Chương 1. Tổng quan vềđối tượng nghiên cứu “Chương 2. Đánh giá thực trạng môi trường của trang tai chân nuôi lợn tập tung “Chương 3. ĐỀ xuất một số giải pháp giảm thiểu 6 nhiễm tại trăng ti chân nuôi lợn tập trung 5.
Dự kiến kết quả đạt được - Đánh giá được thực rạng ô nhiễm môi trường của trang trại chăn môi lợn tập trùng tại xã Yên Giang, huyện Yên Dinh, tỉnh Thanh Hóa. = Đề xuất được các giải phip kỹ thuật, quan lý phù hợp với trang tại để giảm thiểu ô nhiễm môi trường. TONG QUAN VE DOL TƯỢNG NGHIÊN CUU 1. Tổng quan ngành c 1.
Tình hình chăn nuôi lợn tại Tại Việt Nam, ngành chăn nuôi lợn đã có từ rất lâu đời và chăn nuôi lợn đồng vai trò rit quan trong trong hệ thing sin xuất nông nghiệp cũng như ngành chăn môi ở Việt Nam. Việc iêu thu thit lợn trong các bữa ăn hing ngày của người Việt Nam rit phổ biển, lượng thịt lợn chiếm 74,2% (năm 2013) trong tổng sản. lượng thịt hoi các loại. Giá tị sản xuất của ngành chan nuôi nim 2010 là 135.137,1 tỷ đồng; năm 2011 là 199.171,8 tỷ đồng; năm 2012 là 200.849,8 tỷ đồng; năm 2013 là 196.
‘Theo thời gian, việc chin muôi lợn ti nước ta cũng có rit nhiễu thay đổi để phù hợp với tinh hình thực tổ, Từ năm 1986 đến nay, đây là gi đoạn chuyển đổi nền kinh tế, chuyển đổi cơ cầu cây trồng vật nuôi phủ hợp với môi trường sinh thái va nông nghiệp sản xuất hàng hóa để tham gia thị trường khu vực (AFTA) va tổ chúc Thương mại thể giới (WTO), Từ đó, các mô hình chăn môi lợn được hình thành và phát triển ở các tỉnh miễn Nam và các tỉnh phía Bắc, hình thức chăn nuôi lợn theo trang trại và doanh nghiệp tư nhân hình thành và phát tiển mạnh. Ngoài ra, còn có nhiều doanh nghiệp và công ty chăn nudi lợn có vẫn dầu tư 100% của nước ngoài. Với hình thức chăn nuôi công nghiệp tập trung này, ngành chăn nuôi lợn nước la sẽ phát tiển nhanh chóng, tuy nhiền hình thức chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm ty lệ lớn, (65-70% về đầu con và 55-60% về sản lượng). “Theo kết quả điều trả sơ bộ ti thời điểm 1/4/2014 của Tổng cục Thống kẻ, cả nước có 26,39 triệu con lợn, tăng nhẹ (0.3%) so với cùng kỳ.
Hiện ti chăn mui lợn khả thuận lợi do giá lợn hơi tăng và dịch lợn tai xanh không xảy ra đã kích thích người chan nuôi dầu tư tái đàn. Sản lượng thị lợn hơi xuất chuồng 6 thắng đầu năm 2014 ước tính đạt 1963,3 nghìn tin, tăng 1,65% so với cùng kỳ năm trước {10} 1. Thực trang 6 nhiễm môi trường tại các trang trai chân nuôi lợn ở Việt Nam Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn phát triển với tốc độ rất nhanh nhưng chủ yÊu là te phát và chưa dip ứng được các tiêu chuỗn kỹ thuật về chuồng tại và kỹ thuật chăn nuôi. Do đó năng suit chăn nuôi thấp và gây 6 nhiễm mỗi trường một cách trim trong.
O nhiễm mỗi trường không những ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi, năng suất chan nuôi mã còn ảnh hưởng rt lớn đến sức khỏe con người và môi trường sống xung quanh. CChit thải chăn nuôi tác động đến môi trường và sức Khỏe con người tên nhiều khía cạnh: gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngằm, môi trường khí, môi trường dit và các sản phim nông nghiệp. Đây chính là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh về hô hip, tiêu hoá, do tong chất thải chứa nhiều V$V gây bệnh, trứng giun. Tổchứcy giới (WHO) đã cảnh bio n không cổ biện php thu gom và xử lý chất thải chăn nuôi một cách thỏa đáng sẽ ảnh hưởng rit lớn đến sức khỏe con người, vật nuôi va gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Dic biệt là các virus biến thể từ các dịch bệnh như lờ mồm long móng, dich bệnh ti xanh lợn cổ thể lấy lan nhanh chóng và có thé cướp di sinh mạng của rắt nhiều người chăn muôi, nguồn chất thải chăn mudi lợn thải ra mỗi trường hàng năm lên tới 24,96 triệu tin, tuy nhiên, việc quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi lại chưa được quan tâm đúng mức. Hiện mới khoảng 70% hộ chăn nuôi có chuồng trai, tỷ lệ hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh cũng chỉ chiếm khoảng 10%; hộ có công trình khí sinh học (him biogas) chỉ đạt 8,7% khoảng 23% số hộ chăn nuôi không xử lý chất thải vật nuôi. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ có ‘eam kết bảo vệ môi trường chỉ chiếm 0,6% [2] VỀ phía các trang trai chăn nuôi tập trung. mặc dũ phần lớn thông xử lý chit thải nhưng hiệu quả xử lý chưa tiệt đ, số trang tr chăn mỗi có hệ thống xử lý chất thai bằng biogas khoảng 67%; số trang trại có đánh giá tác động.
môi trường chiếm chưa đầy 14% - 37,2% hộ chăn nuôi thâm canh và 36,2% chăn nuôi thời vụ không có biện pháp xử lý chất thai, Tình trạng trên đã gây ra ô nhiễm. nghiêm trong môi trường đất, nước, không khi ở nông thôn, Ước tính, hiện có ới 80% các bệnh nhiễm trừng ở nông thôn có liên quan tới nguồn nước bi nhiễm vi sinh vật như giun sán, tả, bệnh ngoài da, mắt. Nguyên nhân chủ yến do hầu hét người chin nuôi chưa cổ biện pháp xử lý chất thải lỏng tong chăn nuôi, vit xác gia súc bừa bãi và hệ thống thoát nước đơn giản làm cho tỉnh trang 6 nhiễm mỗi trường trong chăn mui vẫn chưa được khắc phục tiệt để và có chiều hướng gia tăng. Nhiễu năm qua, chất thải vật nuôi trong nông hộ được xử lý bằng 3 biện pháp chú yếu là: thải trực tiếp ra kênh mương, ao, hồ: được làm phân bón cho cây trồng: và được xử lý bằng công nghệ khí sinh học (biogas).
Ngoài ra, còn có mộtsố phương pháp khác như xử lý chất thái bằng sinh. vit thy sinh (cây muỗi nước, ảo lục bình., xử lý bằng hồ sinh học nhưng chưa .được nhân rộng. Nước thải chảy tự do ra môi trường xung quanh gây mùi hô thôi nông nặc, đặc biệt là vào những ngày oi bức, nồng độ khí 8 và NH; cao hơn mức cho phép khoảng 30-40 lin [1]. Tổng số VSV và bảo tử nắm cũng cao hơn mức cho phép rất nhiều lan, Ngoài ra nước thải chăn nuôi còn có chứa Coliform, E.
coli, BOD, COD. và trống giun sin cao hom rt nhi lẫn so với tiêu chuẳn cho phép. Ô nhiễm môi trường khu vực trại chăn nuôi do sự phân huỷ các chất hữu cơ. có mặt trong phân và nước thải của lợn.
Sau khi chất thải ra khỏi cơ thể của lợn thì các chất khí đã lập tức bay lên, khí thải chăn nuôi bao gồm hỗn hợp nhiều loại khí trong đó có trên 40 loại gây mùi, chủ yếu là H;§ Nii, Trong i khí công với sự có mặt của vi khuẩn trong phân và nước thải xảy ra qua trình khử các, jon sunphát (SO,*) thành sunphua (S”). Trong điều kiện bình thường thi HS là một trong những nguyên nhân gây ra các vin dề về mau và mùi. Nông độ S” tại hồ thu nước thải chăn nuôi lợn có thể lên đến 330 mg/l cao hơn rất nhiều so với quy chuẩn (theo QCVN 40:201 1/BTNMT cột B néng độ sunfua là 0,5mg/1). O nhiễm mãi trường từ hoạt động của cúc trung trai chấn musi fom \Vige kiểm soát chit thải chăn nuôi là một nội dung cắp bách cần được các cấp quan I các nhà sản xuất và cộng đồng dân cư bắt buộc quan tâm để: hạn chế 6 nhiễm môi trường.
bảo vệ sức khỏe của con người, cỉnh quan khu dân cư cũng như không kìm ham sự phát triển của ngảnh. Cơ sở ý thuyết về các giái pháp xử lý chất thai chăn nuôi lợn trên thể giới và Việt Nam. Xã lý chất thải rắn Phân lợn là những thành phần thức an mà cơ thể không thể hip thụ được và ‘bj đảo thai ra bên ngoài, mỗi ngày cơ thể lợn thải ra một lượng chất rắn bằng tương dung từ 6- 8 % trọng lượng cơ thé của vật nuôi. Trong thành phần của phân lợn bao gồm các chat xơ, tinh bột, protein dư thừa, các men tiêu hoá, các axit amin, các chất khoảng.
Ngoài ra trong phân còn có chứa nhiễu loại vi khuẩn virul, trimg ky sinh tring. Vi khuẩn thuộc họ Enterobacterracea chiếm da số với các giống điển hình như Escherichia, Salmonella, Shigella, Proteus, Klebsiella, Trong 1 kg phân số chứa từ 2000 -5000 trứng giun sắn, Vi vậy, ở các nước phát iển như Nhật Bản, Hồng Kông. trước khi sử dụng phân gia súc để bón cho cây trồng đều phải qua giai đoạn ủ để phân hủy các thành phần hữu cơ khó phân hủy thành các chất dB hip thy đối với cây trồng, khử mùi hôi và tiêu dit vi sinh vật gây bệnh để tránh lây lan "bệnh tật vào môi trường [13] "Hình 1. Mô hình xử lý chat thải rin (phân gia súc) dang được áp dung rộng rãi tại Hồng Kông [12] Hiện nay ở Việt nam công tác quản lý chất thai chăn nuôi lợn dang gặp nhiều.
vige sử dụng phân lợn để bón cho cây tring trong nông nghiệp vẫn côn bị hạn chế do phân lợn không giống phân gia súc khác, phân lợn ớt và hôi thổi, phân lợn (phân nóng) nêu sử dung trực tiếp không qua đ ban cho cây trồng sẽ làm cho cây bị chết hoặc làm giảm năng suất cây trồng ( Siu riêng mắt mồi, nhăn không ngọt. Sử dụng chế phẩm vi sinh vật để xử lý mỗi trường chăn nuôi gia súc: Hiện nay ở nước ta cũng đã có một s6 nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh vật EM. (Effective microorganism), chế phẩm BIO-F, Compost ~ maker [12] đã mang lại một số kết quả tố như nếu sử dụng chế phim EM có tác dụng ngăn chặn mùi hoi trong chuồng tri, làm giảm quin thể các vi sinh vật gây bệnh, út ngắn được thời gian phân hủy so với phương pháp ủ truyễn thống Việc nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh để xử lý chất thải chăn nuôi ở Việt Nam cũng đã được 1 số địa phương quan tâm và đầu tư kinh phí: vi dụ Sở 10 KHICN Ha Tây năm 2008 đã ip kinh phi cho Công ty cổ phần công nghệ sinh học đã thực hiện đề tài: Xử lý môi trường phân thải của các trang trại chăn nuôi tập trung tại Hà Tây để sin xuất phân bin hữu cơ vỉ sinh do cấp kinh phí, hoặc Sở KHCN Vĩnh Phúc năm 2007-2008 cắp kinh phí cho Viện Công nghệ môi trường, Viện KHI&CN Việt Nam thực hiện để tải: Ứng dụng chế phẩm vỉ sinh vật xử lý phế thải nông nghiệp thành phân bin hãu cơ - vỉ sinh, làm sạch môi trường nông thôn.