Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2021, Việt Nam sở hữu đàn thủy cầm lớn thứ hai thế giới với quy mô trên 103,28 triệu con. Phân bố đàn thủy cầm giữa các vùng sinh thái có sự chênh lệch rõ rệt:

  • Đồng bằng sông Hồng: chiếm 28,93% tổng đàn;
  • Đồng bằng sông Cửu Long: chiếm 28,07% tổng đàn;
  • Khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung: chiếm 22,07% tổng đàn;
  • Khu vực miền núi và trung du: chiếm 12,14% tổng đàn;
  • Khu vực Tây Nguyên: chiếm 2,99% tổng đàn.

Diễn biến của biến đổi khí hậu trong những năm gần đây đã gia tăng hiện tượng hạn hán và xâm nhập mặn tại nhiều địa phương, gây trở ngại lớn cho sinh kế và phát triển kinh tế nông nghiệp. Tuy nhiên, các giống vật nuôi thích ứng với điều kiện xâm nhập mặn tại Việt Nam hiện còn rất hạn chế. Để đáp ứng nhu cầu sản xuất, việc chọn lọc, lai tạo nhằm khai thác ưu thế lai giữa các nguồn gen sẵn có nhằm tạo ra các tổ hợp giống vừa có năng suất, chất lượng cao, vừa thích nghi với môi trường nước lợ và nước mặn là yêu cầu cấp thiết.

Xét về các nguồn gen hiện có:

  1. Vịt Biển 15 - Đại Xuyên: Đã được bổ sung vào danh mục giống vật nuôi được phép sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. Giống vịt này có khả năng sinh trưởng và phát triển trong các môi trường nước ngọt, nước lợ và nước mặn nhờ cơ chế hoạt động của tuyến muối. Về năng suất, vịt đạt sản lượng trứng 247,56 - 248,25 quả/mái/52 tuần đẻ; khối lượng vịt thương phẩm 8 tuần tuổi đạt 2199 - 2296 g/con; tỷ lệ thịt xẻ đạt trên 69%, nhưng tỷ lệ thịt lườn còn thấp, chỉ đạt 16 - 17% (Nguyễn Văn Duy và cs., 2016).
  2. Vịt Trời: Có ưu điểm thích nghi tốt, khả năng tự kiếm mồi cao, thịt thơm ngon, được thị trường ưa chuộng. Tuy nhiên, giống vịt này có nhược điểm là năng suất trứng thấp (đạt khoảng 26,65 quả/mái sau 44 tuần đẻ), khối lượng cơ thể nhỏ (chỉ đạt 1055,83 - 1196,63 g/con), gây khó khăn cho việc nhân rộng thương mại (Nguyễn Đăng Cường, 2018).
  3. Vịt Star 53: Giống vịt chuyên thịt cao sản nhập nội từ tập đoàn Grimaud (Pháp) năm 2016. Khi nuôi thương phẩm đến 7 tuần tuổi, vịt đạt khối lượng 3685,57 g/con, tiêu tốn thức ăn trên mỗi kg tăng khối lượng là 2,28 kg, tỷ lệ thịt lườn đạt 22,88%; vịt bố mẹ vào đẻ lúc 25 tuần tuổi, khối lượng vào đẻ đạt 3240,43 g/mái và 4159,05 g/trống, năng suất trứng đạt 220,08 quả/mái/42 tuần đẻ (Nguyễn Văn Duy và cs., 2020a). Mặc dù vậy, vịt Star 53 có tập tính thiên về nuôi công nghiệp, khả năng tự tìm kiếm mồi kém.

Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là chưa có công trình nào đánh giá có hệ thống việc kết hợp nguồn gen của ba giống vịt trên để tạo ra tổ hợp lai hai giống chuyên dụng cho sinh sản và tổ hợp lai ba giống chuyên dụng cho nuôi thịt thương phẩm có khả năng thích ứng với các dải độ mặn khác nhau. Do đó, đề tài luận án “Đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời và vịt Star 53” đã được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định hệ thống mục tiêu như sau:

  1. Mục tiêu tổng quát: Xác định được tổ hợp lai có năng suất và chất lượng phù hợp cho chăn nuôi vịt thích ứng với biến đổi khí hậu.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Xác định được đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của tổ hợp lai hai giống (giữa vịt Biển 15 - Đại Xuyên và vịt Trời) và tổ hợp lai ba giống (giữa vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời và vịt Star 53).
    • Xác định được tổ hợp lai hai giống và ba giống phù hợp nhất phục vụ phát triển chăn nuôi thủy cầm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu:
    • Các giống vịt thuần: Vịt Biển 15 - Đại Xuyên (ký hiệu B), vịt Trời (ký hiệu T), vịt Star 53 (ký hiệu S).
    • Các tổ hợp lai hai giống: $\male B \times \female T$ (ký hiệu BT) và $\male T \times \female B$ (ký hiệu TB).
    • Các tổ hợp lai ba giống: $\male S \times \female BT$ (ký hiệu SBT) và $\male S \times \female TB$ (ký hiệu STB).
  • Phạm vi không gian:
    • Nghiên cứu cơ bản và khảo sát tính năng sản xuất: Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên (huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội).
    • Phân tích chất lượng thịt vịt thương phẩm: Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
    • Khảo sát thực địa sản xuất tại 3 vùng sinh thái mặn:
      1. Hợp tác xã chăn nuôi tổng hợp Đông Xuyên, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (môi trường nước có độ mặn khoảng 2‰);
      2. Trang trại hộ gia đình bà Tô Thanh Thủy, thôn Khánh Lạc, xã Nghĩa Hà, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi (môi trường nước có độ mặn 3 - 10‰);
      3. Trang trại hộ gia đình chị Văn Thị Hồng, xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh (môi trường nước có độ mặn 21 - 30‰).
  • Phạm vi thời gian:
    • Nghiên cứu đàn BT, TB sinh sản: Từ tháng 6/2017 đến tháng 12/2018.
    • Nghiên cứu đàn SBT, STB thương phẩm: Từ tháng 5/2020 đến tháng 9/2020.
    • Khảo sát sản xuất đàn BT sinh sản: Từ tháng 6/2018 đến tháng 12/2019.
    • Khảo sát sản xuất đàn SBT thương phẩm: Từ tháng 4/2021 đến tháng 6/2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu lai tạo giống thủy cầm tại Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển:

  • Nghiên cứu lai khác loài và tạo dòng: Ngô Văn Vĩnh (2005, 2008) ứng dụng công nghệ thụ tinh nhân tạo lai giữa ngan R71 và vịt Super M, vịt M14 tạo con lai có tỷ lệ phôi trên 80%, tỷ lệ nuôi sống đạt 100% ở 70 ngày tuổi, khối lượng 10 tuần tuổi đạt 3601,3 g, FCR đạt 2,90 kg thức ăn/kg tăng khối lượng, tỷ lệ thịt xẻ 72,08%, tỷ lệ thịt ức 16,87% và tỷ lệ thịt đùi 12,83%.
  • Nghiên cứu tổ hợp lai nhiều dòng chuyên thịt: Lê Thanh Hải (2012) khảo sát việc sử dụng dòng trống tạo tổ hợp lai 4 dòng V12517 cho năng suất thịt xẻ, thịt đùi và thịt ức vượt trội so với tổ hợp V2517. Lê Sỹ Cương và cs. (2009) nghiên cứu 4 dòng vịt Super M (T1, T5, T4, T6), ghi nhận tổ hợp lai T5164 đạt khối lượng 3014,9 g lúc 7 tuần tuổi và 3221,7 g lúc 8 tuần tuổi. Dương Xuân Tuyển và cs. (2006, 2015) xác định tiêu tốn thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng của vịt Super M ở các tổ hợp lai dao động từ 2,53 đến 2,67 kg.
  • Nghiên cứu ưu thế lai trên vịt trứng và kiêm dụng: Nguyễn Đức Trọng và cs. (2020) nghiên cứu con lai giữa vịt Triết Giang và vịt Cỏ (công thức lai TC) ghi nhận ưu thế lai rõ nét với tỷ lệ nuôi sống 98% (vượt vịt Cỏ 97% và vịt Triết Giang 95,58%).
  • Đánh giá các giống tham gia nghiên cứu:
    • Vịt Biển 15 - Đại Xuyên: Vương Thị Lan Anh (2020) chỉ ra vịt Biển qua 3 thế hệ chọn lọc có tỷ lệ nuôi sống cao, khối lượng cơ thể 8 tuần tuổi đạt 1835,43 g (trống) và 1762,43 g (mái); năng suất trứng ở môi trường nước mặn 11 - 20‰ đạt 248,63 quả/mái/52 tuần đẻ; các chỉ số sinh lý máu ổn định nhờ hoạt động của tuyến muối bài tiết ion Na+. Lê Thị Mai Hoa và cs. (2018) thử nghiệm nuôi thương phẩm tại Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình ghi nhận khối lượng 10 tuần tuổi đạt 2605 - 2657 g/con, FCR đạt 2,70 - 2,78 kg.
    • Vịt Trời: Nguyễn Đăng Cường (2018) nghiên cứu vịt Trời Châu Á nuôi tại miền Bắc, ghi nhận tuổi đẻ 5% lúc 29 tuần tuổi, tỷ lệ đẻ đỉnh cao 55 - 61%, năng suất trứng sau 44 tuần đẻ đạt 26,65 quả/mái, tỷ lệ trứng có phôi 96,43 - 97,67%, tỷ lệ nở/trứng có phôi đạt 88,13%. Bùi Hữu Đoàn (2021) khảo sát thân thịt vịt Trời lúc 13 tuần tuổi đạt tỷ lệ thân thịt 65,3%, cơ đùi 10,0%, cơ lườn 14,1%.
    • Vịt Star 53: Nguyễn Quý Khiêm và cs. (2018) ghi nhận vịt Star 53 ông bà có tỷ lệ sống giai đoạn 0 - 24 tuần tuổi đạt 91,96 - 94,01%, tuổi đẻ 5% từ 170 - 175 ngày, năng suất trứng 48 tuần đẻ đạt 200,57 - 249,58 quả/mái. Nguyễn Văn Duy và cs. (2020a) ghi nhận vịt Star 53 thương phẩm 7 tuần tuổi đạt 3685,57 g/con, FCR 2,28, tỷ lệ thịt xẻ 72,37% và thịt lườn 22,88%.

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  • Lai tạo và đánh giá di truyền chất lượng thịt: Tai và cs. khảo sát ảnh hưởng phẩm giống đến khối lượng và FCR trên các dòng vịt Cherry Valley và Tsaiya. Kim và cs. (2010) lai vịt địa phương Hàn Quốc với vịt chuyên thịt, con lai 8 tuần tuổi đạt khối lượng 2505 g, tỷ lệ thịt xẻ 70,8 - 73,1%. Kokoszyński và cs. (2015, 2019) nghiên cứu các tổ hợp lai giữa vịt Bắc Kinh, vịt Star 53 và AF51, ghi nhận sự sai khác về tỷ lệ cơ lườn và các đặc tính thân thịt. Graczyk và cs. chứng minh hệ số di truyền màu và mùi cơ chân đạt 0,92 và 0,73, trong khi ở cơ ức chỉ đạt 0,11 và 0,08. Starčević và cs. (2021) so sánh hệ thống chuồng nuôi thâm canh và bán thâm canh trên vịt Star 53 và SM3.
  • Khả năng thích nghi và sinh lý đào thải mặn: Baldassarre (2014), Williams và Basse (2006), Tracey và cs. (2008) phân tích đặc tính di truyền và sinh thái của vịt Trời (Anas platyrhynchos) và các dạng lai tự nhiên. Darin và Maryanne (2003) so sánh chức năng thận và tuyến muối giữa vịt Trời (nước ngọt), vịt Canvasbacks (nước lợ) và vịt mắt vàng Barrow (nước mặn), xác định chỉ có loài thích nghi môi trường biển mới bài tiết hoàn toàn ion Na+ qua tuyến muối. Các nghiên cứu trên vịt biển hoang dã như Harlequin (Histrionicus histrionicus) (Boertmann, 2003), vịt đuôi dài (Clangula hyemalis) (Jason và cs., 2008) và vịt King Eiders (Somateria spectabilis) (Shona Louise Lawson, 2006) làm rõ các cơ chế thích nghi dinh dưỡng nội sinh và ngoại sinh.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các nghiên cứu trong và ngoài nước hoặc tập trung vào năng suất thịt công nghiệp trên các giống cao sản nuôi nhốt, hoặc nghiên cứu bảo tồn nguồn gen hoang dã/bản địa. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: thiết lập quy trình lai tạo kết hợp 3 nguồn gen (vịt Biển 15 - Đại Xuyên có khả năng bài tiết muối, vịt Trời có chất lượng thịt đặc sản và sức sống cao, vịt Star 53 có tầm vóc và tỷ lệ cơ lườn cao) nhằm tạo ra con lai hai giống (BT) có năng suất trứng cao dùng làm mái sinh sản và con lai ba giống (SBT) có năng suất thịt cao, thích ứng với các vùng nước lợ và mặn tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng

  1. Khái niệm và bản chất ưu thế lai: Thuật ngữ ưu thế lai (heterosis) do Shull đề xuất năm 1914 (Nguyễn Hải Quân, 1995). Bản chất di truyền được giải thích thông qua ba giả thuyết (Nguyễn Văn Thiện, 1995):
    • Thuyết tập trung gen trội có lợi;
    • Thuyết dị hợp tử và siêu trội ($Aa > AA > aa$);
    • Thuyết gia tăng tác động tương hỗ giữa các gen không cùng locus.
  2. Mô hình tính toán ưu thế lai:
    • Theo Đặng Vũ Bình (2002), mức độ ưu thế lai ($H$) của con lai giữa bố giống A và mẹ giống B được tính theo công thức: $$H (%) = \frac{AB - \frac{1}{2}(A + B)}{\frac{1}{2}(A + B)} \times 100$$
    • Khi tính toán thực tế cho từng tính trạng, công thức của Lasley (1974) được áp dụng: $$H (%) = \frac{X_{con} - \frac{X_{bố} + X_{mẹ}}{2}}{\frac{X_{bố} + X_{mẹ}}{2}} \times 100$$
  3. Thành phần di truyền cộng gộp và ưu thế lai: Phân tích dựa trên các tham số di truyền cộng gộp trực tiếp ($A_d$), di truyền cộng gộp của bố ($A_b$), của mẹ ($A_m$) và các thành phần ưu thế lai trực tiếp ($D_d$), ưu thế lai của bố ($D_b$), của mẹ ($D_m$) (Larzul và cs., 2006).
  4. Cơ sở về sinh trưởng và thân thịt:
    • Đánh giá sinh trưởng qua 4 pha của đường cong sinh trưởng (R, 1990), sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối ($A$) và sinh trưởng tương đối ($R$).
    • Công thức tính sinh trưởng tuyệt đối: $$A = \frac{P_2 - P_1}{T_2 - T_1} \quad (\text{g/con/ngày})$$
    • Công thức tính sinh trưởng tương đối: $$R = \frac{P_2 - P_1}{\frac{P_2 + P_1}{2}} \times 100 \quad (%)$$
    • Đánh giá thân thịt và chất lượng thịt theo phương pháp của Auaas và Wilke (1978, dẫn theo Bùi Hữu Đoàn và cs.): xác định tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt đùi, tỷ lệ thịt lườn; phân tích biến thiên pH sau giết mổ (điểm đẳng điện khoảng pH 5,4), hàm lượng collagen, khả năng giữ nước và thang điểm cảm quan Hedonic.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Luận án sử dụng phương pháp bố trí thí nghiệm phân lô ngẫu nhiên hoàn toàn 1 nhân tố.

Tiêu chí Nội dung 1 (Vịt sinh sản BT, TB) Nội dung 2 (Vịt thương phẩm SBT, STB)
Các lô thí nghiệm 4 lô: B, T, BT, TB 5 lô: BT, TB, SBT, STB, S
Quy mô mẫu ban đầu 750 con 1 ngày tuổi/giống (150 trống, 600 mái) 100 con/lô (50 trống, 50 mái), tổng 500 con
Số lần lặp lại 3 lô lặp lại (mỗi lô 50 trống, 200 mái) 5 lần lặp lại (mỗi lô con gồm 10 trống, 10 mái)
Quy mô giai đoạn sau - Hậu bị (9-19 tuần): 30 trống, 150 mái/lô
- Sinh sản ($\ge 20$ tuần): 25 trống, 125 mái/lô
Theo dõi cá thể đeo số từ 1 ngày tuổi đến 10 tuần tuổi
Phương thức nuôi Nuôi nhốt trên khô không cần nước bơi lội Nuôi nhốt trên khô, ăn tự do
Tỷ lệ ghép đực/cái 1 trống / 5 mái khi vào sinh sản Không áp dụng (nuôi thương phẩm)

Khẩu phần dinh dưỡng qua các giai đoạn được kiểm soát theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt:

Giai đoạn nuôi Tuần tuổi Protein thô (%) ME (Kcal/kg) Ca (%) P (%) Lysin (%) Met + Cys (%)
Vịt con sinh sản 1 - 8 21,0 2900 0,8 - 1,5 0,5 - 0,9 1,0 0,8
Vịt hậu bị sinh sản 9 - 19 14,0 2850 0,8 - 1,5 0,5 - 0,9 0,6 0,5
Vịt sinh sản $\ge 20$ 18,0 2800 2,5 - 4,0 0,5 - 0,8 1,0 0,7
Vịt thịt giai đoạn 1 1 - 4 21,0 2950 0,8 - 1,5 0,5 - 0,9 1,0 0,8
Vịt thịt giai đoạn 2 5 - giết mổ 18,0 3100 0,8 - 1,5 0,5 - 0,9 1,0 0,8

Kỹ thuật theo dõi và nguồn dữ liệu

  • Chỉ tiêu ngoại hình và chiều đo: Quan sát màu lông, da, mỏ, chân lúc 1 ngày tuổi, 56 ngày tuổi và 38 tuần tuổi. Đo kích thước các chiều đo cơ thể (vòng ngực, dài thân, dài lườn, cao chân, dài lông cánh) trên 30 trống và 30 mái ở mỗi lô bằng thước dây và thước thẳng. Tốc độ mọc lông cánh đo ở lông thứ 4 hàng thứ 1 (theo phương pháp của Pingel, 1976).
  • Chỉ tiêu sinh sản: Theo dõi tỷ lệ nuôi sống, khối lượng cơ thể hàng tuần (cân điện tử độ chính xác $\pm 0,05$ g), tỷ lệ đẻ, năng suất trứng/mái/52 tuần đẻ, tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng.
  • Khảo sát chất lượng trứng và ấp nở: Thu ngẫu nhiên 30 quả trứng/lô ở tuần tuổi 37 - 38 để xác định khối lượng trứng, tỷ lệ lòng đỏ, lòng trắng, vỏ, độ dày vỏ, chỉ số hình thái, chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh. Theo dõi tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ nở/tổng trứng ấp, tỷ lệ nở/trứng có phôi và tỷ lệ vịt loại 1.
  • Khảo sát thân thịt: Chọn ngẫu nhiên 3 trống và 3 mái có khối lượng trung bình tại các mốc 8, 9 và 10 tuần tuổi để mổ khảo sát tỷ lệ thân thịt, thịt xẻ, thịt đùi, thịt lườn; phân tích thành phần hóa học (protein, mỡ, khoáng) và đặc tính lý học tại Khoa Chăn nuôi - Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Nội dung 1: Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt lai hai giống BT và TB

Nội dung này tập trung so sánh các chỉ tiêu kiểu hình, sinh trưởng và sinh sản của hai tổ hợp lai thuận nghịch $\male B \times \female T$ (BT) và $\male T \times \female B$ (TB) với hai giống bố mẹ thuần (vịt Biển 15 - Đại Xuyên và vịt Trời).

  1. Đặc điểm ngoại hình và các chiều đo cơ thể:
    • Vịt lai BT và TB lúc 1 ngày tuổi có màu lông đồng nhất, thân hình thuôn dài.
    • Khi trưởng thành (38 tuần tuổi), vịt có màu lông cánh sẻ, đầu cổ màu xám đen hoặc xanh đen, đầu lông cánh xuất hiện dải lông ánh xanh đặc trưng thừa hưởng từ nguồn gen vịt Trời. Cấu trúc cơ thể thanh gọn hơn vịt Biển thuần nhưng phát triển khung xương cân đối hơn vịt Trời.
    • Kích thước các chiều đo (dài thân, vòng ngực, dài lườn, cao chân) của vịt lai BT và TB ở tuần thứ 8 và tuần thứ 38 thể hiện giá trị trung gian giữa hai giống thuần nhưng có xu hướng thiên về giống mẹ ở chỉ số tỷ lệ vòng ngực/dài thân.
  2. Khả năng sinh trưởng và tỷ lệ nuôi sống giai đoạn hậu bị:
    • Tỷ lệ nuôi sống của vịt lai BT và TB trong suốt giai đoạn vịt con (1 - 8 tuần tuổi) và hậu bị (9 - 19 tuần tuổi) đạt mức cao (tương đương hoặc cao hơn giống thuần), thể hiện sức sống và khả năng thích ứng tốt trong điều kiện nuôi nhốt trên khô.
    • Khối lượng cơ thể lúc 19 tuần tuổi của vịt BT và TB nằm ở mức trung gian hợp lý giữa vịt Biển và vịt Trời, giúp giảm chi phí thức ăn duy trì đàn bố mẹ so với việc nuôi vịt Biển thuần làm đàn mái.
  3. Khả năng sinh sản và chất lượng trứng:
    • Tuổi đẻ và tỷ lệ đẻ: Tổ hợp lai BT có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn vịt Trời thuần; tỷ lệ đẻ duy trì ổn định và đạt đỉnh cao tốt hơn vịt Trời.
    • Năng suất trứng: Vịt lai BT đạt năng suất trứng/mái/52 tuần đẻ vượt trội so với vịt Trời thuần và tiếp cận mức năng suất cao của vịt Biển thuần.
    • Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng: Đàn vịt lai BT tiêu tốn thức ăn trên 10 quả trứng thấp hơn đáng kể so với vịt Biển thuần nhờ tầm vóc khối lượng cơ thể nhỏ hơn.
    • Chất lượng trứng và ấp nở: Khảo sát ở tuần 37 - 38 cho thấy trứng của vịt lai BT và TB có chỉ số hình thái, độ dày vỏ và đơn vị Haugh đạt tiêu chuẩn trứng giống tốt. Tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ ấp nở/trứng có phôi đạt tỷ lệ cao.
    • Ưu thế lai: Tính toán giá trị $H(%)$ cho thấy ưu thế lai biểu hiện rõ nét ở các tính trạng có hệ số di truyền thấp như tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tỷ lệ ấp nở. Tổ hợp BT thể hiện các chỉ số sinh sản ưu việt hơn so với tổ hợp TB, được lựa chọn làm đàn mái nền sinh sản.

Nội dung 2: Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt lai ba giống SBT và STB

Nội dung này đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của hai tổ hợp lai ba giống $\male S \times \female BT$ (SBT) và $\male S \times \female TB$ (STB) trong mối tương quan so sánh với vịt lai hai giống (BT, TB) và vịt Star 53 thuần (S).

  1. Đặc điểm ngoại hình vịt nuôi thịt thương phẩm:
    • Ở 1 ngày tuổi và 56 ngày tuổi (8 tuần tuổi), vịt lai SBT và STB có bộ lông phát triển nhanh, màu lông đồng đều, cơ thể nở nang hình chữ nhật đặc trưng của giống hướng thịt nhưng vẫn giữ được nét thanh thoát của khung xương.
    • Tốc độ mọc lông cánh nhanh, đạt chiều dài lông cánh trên 13 cm tại thời điểm 8 tuần tuổi, thuận lợi cho việc xác định thời điểm giết mổ và giảm tỷ lệ lông măng khi sơ chế.
  2. Động thái sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn:
    • Khối lượng cơ thể: Vịt lai ba giống SBT và STB có tốc độ tăng khối lượng vượt trội so với con lai hai giống BT, TB ở tất cả các tuần tuổi từ 1 đến 10. Tại thời điểm 8 - 10 tuần tuổi, khối lượng cơ thể của vịt SBT đạt mức cao, cải thiện rõ rệt tầm vóc nhỏ của vịt Trời.
    • Sinh trưởng tuyệt đối ($A$) và sinh trưởng tương đối ($R$): Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối đạt đỉnh cao trong giai đoạn từ 6 đến 8 tuần tuổi. Đường cong sinh trưởng tích lũy phản ánh rõ 4 pha sinh học.
    • Tiêu tốn thức ăn (FCR): Mức tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của tổ hợp SBT ở 8 - 10 tuần tuổi đạt mức thấp, hiệu quả chuyển hóa thức ăn cao hơn so với đàn BT và TB.
  3. Năng suất và chất lượng thân thịt:
    • Khảo sát giết mổ tại 8, 9 và 10 tuần tuổi cho thấy: vịt lai SBT có tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ thịt xẻ và đặc biệt là tỷ lệ thịt lườn tăng rõ rệt so với vịt Biển thuần và vịt lai BT (khắc phục nhược điểm tỷ lệ thịt lườn chỉ 16 - 17% của vịt Biển).
    • Chất lượng thịt: Phân tích lý hóa tại Khoa Chăn nuôi ghi nhận hàm lượng protein thô trong cơ lườn và cơ đùi ở mức cao, hàm lượng mỡ thô vừa phải; độ pH giảm ổn định sau giết mổ; hàm lượng nước liên kết cao giúp thịt mềm, ngọt đậm đà và giữ được hương vị thơm đặc trưng từ nguồn gen vịt Trời.
    • Thời điểm giết mổ thích hợp: Kết hợp giữa tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ thịt lườn/thịt xẻ, thời điểm giết thịt tối ưu được xác định trong khoảng 8 - 10 tuần tuổi, trong đó tổ hợp SBT thể hiện sự vượt trội về tính kinh tế.

Nội dung 3: Đánh giá khả năng sản xuất của vịt BT và SBT trong điều kiện sản xuất

Nội dung này tiến hành thử nghiệm đàn vịt lai BT sinh sản và đàn vịt lai SBT thương phẩm tại 3 vùng sinh thái mặn thực tế để đánh giá khả năng thích nghi và hiệu quả kinh tế.

  1. Điều kiện môi trường tại các điểm thử nghiệm:
    • Thái Bình (độ mặn 2‰ - nước lợ thấp);
    • Quảng Ngãi (độ mặn 3 - 10‰ - nước lợ trung bình);
    • Quảng Ninh (độ mặn 21 - 30‰ - nước mặn cao).
  2. Khả năng sản xuất của đàn vịt BT nuôi sinh sản tại thực địa:
    • Tỷ lệ nuôi sống: Đàn vịt BT duy trì tỷ lệ nuôi sống cao ở cả 3 điểm sinh thái mặn. Vịt thích nghi tốt với các nguồn nước có độ mặn từ 2‰ đến 30‰, tuyến muối hoạt động ổn định giúp duy trì cân bằng sinh lý.
    • Năng suất sinh sản: Năng suất trứng/mái/năm đẻ và tỷ lệ đẻ tại các hộ chăn nuôi ở Thái Bình, Quảng Ngãi và Quảng Ninh đều đạt kết quả tốt, tương đương với điều kiện nuôi kiểm soát tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên.
    • Tỷ lệ ấp nở: Tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ nở tại các cơ sở sản xuất đạt mức cao, đảm bảo cung cấp con giống thương phẩm tại chỗ cho các vùng ven biển.
  3. Khả năng sản xuất của đàn vịt SBT nuôi thương phẩm tại thực địa:
    • Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn nuôi thịt thương phẩm đạt trên 95% ở các dải độ mặn khác nhau.
    • Khối lượng xuất chuồng lúc 8 - 10 tuần tuổi và hệ số chuyển hóa thức ăn tại các nông hộ đều đạt chỉ tiêu kỹ thuật đề ra, chứng minh tổ hợp lai SBT có tính thích ứng rộng, tận dụng tốt nguồn thức ăn tự nhiên và thức ăn hỗn hợp trong môi trường nước lợ và mặn.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn

  1. Về cơ sở khoa học:
    • Luận án đã nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về cơ sở khoa học của ưu thế lai, xác định được quy luật di truyền các tính trạng ngoại hình, sinh trưởng, sinh sản và phẩm chất thịt khi phối hợp ba nguồn gen có đặc tính sinh thái khác biệt (vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời và vịt Star 53).
    • Cung cấp dữ liệu thực nghiệm về các thành phần di truyền cộng gộp, mức độ biểu hiện ưu thế lai ($H%$) và các chỉ số sinh lý, sinh hóa, chất lượng thân thịt của các tổ hợp lai hai giống (BT, TB) và ba giống (SBT, STB).
  2. Về mặt thực tiễn:
    • Lần đầu tiên tại Việt Nam, bằng các phép lai thông dụng, đã tạo thành công tổ hợp vịt lai hai giống BT ($\male B \times \female T$) chuyên hướng sinh sản, có khối lượng cơ thể nhỏ gọn, năng suất trứng cao, tiêu tốn thức ăn thấp, sử dụng hiệu quả theo cả hai hướng nuôi sinh sản làm giống và nuôi lấy trứng thương phẩm.
    • Tạo thành công tổ hợp vịt lai ba giống SBT ($\male S \times \female BT$) chuyên hướng thịt thương phẩm có tốc độ sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt xẻ và tỷ lệ thịt lườn cao, chất lượng thịt thơm ngon, tiêu tốn thức ăn thấp.
    • Khẳng định khả năng thích ứng của các tổ hợp lai BT và SBT trong các dải độ mặn từ 2‰ đến 30‰, cung cấp nguồn giống thủy cầm thích ứng với biến đổi khí hậu cho các tỉnh ven biển chịu ảnh hưởng của hiện tượng xâm nhập mặn.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đề xuất đưa công thức lai $\male B \times \female T \rightarrow BT$ vào quy trình sản xuất đàn mái nền sinh sản và phối giống với đực Star 53 ($\male S \times \female BT \rightarrow SBT$) để sản xuất đàn vịt thương phẩm chuyên thịt.
  • Áp dụng quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, định mức dinh dưỡng và quy trình thú y phòng bệnh được xây dựng trong luận án vào thực tế chăn nuôi tại các địa phương ven biển thuộc Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Tiếp tục chuyển giao các tổ hợp lai BT và SBT vào các mô hình kinh tế trang trại và hợp tác xã nhằm đa dạng hóa sản phẩm chăn nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi tại các vùng bị xâm nhập mặn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi nghiên cứu thực nghiệm tập trung chủ yếu vào 3 nguồn giống xác định (Biển 15 - Đại Xuyên, Vịt Trời, Star 53) và khảo sát thực địa tại 3 dải độ mặn ở 3 tỉnh đại diện (Thái Bình, Quảng Ngãi, Quảng Ninh), chưa bao phủ hết các vùng sinh thái xâm nhập mặn khác như vùng bán đảo Cà Mau hay Tây Nam Bộ.
  • Dữ liệu nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các chỉ tiêu năng suất cá thể, sinh trưởng, sinh sản và thân thịt theo phương pháp chọn giống truyền thống.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng đánh giá khả năng chịu mặn ở mức độ sinh học phân tử, phân tích biểu hiện của các gen điều hòa kênh ion và hoạt động chi tiết của tuyến muối trên các thế hệ con lai.
  • Tiếp tục theo dõi độ bền sản xuất và khả năng thích nghi của đàn vịt lai qua nhiều chu kỳ đẻ trứng và ở các quy mô chăn nuôi công nghiệp tập trung lớn hơn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Chuyên ngành Chăn nuôi, Di truyền và Chọn giống động vật, Thú y; đặc biệt có giá trị tham khảo về phương pháp bố trí thí nghiệm lai tạo thủy cầm, phương pháp đo kích thước chiều đo, tính toán ưu thế lai ($H%$) và kỹ thuật mổ khảo sát thân thịt gia cầm.
  • Giảng viên và viện nghiên cứu: Sử dụng làm học liệu trong giảng dạy các học phần Chăn nuôi thủy cầm, Di truyền học ứng dụng và Chọn giống vật nuôi.
  • Cán bộ khuyến nông và nhà hoạch định chính sách nông nghiệp: Tham khảo cơ sở khoa học để xây dựng các chương trình chuyển đổi cơ cấu giống vật nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn tại các địa phương ven biển.
  • Chủ trang trại và doanh nghiệp chăn nuôi: Ứng dụng trực tiếp quy trình dinh dưỡng, quy trình nuôi vịt sinh sản và vịt thịt thương phẩm để tổ chức sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Tổ hợp lai hai giống BT và ba giống SBT được tạo ra theo công thức lai cụ thể nào?

Tổ hợp lai hai giống BT được tạo ra từ phép lai giữa con trống vịt Biển 15 - Đại Xuyên với con mái vịt Trời ($\male B \times \female T$). Tổ hợp lai ba giống SBT được tạo ra bằng cách sử dụng con trống vịt cao sản Star 53 phối với con mái lai hai giống BT ($\male S \times \female BT$).

2. Ưu điểm nổi bật của đàn vịt lai hai giống BT khi sử dụng làm đàn mái sinh sản là gì?

Vịt lai BT kế thừa năng suất trứng cao từ vịt Biển 15 - Đại Xuyên và tầm vóc thon gọn, sức sống cao, kiếm mồi giỏi từ vịt Trời. Nhờ khối lượng cơ thể vừa phải, vịt BT có mức tiêu tốn thức ăn trên 10 quả trứng thấp hơn nhiều so với vịt Biển thuần, giúp giảm đáng kể chi phí nuôi dưỡng đàn sinh sản trong khi vẫn duy trì tỷ lệ đẻ và tỷ lệ ấp nở cao.

3. Tổ hợp lai ba giống SBT đã giải quyết được những nhược điểm nào của các giống vịt thuần ban đầu?

Vịt Biển thuần có nhược điểm tỷ lệ thịt lườn thấp (chỉ 16 - 17%); vịt Trời có nhược điểm khối lượng nhỏ (1055,83 - 1196,63 g); vịt Star 53 có nhược điểm thiên về nuôi công nghiệp và kém thích nghi tự nhiên. Tổ hợp lai ba giống SBT kết hợp được ưu thế tầm vóc lớn, tỷ lệ cơ lườn cao từ Star 53, khả năng chịu mặn từ vịt Biển và chất lượng thịt thơm ngon, săn chắc cùng sức sống cao từ vịt Trời.

4. Đàn vịt BT và SBT đã được khảo sát thực tế ở những dải độ mặn nào và kết quả ra sao?

Các tổ hợp lai đã được kiểm chứng tại 3 vùng sinh thái mặn: Thái Bình (độ mặn 2‰), Quảng Ngãi (độ mặn 3 - 10‰) và Quảng Ninh (độ mặn 21 - 30‰). Kết quả ghi nhận vịt BT sinh sản và SBT thương phẩm đều đạt tỷ lệ sống trên 95%, sinh trưởng và sinh sản ổn định, chứng minh khả năng thích nghi tốt với môi trường nước lợ và nước mặn.

5. Định mức dinh dưỡng (Protein thô và Năng lượng trao đổi) cho vịt nuôi thịt thương phẩm qua các giai đoạn được quy định như thế nào trong nghiên cứu?

Khẩu phần thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho vịt thịt thương phẩm được chia làm hai giai đoạn:

  • Giai đoạn từ 1 ngày tuổi đến 4 tuần tuổi: Protein thô đạt 21,0%, Năng lượng trao đổi (ME) đạt 2950 Kcal/kg.
  • Giai đoạn từ 5 tuần tuổi đến khi giết thịt: Protein thô đạt 18,0%, Năng lượng trao đổi (ME) đạt 3100 Kcal/kg.

Kết luận

Luận án đã thiết lập thành công cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc lai tạo tổ hợp vịt hai giống BT và ba giống SBT từ ba nguồn gen vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời và vịt Star 53. Kết quả nghiên cứu khẳng định vịt lai hai giống BT là tổ hợp tối ưu cho hướng nuôi sinh sản nhờ năng suất trứng cao và chi phí thức ăn thấp, trong khi vịt lai ba giống SBT thể hiện ưu thế lai rõ rệt về tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt lườn và chất lượng thịt thương phẩm. Việc thử nghiệm thành công tại các vùng nước có độ mặn từ 2‰ đến 30‰ chứng minh các tổ hợp lai này có khả năng thích ứng cao với điều kiện xâm nhập mặn, mở ra giải pháp giống thủy cầm có giá trị kinh tế phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại Việt Nam.