng làm việc nhóm của người học về tổ chức công tác khuyến nông. 1 Loài người đã trải qua 3 thế hệ công nghệ: Thế hệ thứ nhất: Công nghệ động cơ hơi nước (1784); Thế hệ thứ 2: Động cơ điện và dây chuyền sản xuất hàng loạt (1871); Thế hệ thứ 3: Máy tính và tự động hoá (1969) và Thế hệ công nghệ thứ 4 bao gồm 9 thành tố sau đây: 1) Internet vạn vật (The industrial internet of things - IoT); Kết hợp các hệ thống ngang và hệ thống dọc (Horizontal and Vertical Systems integration); Đám mây điện toán (The clouds); Mô phỏng (Simulations); Công nghệ rô-bốt tự động (Autonomous robots); Chế tạo tích lũy (Additive Manufacturing, đặc biệt là công nghệ in 3D); Cơ sở dữ liệu và phân tích quy mô lớn (Big data and analytics); Thực tế ảo (Augmented reality); Siêu an ninh mạng (Cyber security). 2 Nghiên cứu môn học này, người học phải nắm được các kiến thức cơ bản về tổ chức, các thể chế và chính sách về khuyến nông, am hiểu được thực trạng khuyến nông, am hiểu các vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn.
KHÁI NIỆM TỔ CHỨC CÔNG TÁC KHUYẾN NÔNG Trong khuyến nông, các khuyến nông viên cần phải nắm vững hai nhóm kiến thức và kỹ năng cơ bản về phương pháp khuyến nông, tổ chức hoạt động khuyến nông tại nơi mình làm việc như ở nông trại, thôn bản, xã, huyện, tỉnh và ở cấp Trung ương. Để đảm bảo cho khuyến nông viên có được nhóm kiến thức và kỹ năng thứ nhất có môn học Phương pháp khuyến nông. Môn học Tổ chức công tác khuyến nông giúp khuyến nông viên có được các kiến thức và kỹ năng tổ chức các hoạt động khuyến nông ở nơi mình công tác. Để hiểu được khái niệm về tổ chức công tác khuyến nông, cần thảo luận một số khái niệm cơ bản liên quan đến tổ chức và công tác khuyến nông.
Quản trị vận hành: Mọi hoạt động kinh tế, kinh doanh khi được tổ chức và triển khai được gọi là Quản trị vận hành (tên tiếng Anh là Operation management). Đó là quá trình tổ chức một tập hợp các hoạt động chuyên môn (administration of extension business practices) để tạo ra hiệu quả cao nhất có thể trong một tổ chức (to create the highest level of efficiency possible within an organization). Điều này liên quan đến việc chuyển đổi vật chất và lao động thành hàng hoá, dịch vụ một cách có hiệu quả để tối đa hoá lợi nhuận cho tổ chức (Anastasia Belyh, 2016). Như vậy, quản trị vận hành là quá trình tổ chức, huy động, bố trí, sắp xếp, quản lý và sử dụng các nguồn lực về vật chất, nhân lực, thể chế và tài chính.
để triển khai một hoạt động nào đó theo thời gian và không gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu xác định của hoạt động đó với chi phí thấp nhất. Quản trị vận hành là công việc không thể thiếu được trong bất cứ hoạt động nào của một cá nhân, một tổ chức và một địa phương. Cũng như mọi hoạt động kinh tế khác, lĩnh vực khuyến nông cũng vận dụng khoa học của quản trị vận hành. Quá trình vận dụng khoa học quản trị vận hành vào khuyến nông được gọi là quá trình tổ chức công tác khuyến nông.
Vì thế, tổ chức công tác khuyến nông được hiểu là tập hợp các hoạt động tổ chức và quản lý để tạo ra hiệu quả cao nhất có thể trong một tổ chức khuyến nông, để chuyển đổi vật chất, tài chính và lao động thành hàng hoá và dịch vụ khuyến nông một cách có hiệu quả, tối đa hoá lợi nhuận cho tổ chức khuyến nông. Tổ chức công tác khuyến nông là gồm các hoạt động tổ chức quản lý nhằm kết hợp giữa công nghệ cần chuyển giao với nguồn lực vật chất (đất đai, vật tư, vật liệu, phương tiện…), nhân lực, tài chính ở thời gian và không gian cụ thể thông qua công cụ kế hoạch, giám sát và đánh giá để thực hiện chuyển giao có hiệu quả công nghệ, tiết kiệm nguồn lực, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển vền vững, đảm vảo lợi ích của các bên tham gia. 3 Công tác khuyến nông bao gồm năm lĩnh vực sau: - Tổ chức hệ thống dịch vụ khuyến nông ở các cấp từ Trung ương đến cơ sở; - Lập kế hoạch khuyến nông; - Tổ chức các nguồn lực vật chất, nhân lực và tài chính cho khuyến nông; - Tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá kế hoạch khuyến nông ở các cấp; - Sự tham gia của nông dân vào các hoạt động khuyến nông. Tuỳ theo phạm vi hoạt động của các cán bộ khuyến nông mà công tác khuyến nông có nội dung rộng hay hẹp.
Nếu cán bộ khuyến nông làm việc ở cấp Trung ương (Trung tâm khuyến nông quốc gia), công tác khuyến nông mà cán bộ đảm nhận mang nội dung rất rộng, che phủ trong phạm vi cả nước. Nếu cán bộ khuyến nông làm việc ở cơ sở thì ba lĩnh vực của tổ chức công tác khuyến nông có tính chất rất cụ thể cho cấp huyện, xã, hay thôn bản. Nếu khuyến nông viên làm ở doanh nghiệp thì phạm vi của công tác khuyến nông phụ thuộc vào phạm vi hoạt động của doanh nghiệp. Các lĩnh vực trên có liên quan mật thiết lẫn nhau và làm nền tảng cho nhau.
Cụm từ “công tác” trong khái niệm này được hiểu là các hoạt động khuyến nông của cả khu vực công và tư nhân tiến hành.