Tổng quan luận án
Sản xuất nông nghiệp của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đóng góp khoảng 51% GDP và sử dụng khoảng 85% lực lượng lao động. Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, ngành chăn nuôi đóng góp xấp xỉ 16% GDP (Wilson, 2007). Chăn nuôi gia cầm là nghề truyền thống lâu đời của các bộ tộc Lào, trong đó gà là đối tượng được nuôi phổ biến nhất và chủ yếu là các giống bản địa. Khảo sát thực tế 1.587 cá thể gà tại 30 hộ thuộc 3 bản ngoại vi tỉnh Luang Prabang cho thấy gà Hon Chu là giống chiếm tỷ lệ nuôi cao nhất (42,60%), tiếp theo là các giống gà Nhộc (23,69%), gà Đục Đăm (15,19%) và gà Trè (8,52%) (Souksanith, 2014). Gà Hon Chu có tầm vóc nhỏ, thịt thơm ngon và thích nghi cao với tập quán chăn nuôi quảng canh tại địa phương, nhưng có nhược điểm lớn là năng suất trứng thấp (62,13 - 62,15 quả/mái/năm), tốc độ sinh trưởng chậm và khả năng tăng đàn kém, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ thực phẩm ngày càng tăng của thị trường tiêu dùng và du lịch tại Luang Prabang. Việc kết hợp bảo tồn nguồn gen bản địa với lai tạo cùng các giống gà lông màu nhập nội có năng suất cao như gà Lương Phượng là một định hướng cần thiết.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: trước thời điểm thực hiện đề tài, tại CHDCND Lào có rất ít công trình nghiên cứu hệ thống về các giống gà nói chung, đồng thời chưa có công trình nào đánh giá toàn diện về các đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh sản, khả năng cho thịt của gà Hon Chu cũng như tiềm năng lai tạo giữa giống gà bản địa này với gà lông màu nhập nội.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Đánh giá khả năng sản xuất của gà Hon Chu và các tổ hợp lai giữa gà Hon Chu và Lương Phượng nhằm định hướng công tác bảo tồn nguồn gen và lai tạo, góp phần cải tiến năng suất chăn nuôi gà tại CHDCND Lào.
- Mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Xác định đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Hon Chu trong điều kiện chăn nuôi quảng canh tại các nông hộ và chăn nuôi thâm canh tại Trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp miền Bắc Luang Prabang;
- Mục tiêu 2: Đánh giá khả năng sản xuất của tổ hợp lai F1 và khả năng sinh sản của tổ hợp lai F2 giữa gà Hon Chu và Lương Phượng nuôi tại Trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp miền Bắc Luang Prabang;
- Mục tiêu 3: Ứng dụng tổ hợp lai F1 giữa gà Lương Phượng và gà Hon Chu tại một số nông hộ thuộc khu vực phụ cận tỉnh Luang Prabang.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Gà bản địa Hon Chu tại khu vực Luang Prabang; gà Lương Phượng có nguồn gốc từ trứng ấp nhập của Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi gia cầm Vạn Phúc (Hà Nội, Việt Nam); các tổ hợp gà lai F1 và F2 giữa gà Hon Chu và gà Lương Phượng.
- Phạm vi không gian: Trại Chăn nuôi thuộc Trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp miền Bắc Luang Prabang và các nông hộ tại 3 bản thuộc khu vực phụ cận tỉnh Luang Prabang, CHDCND Lào.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu chính được thực hiện từ năm 2015 đến năm 2019 (kết hợp kế thừa một số số liệu điều tra gà Hon Chu tại nông hộ năm 2013 từ luận văn thạc sĩ của tác giả).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu về gà địa phương và lai tạo gia cầm trên thế giới, tại Việt Nam và tại Lào:
-
Các nghiên cứu quốc tế về gà bản địa:
- Wimmers & cs. (2000) và Pedersen (2002) nhận định kiểu hình đa dạng là đặc tính chủ yếu của các giống gà địa phương trên thế giới.
- Choo & cs. (2014) đánh giá tăng khối lượng/thức ăn của 3 giống gà bản địa Hàn Quốc vượt trội hơn gà địa phương của Benin (Youssao & cs., 2012), Nigeria (Momoh & cs., 2010) và Tunisia (Moujahed & Haddad, 2012). Hiệu quả sử dụng thức ăn của gà địa phương nói chung thường ở mức thấp.
- Về phẩm chất thịt và sinh trưởng, Le Bihan-Duval (2003) và Sirri & cs. (2011) nêu rõ chăn nuôi gà sinh trưởng chậm giúp hạn chế các rối loạn trao đổi chất và bệnh xương gặp ở gà công nghiệp sinh trưởng nhanh (Blagojević & cs., 2009). Castellini & cs. (2003) và Lewis & cs. (1997) chỉ ra gà sinh trưởng chậm có khối lượng thịt lườn thấp hơn nhưng tỷ lệ thịt đùi và cơ đùi lại cao hơn gà sinh trưởng nhanh.
- Về năng suất sinh sản của gà địa phương: gà Jordan thành thục lúc 22 - 30 tuần tuổi, đẻ 68,9 quả/năm (Abdelqader & cs., 2008); gà Ethiopia đẻ 3 - 4 lứa/năm, năng suất 15 - 20 trứng/lứa, tuổi đẻ đầu 6,89 - 6,97 tháng (Dessie & Ogle, 2001; Chebo & Nigussie, 2016); gà Morocco đẻ 78 trứng/năm (Benabdeljelil & Arfaoui, 2001); gà Bangladesh bắt đầu đẻ lúc 151,8 - 159,1 ngày (Farruque & cs., 2013); gà Kampung của Indonesia đẻ 45 - 56 trứng/năm ở hệ thống quảng canh nhưng tăng gấp ba khi nuôi thâm canh (Sartika1 & Noor, 2016). Tuổi đẻ đầu của gà địa phương tại nhiều khu vực dao động từ 24 đến 32 tuần (Gueye, 1998; Gondwe, 2004; Mwalusanya & cs., 2002).
-
Các nghiên cứu về gà địa phương và gà Lương Phượng tại Việt Nam:
- Gà địa phương chiếm khoảng 80% tổng đàn gà tại Việt Nam (Nguyễn Đăng Vang, 2003; Eaton & cs., 2006; Hoàng Văn Tiệu & cs., 2008). Các công trình lai kinh tế gà bản địa đã được tiến hành từ sớm như lai giữa gà Mía, Phù Lưu Tế, Chọi với gà Ri (Tạ An Bình & Nguyễn Thị Hoài Tao, 1974); chọn tạo giống gà thích nghi Rhode-Ri (Bùi Quang Tiến & Nguyễn Thị Hoài Tao, 1985); lai gà Đông Tảo x Tam Hoàng (Nguyễn Đăng Vang, 2000); lai gà Goldine x Rhode-Ri và Tam Hoàng x Rhode (Trần Công Xuân, 1999).
- Nhiều tác giả khảo sát sâu về các giống bản địa như gà Hồ (Bùi Hữu Đoàn & Nguyễn Xuân Lưu, 2006; Nguyễn Hoàng Việt, 2013; Dao Thi Hiep, 2013; Đỗ Thị Huế & cs., 2017; Bùi Hữu Đoàn & cs., 2016), gà Ri (Nguyễn Huy Đạt & cs., 2011), gà Lục Ngạn lông cằm (Nguyễn Bá Mùi & cs., 2012), gà nhiều ngón Phú Thọ (Nguyễn Hoàng Thịnh & cs., 2016), gà Đông Tảo (Lê Thị Thắm & cs., 2016), gà H'Mông (Nguyễn Thị Phương & cs., 2017).
- Về giống gà Lương Phượng: Các nghiên cứu chọn tạo 3 dòng gà LV1, LV2, LV3 và các dòng M1, M2 (Trần Công Xuân & cs., 2001, 2003; Nguyễn Văn Bắc & cs., 2006; Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương, 2005) ghi nhận tỷ lệ đẻ trung bình đạt 50,51 - 64,84%, tiêu tốn thức ăn từ 2,3 - 2,5 kg/10 quả trứng, tỷ lệ phôi 88,83 - 96,09% và tỷ lệ nở 78,43 - 84,54% (Tiêu Quang An, 2002; Nguyễn Huy Đạt & cs., 2000). Gà Lương Phượng được sử dụng lai hiệu quả với gà Ri (Hồ Xuân Tùng, 2009), gà Hồ (Bùi Hữu Đoàn & Hoàng Thanh, 2011), gà Mía (Phùng Đức Tiến & cs., 2010), gà Chọi (Phùng Đức Tiến & cs., 2015) và gà Kabir (Trần Công Xuân & cs., 2004).
-
Các nghiên cứu về gà tại CHDCND Lào:
- Khăm Pha Vông (2002) thống kê cơ cấu các giống gà bản địa gồm gà Nhộc (39,31%), gà Trè (27,69%), gà Hon Chu (11,55%), gà Đục Đăm (8,03%), gà U (6,17%), gà Chọi (6,10%) và gà Vải (1,15%).
- Souksanith (2014) khảo sát tại Luang Prabang ghi nhận tỷ lệ gà Hon Chu chiếm 42,60%, mô tả khối lượng 20 tuần tuổi đạt 780 g (trống) và 670 g (mái), năng suất trứng đạt 62,13 quả/mái/năm.
Vị trí của luận án: Luận án là công trình thực nghiệm đầu tiên giải quyết khoảng trống dữ liệu về đặc tính sản xuất của gà Hon Chu khi nuôi thâm canh so với quảng canh, đồng thời xác lập cơ sở khoa học cho việc tạo con lai F1 và F2 giữa gà Hon Chu và gà Lương Phượng trong điều kiện khí hậu, chăn nuôi của Lào.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Mô hình di truyền tính trạng số lượng: Giá trị kiểu hình ($P$) được xác định bởi giá trị kiểu gen ($G$) và sai lệch môi trường ($E$):
$$P = G + E = A + D + I + E_g + E_s = A + D + I + E_p + E_t$$
Trong đó: $A$ là giá trị giống (hiệu ứng cộng gộp), $D$ là hiệu ứng trội, $I$ là hiệu ứng tương tác gen; $E_g$ ($E_p$) là sai lệch môi trường chung/thường xuyên, $E_s$ ($E_t$) là sai lệch môi trường riêng/tạm thời. Chọn giống tác động vào $A$ cho các tính trạng có hệ số di truyền ($h^2$) trung bình đến cao (khối lượng cơ thể $h^2 = 0,33 - 0,60$; năng suất thịt $h^2 = 0,29 - 0,32$; khối lượng trứng $h^2 = 0,48 - 0,80$; màu vỏ $h^2 = 0,55 - 0,75$; độ dày vỏ $h^2 = 0,30$). Lai giống tác động vào $D$ và $I$ cho các tính trạng có $h^2$ thấp (năng suất trứng $h^2 = 0,12 - 0,30$; tỷ lệ trứng có phôi $h^2 = 0,11 - 0,13$; tỷ lệ ấp nở $h^2 = 0,10 - 0,14$).
- Lý thuyết ưu thế lai (Shull, 1914): Dựa trên thuyết trội, thuyết siêu trội và thuyết gia tăng tác động tương hỗ của các gen không cùng locus. Công thức tính mức độ ưu thế lai:
$$H(%) = \frac{\frac{1}{2}(AB + BA) - \frac{1}{2}(A + B)}{\frac{1}{2}(A + B)} \times 100$$
Xét mô hình 1 locus 2 allele, ưu thế lai thế hệ F1 là $H_{F1} = dy^2$ (hoặc tổng quát $\sum dy^2$, với $d$ là giá trị sai lệch trội, $y$ là sai khác tần số gen giữa hai quần thể bố mẹ). Ưu thế lai của thế hệ F2 bằng một nửa F1: $H_{F2} = 0,5 H_{F1}$.
- Giá trị kiểu hình con lai hai giống:
$$P_{F1(AB)} = \frac{1}{2}a_A + \frac{1}{2}a_B + M_A + B_B + H_I + E$$
$$P_{F1(BA)} = \frac{1}{2}a_A + \frac{1}{2}a_B + B_A + M_B + H_I + E$$
Trong đó: $H_I$ là ưu thế lai cá thể, $M$ là hiệu ứng mẹ, $B$ là hiệu ứng bố.
- Khảo sát đường cong sinh trưởng: Sử dụng hàm Richards (1959) và hàm Gompertz (Gille, 2004) làm cơ sở phân tích sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày) và sinh trưởng tương đối (%).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
-
Thiết kế tổ hợp lai:
- Tổ hợp lai F1:
- Lai thuận: Trống Lương Phượng $\times$ Mái Hon Chu $\rightarrow$ $F_1(LP-HC)$
- Lai nghịch: Trống Hon Chu $\times$ Mái Lương Phượng $\rightarrow$ $F_1(HC-LP)$
- Tổ hợp lai F2:
- Trống $F_1(HC-LP) \times$ Mái $F_1(LP-HC) \rightarrow F_2(♂HC-LP \times ♀LP-HC)$
- Trống $F_1(LP-HC) \times$ Mái $F_1(HC-LP) \rightarrow F_2(♂LP-HC \times ♀HC-LP)$
-
Các chỉ tiêu và kỹ thuật theo dõi:
- Khả năng sinh trưởng và cho thịt: Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi, tăng khối lượng tuyệt đối (ADG), hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR - kg TĂ/kg tăng khối lượng). Chỉ tiêu mổ khảo sát lúc 21 tuần tuổi: tỷ lệ thân thịt (%), tỷ lệ thịt đùi (%), tỷ lệ thịt ngực (%), tỷ lệ mỡ bụng (%).
- Khả năng sinh sản và chất lượng trứng: Tuổi đẻ quả trứng đầu, tuổi đạt tỷ lệ đẻ 5%, tỷ lệ đẻ hàng tuần (%), năng suất trứng (quả/mái), tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng (kg). Chất lượng trứng gồm khối lượng trứng (g), chỉ số hình dạng, độ dày vỏ (mm), độ chịu lực ($kg/cm^2$), chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng đặc, đơn vị Haugh (HU). Tỷ lệ trứng có phôi (%), tỷ lệ nở/trứng ấp (%), tỷ lệ gà loại I (%).
- Phương thức nuôi: Thâm canh nuôi nhốt tại Trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp miền Bắc Luang Prabang và nuôi bán chăn thả/quảng canh tại 5 nông hộ phụ cận Luang Prabang.
-
Nguồn dữ liệu: Dữ liệu đo đạc thực nghiệm trực tiếp trên các đàn gà thí nghiệm và đàn gà nuôi tại các nông hộ đối chứng, được tổng hợp và phân tích thống kê theo phương pháp xử lý số liệu sinh học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở khoa học về di truyền tính trạng số lượng, đặc điểm ngoại hình, các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, sinh sản và năng suất thịt của gia cầm. Tác giả tổng hợp các công trình nghiên cứu về gà bản địa ở châu Á, châu Phi, tình hình chọn tạo và phát triển giống gà Lương Phượng tại Việt Nam, cũng như hiện trạng chăn nuôi gà tại CHDCND Lào. Nội dung chương khẳng định cơ sở lý luận cho việc ứng dụng hiện tượng ưu thế lai thông qua phép lai giữa gà Hon Chu bản địa với gà lông màu Lương Phượng.
Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết về địa điểm (Trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp miền Bắc Luang Prabang và các nông hộ vùng phụ cận), thời gian thực hiện (2015 - 2019), đối tượng gà Hon Chu, Lương Phượng, các con lai F1, F2 và sơ đồ lai tạo. Chương này mô tả các chế độ dinh dưỡng, khẩu phần ăn từng giai đoạn, quy trình chăm sóc, phương pháp đo đạc kích thước các chiều đo cơ thể, phương pháp mổ khảo sát thân thịt, kỹ thuật đánh giá chất lượng trứng và quy trình ấp nở nhân tạo.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
1. Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Hon Chu
Gà Hon Chu có tầm vóc nhỏ, màu lông đa dạng. Con trống có màu lông trắng pha đỏ và đen; con mái có màu lông trắng đốm đen; da thân màu trắng; chân màu vàng, nâu hoặc đen.
| Chỉ tiêu theo dõi |
Chăn nuôi nông hộ (quảng canh) |
Chăn nuôi tại Trường CĐNLN (thâm canh) |
| Khối lượng lúc 20 tuần tuổi (con trống) |
780 g |
- |
| Khối lượng lúc 20 tuần tuổi (con mái) |
670 g |
- |
| Khối lượng lúc 21 tuần tuổi (nuôi thịt) |
- |
Trống: 2025,05 g; Mái: 1820,36 g |
| Tăng khối lượng trung bình (ADG) |
- |
12,38 g/con/ngày |
| Tiêu tốn thức ăn (FCR nuôi thịt) |
- |
5,50 kg thức ăn/kg tăng khối lượng |
| Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên |
7,27 tháng |
22 tuần tuổi |
| Tỷ lệ đẻ trung bình giai đoạn 23 - 40 tuần tuổi |
- |
31,40% |
| Năng suất trứng |
62,15 quả/mái/năm |
39,56 quả/mái/18 tuần đẻ |
| Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng |
- |
5,44 kg thức ăn |
| Tỷ lệ ấp nở |
84,42% |
Theo dõi thực nghiệm tại trại |
2. Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà lai F1 giữa Hon Chu và Lương Phượng
Hai tổ hợp lai thuận nghịch $F_1(LP-HC)$ và $F_1(HC-LP)$ có sự khác biệt rõ nét về khả năng đẻ trứng và hiệu quả sử dụng thức ăn, trong khi năng suất nuôi thịt ở 21 tuần tuổi là tương đương.
| Chỉ tiêu sản xuất |
Tổ hợp lai $F_1(LP-HC)$ |
Tổ hợp lai $F_1(HC-LP)$ |
Ưu thế lai tổ hợp $F_1(HC-LP)$ (%) |
| Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên |
21 tuần tuổi |
20 tuần tuổi |
- |
| Khối lượng cơ thể lúc đẻ quả trứng đầu |
1447,14 g |
1373,33 g |
- |
| Ưu thế lai về tuổi đẻ 5% |
- |
- |
4,76% |
| Tỷ lệ đẻ trung bình (giai đoạn 20 tuần đẻ) |
33,67% |
56,50% |
23,82% |
| Năng suất trứng (giai đoạn 20 tuần đẻ) |
44,78 quả/mái |
75,70 quả/mái |
22,59% |
| Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng |
5,49 kg |
3,12 kg |
29,59% |
| Khối lượng lúc 21 tuần tuổi (nuôi thịt) |
Trống: 1828 - 1880 g; Mái: 1480 - 1500 g |
Trống: 1828 - 1880 g; Mái: 1480 - 1500 g |
- |
| Tăng khối lượng trung bình (ADG) |
Trống: 12,5 g/ngày; Mái: 9,7 - 10,0 g/ngày |
Trống: 12,5 g/ngày; Mái: 9,7 - 10,0 g/ngày |
- |
| Tiêu tốn thức ăn (FCR nuôi thịt) |
5,90 - 6,00 kg TĂ/kg tăng khối lượng |
5,90 - 6,00 kg TĂ/kg tăng khối lượng |
- |
| Tỷ lệ thân thịt |
65,00 - 68,00% |
65,00 - 68,00% |
- |
Đặc điểm thân thịt: Tỷ lệ thịt đùi của gà lai F1 ở cả hai tổ hợp đều đạt cao hơn so với tỷ lệ thịt ngực.
3. Khả năng sinh sản của gà lai F2 giữa Hon Chu và Lương Phượng
Các tổ hợp lai F2 được theo dõi về tỷ lệ sống, khả năng sinh trưởng giai đoạn hậu bị và năng suất đẻ trứng trong 20 tuần đẻ:
| Chỉ tiêu theo dõi |
$F_2(♂HC-LP \times ♀LP-HC)$ |
$F_2(♂LP-HC \times ♀HC-LP)$ |
| Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên |
22 tuần tuổi |
21 tuần tuổi |
| Khối lượng cơ thể lúc đẻ quả trứng đầu |
1590,83 g |
1561,88 g |
| Tỷ lệ đẻ trung bình (20 tuần đẻ) |
51,08% |
61,03% |
| Năng suất trứng tích lũy (20 tuần đẻ) |
64,37 quả/mái |
81,17 quả/mái |
| Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng |
2,69 kg |
2,24 kg |
Tổ hợp lai $F_2(♂LP-HC \times ♀HC-LP)$ có ưu thế rõ rệt về tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và giảm lượng thức ăn tiêu tốn trên 10 quả trứng so với tổ hợp $F_2(♂HC-LP \times ♀LP-HC)$.
4. Ứng dụng kết quả gà lai F1 ở nông hộ
Tổ hợp lai $F_1(LP-HC)$ (Trống Lương Phượng $\times$ Mái Hon Chu) được đưa vào nuôi thử nghiệm tại 5 nông hộ thuộc vùng phụ cận tỉnh Luang Prabang gồm: hộ ông Phongsack, hộ ông Bounthan, hộ ông Khamxang, hộ bà Ben và hộ ông Thammavong. Kết quả theo dõi tại các hộ chăn nuôi cho thấy gà lai có tốc độ lớn nhanh hơn rõ rệt so với gà Hon Chu thuần, thời gian nuôi thịt được rút ngắn, gà có sức sống cao, ít mắc bệnh và thích ứng tốt với điều kiện chăm sóc của nông hộ.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới của đề tài
- Đóng góp về lý luận và khoa học: Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và đầy đủ về đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất của gà Hon Chu (giống gà bản địa phổ biến tại Lào) trong cả hai phương thức nuôi quảng canh và thâm canh. Luận án cung cấp các thông số định lượng chuẩn xác về các chỉ tiêu di truyền số lượng, quy luật sinh trưởng, năng suất trứng, chất lượng thân thịt và các thông số ưu thế lai của các tổ hợp lai giữa gà Hon Chu và gà Lương Phượng.
- Đóng góp về thực tiễn:
- Xác định được hai tổ hợp lai có ưu thế nổi trội về khả năng sinh sản: con lai $F_1(HC-LP)$ đạt năng suất 75,70 quả trứng/mái/20 tuần và con lai $F_2(♂LP-HC \times ♀HC-LP)$ đạt năng suất 81,17 quả trứng/mái/20 tuần.
- Đưa thành công tổ hợp lai $F_1(LP-HC)$ vào chăn nuôi thực tế tại 5 nông hộ ở khu vực phụ cận Luang Prabang, chứng minh tính khả thi của việc cải thiện tốc độ tăng trọng và rút ngắn thời gian nuôi thịt cho các nông hộ.
Đề xuất và giải pháp
- Sử dụng công thức lai giữa gà trống Hon Chu và gà mái Lương Phượng ($F_1(HC-LP)$) để khai thác ưu thế lai cao về năng suất trứng và hiệu quả sử dụng thức ăn.
- Khai thác tổ hợp $F_2(♂LP-HC \times ♀HC-LP)$ phục vụ mục đích nhân đàn và sản xuất trứng thương phẩm.
- Khuyến khích ứng dụng tổ hợp lai $F_1(LP-HC)$ trong điều kiện chăn nuôi nông hộ để tận dụng khả năng cho thịt, khả năng chống chịu bệnh và thích nghi với điều kiện chăn thả tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Phạm vi khảo nghiệm thực tế của đề tài mới tập trung tại khu vực tỉnh Luang Prabang (Trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp miền Bắc Luang Prabang và 5 nông hộ phụ cận); việc thử nghiệm ứng dụng tại nông hộ mới chỉ tiến hành trên tổ hợp lai $F_1(LP-HC)$; các theo dõi trên thế hệ F2 chủ yếu tập trung vào giai đoạn hậu bị và khả năng sinh sản trong 20 tuần đầu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng quy mô thử nghiệm các tổ hợp lai F1 và F2 ra các vùng sinh thái khác nhau của CHDCND Lào; tiếp tục theo dõi chu kỳ đẻ trứng đầy đủ của các thế hệ lai và nghiên cứu các biện pháp hoàn thiện quy trình dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng phù hợp với từng tổ hợp lai.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Di truyền - Giống vật nuôi: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp thiết kế thí nghiệm lai hai bước (F1 và F2), phương pháp đánh giá ưu thế lai định lượng và kỹ thuật đánh giá chất lượng trứng, thân thịt gia cầm.
- Giảng viên và cán bộ nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu nông lâm nghiệp của Việt Nam và Lào: Bổ sung nguồn tư liệu gốc có hệ thống về giống gà bản địa Hon Chu và các tổ hợp lai gà lông màu.
- Cán bộ quản lý ngành chăn nuôi, khuyến nông và các nhà hoạch định chính sách nông nghiệp tại CHDCND Lào: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược bảo tồn nguồn gen vật nuôi bản địa kết hợp với chương trình cải tiến năng suất chăn nuôi gia cầm ở quy mô nông hộ.
Câu hỏi thường gặp
1. Gà Hon Chu nuôi thâm canh và nuôi quảng canh tại nông hộ có sự khác biệt như thế nào về năng suất?
Trong điều kiện quảng canh tại nông hộ, gà Hon Chu thành thục muộn (đẻ trứng đầu lúc 7,27 tháng), khối lượng 20 tuần tuổi đạt 780 g (trống) và 670 g (mái), năng suất trứng đạt 62,15 quả/mái/năm. Khi nuôi thâm canh, gà đẻ quả trứng đầu lúc 22 tuần tuổi, năng suất trứng 18 tuần đầu (từ 23 đến 40 tuần tuổi) đạt 39,56 quả/mái với tỷ lệ đẻ 31,40%; gà nuôi thịt lúc 21 tuần tuổi đạt khối lượng 2025,05 g (trống) và 1820,36 g (mái), tăng khối lượng 12,38 g/con/ngày và tiêu tốn 5,50 kg thức ăn/kg tăng khối lượng.
2. Năng suất đẻ trứng và mức độ biểu hiện ưu thế lai của hai tổ hợp lai thuận nghịch F1 khác nhau ra sao?
Tổ hợp lai nghịch $F_1(HC-LP)$ (Trống Hon Chu $\times$ Mái Lương Phượng) có năng suất vượt trội so với tổ hợp lai thuận $F_1(LP-HC)$: tuổi đẻ đầu sớm hơn (20 tuần so với 21 tuần), tỷ lệ đẻ trung bình cao hơn (56,50% so với 33,67%), năng suất trứng 20 tuần đạt 75,70 quả/mái (so với 44,78 quả/mái) và tiêu tốn ít thức ăn hơn (3,12 kg so với 5,49 kg/10 quả trứng). Tổ hợp $F_1(HC-LP)$ thể hiện ưu thế lai cao ở các chỉ tiêu: tuổi đẻ 5% (4,76%), tỷ lệ đẻ (23,82%), năng suất trứng (22,59%) và tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng (29,59%).
3. Khả năng sinh sản của tổ hợp lai F2 nào đạt kết quả tốt nhất?
Tổ hợp lai $F_2(♂LP-HC \times ♀HC-LP)$ đạt kết quả sinh sản tốt nhất với tuổi đẻ đầu lúc 21 tuần tuổi (khối lượng 1561,88 g), tỷ lệ đẻ trung bình đạt 61,03%, năng suất trứng tích lũy đạt 81,17 quả/mái/20 tuần và tiêu tốn thức ăn là 2,24 kg/10 quả trứng; vượt trội hơn tổ hợp $F_2(♂HC-LP \times ♀LP-HC)$ (tỷ lệ đẻ 51,08%, năng suất trứng 64,37 quả/mái, FCR 2,69 kg/10 quả trứng).
4. Khả năng nuôi thịt lúc 21 tuần tuổi của các tổ hợp lai F1 giữa Hon Chu và Lương Phượng đạt mức nào?
Hai tổ hợp lai F1 không có sự khác biệt đáng kể về khả năng cho thịt: khối lượng gà trống đạt 1828 - 1880 g, gà mái đạt 1480 - 1500 g; tăng trọng trung bình đạt 12,5 g/ngày (trống) và 9,7 - 10,0 g/ngày (mái); tiêu tốn thức ăn từ 5,90 - 6,00 kg/kg tăng trọng; tỷ lệ thân thịt đạt 65,00 - 68,00%, trong đó tỷ lệ thịt đùi chiếm ưu thế cao hơn tỷ lệ thịt ngực.
5. Tổ hợp lai nào đã được đưa vào ứng dụng tại nông hộ và ghi nhận phản hồi ra sao?
Tổ hợp lai $F_1(LP-HC)$ đã được đưa vào nuôi thực tế tại 5 hộ dân vùng phụ cận Luang Prabang (hộ ông Phongsack, ông Bounthan, ông Khamxang, bà Ben, ông Thammavong). Kết quả cho thấy con lai sinh trưởng nhanh hơn gà Hon Chu bản địa, rút ngắn chu kỳ nuôi thịt, có sức đề kháng tốt, ít bệnh tật và phù hợp với điều kiện chăn thả nông hộ.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Saykham Souksanith đã cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm toàn diện về đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của giống gà bản địa Hon Chu cùng các tổ hợp lai F1, F2 với gà Lương Phượng tại Lào. Nghiên cứu đã xác định rõ tổ hợp $F_1(HC-LP)$ và $F_2(♂LP-HC \times ♀HC-LP)$ mang lại hiệu quả đẻ trứng và chuyển hóa thức ăn cao, đồng thời tổ hợp $F_1(LP-HC)$ thể hiện tính thích ứng tốt khi nuôi thịt tại quy mô nông hộ. Các phát hiện này đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác bảo tồn nguồn gen gia cầm bản địa và định hướng phát triển chăn nuôi gà lai năng suất cao tại CHDCND Lào.