Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở nghiên cứu tập tính của vật nuôi 1. Tập tính của vật nuôi Tập tính chính là các hoạt động, phản ứng trả lời các kích thích ở các loài động vật hay tất cả các hành vi trong cuộc sống của chúng.
Tập tính phản ánh toàn bộ hoạt động sống của động vật, biểu hiện các mối quan hệ giữa động vật với môi trường, với tự nhiên, với các cá thể khác trong loài và khác loài vô cùng phong phú và đa dạng. Theo Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên (1999) [29], đã phân chia tập tính của vật nuôi thành các loại chính sau đây: Tập tính bẩm sinh: Chính là bản năng của động vật, mà bản năng chính là các hoạt động, cử động có trước ý thức dẫn tới các tính cách, các biểu hiện sống của động vật. Bản năng là chuỗi phản xạ nối tiếp theo một trình tự nhất định được ghi trong gen cơ cấu di truyền của động vật. Bản năng không thay đổi, nó đặc trưng và có lợi cho loài và là kết quả của chọn lọc tự nhiên.
Tập tính tiếp thu: Được hình thành và bắt chước qua huấn luyện của con người, qua biến đổi môi trường mới không ghi trong bộ gen, không được chương trình hoá trong gen nên mềm dẻo, linh hoạt và luôn thay đổi theo ngoại cảnh và môi trường sống mới. Tập tính hỗn hợp: Là những tập tính mới được hình thành trong điều kiện sống thay đổi, trong đó có cả tập tính bẩm sinh và tập tính tiếp thu, mà ranh giới của nó rất khó phân biệt. Tập tính của động vật chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố đó là: Tính di truyền, các nhân tố khí hậu (nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm tương đối, mưa, gió, sự căng thẳng dẫn đến stress). Nghiên cứu di truyền tập tính của động vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về lý thuyết lẫn thực tiễn.
Việc nắm vững các 4 nền tảng khoa học của tập tính và di truyền học, tập tính của vật nuôi giúp các nhà chăn nuôi trong việc chăm sóc, phòng chống dịch bệnh có hiệu quả cao. Tác giả Phan Cự Nhân và Cs (1999) [29] đã cho rằng tập tính là một biểu hiện rõ rệt đầu tiên của con vật đối với điều kiện sống. Vì vậy, nghiên cứu tập tính của vật nuôi rất cần thiết. Tập tính là một tính trạng được sử dụng trong chọn giống, bởi chúng đảm bảo cho sự tồn tại của loài trước mọi biến động của môi trường.
Mặt khác, chỉ tiêu cơ bản của ngành chăn nuôi là năng suất, điều này liên quan trực tiếp tới mọi trạng thái của vật nuôi. Tính trạng số lượng của vật nuôi Phần lớn các tính trạng sản xuất của vật nuôi là các tính trạng số lượng, cơ sở di truyền học của các tính trạng số lượng do các gen nằm trên NST quy định. Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [44] Các tính trạng số lượng là những tính trạng, mà ở đó sự khác nhau giữa các cá thể là sự sai khác nhau về chủng loại. Sự khác nhau này chính là nguồn vật liêu để cung cấp cho chọn lọc tự nhiên, cũng như chọn lọc nhân tạo.
Tính trạng số lượng còn được gọi là tính trạng đo lường, vì sự nghiên cứu phụ thuộc vào sự đo lường, như mức độ tăng trọng của gà, kích thước các chiều đo, khối lượng trứng … Tuy nhiên có những tính trạng mà giá trị của chúng có được bằng cách đếm, như số lợn con đẻ ra trong một lứa, số lượng trứng đẻ ra trong một năm, vẫn được coi là các tính trạng về số lượng, đó là tính trạng số lượng đặc biệt. Hệ số di truyền có liên quan đến tính trạng số lượng được gọi là di truyền học số lượng. Di truyền học số lượng vẫn lấy các quy luật di truyền học của Mendel làm cơ sở, nhưng do đặc điểm riêng của tính trạng số lượng so với các tính trạng chất lượng đều là đối tượng nghiên cứu của di truyền học Mendel, nên phương pháp nghiên cứu trong di truyền học số lượng khác với phương pháp nghiên cứu trong di truyền học Mendel về 2 phương diện 5 Thứ nhất là: Các đối tượng nghiên cứu không chỉ dừng lại ở mức độ cá thể, mà phải mở rộng tại mức độ quần thể bao gồm các nhóm cá thể khác nhau Thứ hai là: Sự sai khác nhau giữa các cá thể không thể là sự phân loại mà nó đòi hỏi phải có số đo lường các cá thể. Nghiên cứu đặc điểm di truyền học của các tính trạng số lượng, bên cạnh việc vận dụng các di truyền học của Mendel, còn phải sử dụng các khái niệm toán thống kê, xác suất để phân tích các giá trị di truyền.
Giá trị đo lường được của tính trạng số lượng trên một cá thể được gọi là giá trị kiểu hình của cá thể đó, các giá trị có liên hệ với kiểu gen là giá trị kiểu gen và giá trị có liên hệ với môi trường là sai lệch của môi trường. Như vậy có nghĩa là kiểu gen quy định một giá trị nào đó của cá thể và môi trường gây ra một sự sai lệch của kiểu gen hướng này hoặc kiểu gen hướng khác. Quan hệ trên có thể biểu thị như sau: P=G+E Trong đó: P: Là giá trị kiểu hình G: Là giá trị kiểu gen E: Là sai lệch môi trường Nếu trung bình sai lệch môi trường của một quần thể bằng (0) thì trung bình giá trị kiểu hình bằng trung bình giá trị kiểu gen. Khi đó thuật ngữ trung bình quần thể là trung bình giá trị kiểu hình hoặc trung bình giá trị kiểu gen của quần thể và trung bình quần thể là tổng các tích số của từng giá trị kiểu gen, với tần số của nó khi đề cập đến các thế hệ kế tiếp nhau.
Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ cấu tạo thành, đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ thì sẽ có ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng nghiên cứu. Hiện tượng này người ta gọi là hiện tượng đa gen, môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến tính trạng số lượng, trong khi đó đối với tính 6 trạng chất lượng là những tính trạng đơn gen thì ít bị ảnh hưởng do tác động của môi trường. Tác động của các nhân tố ngoại cảnh như: (Nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, thức ăn, nước uống, không khí .) nên tính trạng số lượng là rất lớn nó có thể kìm hãm hoặc phát huy để làm thay đổi các giá trị của tính trạng đó. Giá trị kiểu gen được phân ra làm 3 phương thức hoạt động, đó là sự cộng gộp, sự sai lệch trội, lặn và tương tác giữa các gen như sau: G=A+D+I Trong đó: G: Là giá trị kiểu gen A: Là Giá trị cộng gộp D: Là sai lệch do tác động trội, lặn I : Là sai lệch do tương tác giữa các gen Để đo lường được các giá trị truyền đạt từ bố mẹ cho đời con phải có một giá trị đo lường mới có liên hệ trực tiếp với gen chứ không phải với kiểu gen, đó chính là hiệu ứng trung bình giữa các gen.
Tổng các hiệu ứng trung bình giữa các gen quy định tính trạng (tổng các hiệu ứng được thực hiện với từng cặp gen ở mỗi Lô cút và trên tất cả các Lô cút), được gọi là giá trị cộng gộp hoặc giá trị giống của cá thể. Đây chính là thành phần quan trọng của kiểu gen vì nó có tính chất cố định hoặc di truyền cho đời sau. Sai lệch trội, lặn: khi ta đi xem xét một số Lô cút duy nhất, sai lệch trội (D) được sinh ra từ tác động qua lại giữa các cặp Alen trong cùng một Lô cút (đặc biệt là các Alen dị hợp tử) điều này rất có ý nghĩa trong lai giống vật nuôi. Sai lệch tương tác giữa các gen: Là sai lệch do tương tác giữa các gen không cùng một Lô cút, sai lệch này thường thấy trong di truyền học số lượng hơn trong di truyền học của Mendel.
Ngoài ra các di truyền học số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường E và được chia thành hai loại sai lệch do môi trường là Eg và Es. 7 Sai lệch môi trường chung: Là sai lệch do các yếu tố môi trường có tính chất thường xuyên và không cục bộ tác động lên toàn bộ cá thể trong cùng một nhóm vật nuôi. Sai lệch môi trường riêng: Là sai lệch do các nhân tố môi trường có tính chất không thường xuyên và cục bộ tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong cùng một nhóm vật nuôi. Tóm lại khi một kiểu hình của một cá thể được cấu tạo bởi từ hai Lô cút trở lên thì giá trị kiểu hình của nó được biểu thị như sau: P = A + D + I + Eg + Es Theo Dickenson, (1952) (dẫn theo Nguyễn Văn Thiện 1995) [44], vấn đề tương tác giữa kiểu gen di truyền với môi trường rất quan trọng đối với ngành chăn nuôi gia cầm.
Qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng ở trên ta thấy rằng muốn nâng cao năng suất của vật nuôi cần phải: * Tác động về mặt di truyền (G) - Tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc - Tác động vào các hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng cách phối giống tạp giao * Tác động về mặt môi trường - Cải tiến điều kiện chăn nuôi như: Thức ăn, thú y, chuồng trại. Trong chăn nuôi các giống vật nuôi luôn nhận được từ bố mẹ một số gen quy định tính trạng số lượng nào đó và được xem như là nhận được từ bố mẹ một khả năng di truyền. Tuy nhiên, khả năng đó có phát huy được tốt hay không còn phụ thuộc rất lớn vào điều kiện sống, sinh hoạt của vật nuôi. Sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng ở gia cầm 1.
Tốc độ sinh trưởng Tốc độ sinh trưởng là đặc điểm chất lượng về sức sản xuất thịt, nó mang tính di truyền và liên quan đến những đặc điểm trao đổi chất, kiểu hình, dòng, 8 giống. Đặc điểm này có ý nghĩa rất lớn, nếu giống gia cầm nào có tốc độ sinh trưởng nhanh thì khả năng vỗ béo và giết thịt sớm hơn và sử dụng thức ăn cũng tốt hơn. Chỉ tiêu để đánh giá tốc độ sinh trưởng là sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối.