TÍNH CẤP THIẾT Nước ta có đàn thủy cầm lớn thứ 2 thế giới về tổng đàn trên 103,28 triệu con, trong đó Đồng bằng sông Hồng chiếm 28,93%, Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 28,07%, khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung chiếm 22,07%, miền núi và trung du chiếm 12,14% và khu vực Tây Nguyên chiếm 2,99% trong tổng đàn thủy cầm của cả nước (theo TCTK năm 2021). Do tình hình biến đổi khí hậu trong những năm gần đây đã dẫn đến thực trạng một số vùng bị hạn hán và xâm ngập mặn gây khó khăn để người dân phát triển kinh tế là vấn đề của xã hội hiện nay. Tuy vậy giống vật nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu của nước ta còn rất ít, trước nhu cầu đó công tác chọn lọc, lai tạo giống thủy cầm cần tạo ra được nhiều dòng, giống mới có năng suất và chất lượng cao, tận dụng được ưu thế lai nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất và thích ứng với biến đổi khí hậu là cần thiết. Vịt Biển 15 - Đại Xuyên là giống vịt đã được chính thức bổ sung vào danh mục giống vật nuôi được phép sản xuất kinh doanh, vịt có thể nuôi được trong môi trường nước ngọt, nước lợ và nước mặn, có tiềm năng lớn mở ra nhiều hướng nghiên cứu về khả năng chịu mặn và cơ chế đào thải muối trong cơ thể.
Vịt Biển 15 - Đại Xuyên có năng suất trứng đạt cao 247,56 - 248,25 quả/mái/52 tuần đẻ, khối lượng cơ thể vịt thương phẩm kết thúc 8 tuần tuổi đạt 2199 - 2296 g/con, tỷ lệ thịt xẻ đạt trên 69%, chất lượng thịt thơm ngon tuy nhiên tỷ lệ thịt lườn của vịt chỉ đạt 16 - 17% (Nguyễn Văn Duy và cs., 2016) Vịt Trời trong những năm gần đây trở thành giống vịt rất được quan tâm, ưa chuộng, với ưu điểm là chất lượng thịt thơm ngon, dễ thích nghi, kiếm mồi giỏi… vịt Trời trở thành món đặc sản đối với người có thu nhập cao. Tuy nhiên vịt Trời đẻ ít trứng, khối lượng cơ thể nhỏ 1055,83-1196,63 g/con nên việc phát triển rộng giống vịt này là điều khó khăn (Nguyễn Đăng Cường, 2018). Giống vịt Star 53 là giống vịt cao sản được nhập và nuôi giữ ở Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên từ tập đoàn Grimaud - Cộng hòa Pháp năm 2016 với năng suất và chất lượng cao. Vịt Star 53 khi nuôi vịt thương phẩm đến 7 tuần tuổi 1 đạt 3685,57 g/con, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là 2,28 kg; tỷ lệ thịt lườn đạt 22,88%; vịt bố mẹ có tuổi đẻ ở 25 tuần tuổi, khối lượng vào đẻ đạt 3240,43 g/mái và 4159,05 g/trống, năng suất trứng đạt 220,08 quả/mái/42 tuần đẻ (Nguyễn Văn Duy và cs., 2020a) nhưng vịt Star 53 có khả năng kiếm mồi kém thiên hướng về nuôi công nghiệp.
Từ nguồn gen của ba giống vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời và vịt Star 53 tạo tổ hợp vịt lai hai giống có khả năng sản xuất trứng cao, chất lượng trứng tốt và tổ hợp vịt lai ba giống có năng suất và chất lượng thịt cao, đồng thời thích nghi tốt với môi trường nước lợ, nước mặn, đề tài “Đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời và vịt Star 53” được tiến hành. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2. Mục tiêu tổng quát Xác định được tổ hợp lai có năng suất và chất lượng phù hợp cho chăn nuôi vịt thích ứng với biến đổi khí hậu. Mục tiêu cụ thể - Xác định được đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của tổ hợp lai hai giống (vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời) và tổ hợp lai ba giống (vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời, vịt Star 53).
- Xác định được tổ hợp lai hai giống và ba giống phù hợp nhất phục vụ phát triển chăn nuôi thủy cầm. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI, LUẬN ÁN Đây là một công trình nghiên cứu khoa học một cách có hệ thống và có tính sáng tạo, có giá trị thực tiễn cao. Lần đầu tiên từ nguồn gen vịt Biển 15 - Đại xuyên, vịt Trời và vịt Star 53, bằng những phép lai thông dụng đã tạo được vịt lai hai giống BT để nuôi sinh sản và vịt lai ba giống SBT nuôi lấy thịt thích ứng với vùng xâm ngập mặn. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 4.
Ý nghĩa khoa học - Trên cơ sở khoa học của ưu thế lai và khai thác có hiệu quả nguồn gen vịt 2 Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời và vịt Star 53 tạo ra con lai hai giống (BT) nuôi sinh sản (làm giống và lấy trứng) và con lai ba giống (SBT) nuôi thịt có năng suất và chất lượng cao chuyển giao cho sản xuất phù hợp với môi trường nước mặn, lợ và ngọt. Góp phần bảo vệ sự đa dạng sinh học cũng như phát triển một nền nông nghiệp sinh thái bền vững, đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân chăn nuôi. - Kết quả đề tài luận án là tài liệu tham khảo có giá trị trong nghiên cứu, đào tạo và phát triển chăn nuôi thủy cầm. Ý nghĩa thực tiễn - Tạo được vịt lai hai giống (BT) có khối lượng cơ thể nhỏ, năng suất trứng cao, tiêu tốn thức ăn thấp, sử dụng được theo hai hướng nuôi sinh sản và nuôi lấy trứng, đều cho hiệu quả chăn nuôi cao.
- Tạo được vịt lai ba giống nuôi thịt có năng suất, chất lượng cao thích ứng với môi trường nước mặn, lợ và ngọt. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học về đặc điểm ngoại hình của thủy cầm * Màu sắc da, lông: là một đặc điểm quan trọng để phân biệt giống, dòng.
Màu lông có liên quan tới một số chỉ tiêu chất lượng của giống như tính kháng bệnh, khả năng sản xuất. Màu sắc da, lông là một chỉ tiêu chọn lọc: thông thường màu sắc đồng nhất là giống thuần, nếu không đồng nhất là không thuần. Tính trạng màu sắc da, lông do một số ít gen kiểm soát và ít chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh, ở gia cầm còn có gen liên kết với tính biệt về màu sắc lông. * Tốc độ mọc lông: là một trong những đặc tính di truyền có liên quan đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể ở thủy cầm.
Tốc độ mọc lông có mối liên quan thuận đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể ở thủy cầm, những thủy cầm mọc lông nhanh thì sinh trưởng phát dục tốt hơn so với thủy cầm mọc lông chậm và ngược lại, những alen quy định tốc độ mọc lông nhanh phù hợp với khả năng tăng trọng cao, trong cùng một giống thì con mái mọc lông đều hơn con trống. Pingel (1976) xác định tốc độ mọc lông của vịt bằng cách đo chiều dài lông cánh thứ 4 hàng thứ nhất, tuổi giết thịt thích hợp khi chiều dài lông cánh đạt 13cm. Ở nước ta, theo kinh nghiệm cổ truyền, người ta thường xác định tốc độ mọc lông vịt theo các giai đoạn được gọi là răng lược, nửa lưng, chấm khấu, chéo cánh… *Mỏ và chân: là sản phẩm của da, được tạo ra từ lớp sừng, tại đó tập trung nhiều nhánh thần kinh, mao mạch. Đối với vịt, mỏ còn chứa nhiều xúc giác, nhờ đó mà chúng có thể kiếm mồi dưới nước.
Bên cạnh đó, chân vịt còn có màng bơi là phần cấu tạo không có lông của da giữa các ngón chân giúp cho thủy cầm có thể bơi lội dưới nước. Thường thì màu của chân và màu mỏ phù hợp với nhau, đặc trưng cho mỗi giống thủy cầm. *Hình dáng: là yếu tố ngoại hình quan trọng để phân biệt tính năng sản xuất khác nhau của mỗi loại thủy cầm. Vịt hướng thịt có hình dáng to, hình chữ nhật, dáng đứng gần song song với mặt đất, vịt hướng trứng có hình dáng nhỏ gọn hơn, 4 thanh mảnh và dáng đứng tạo với mặt đất một góc gần 900, vịt kiêm dụng có hình dáng tạo với mặt đất một góc 450.
*Kích thước các chiều đo của cơ thể: Kích thước các chiều đo của cơ thể có mối tương quan với khối lượng cơ thể và hướng sản xuất của vật nuôi. Nghiên cứu về các chiều đo của dòng bố và dòng mẹ đối với vịt Bắc Kinh, Negm và cs. (1981) đều thống nhất rằng: mọi kích thước chiều đo cơ thể đều có tương quan rõ nét với khối lượng cơ thể (0,27 - 0,99) và khối lượng trứng (0,39 - 0,67) ở phần lớn các lứa tuổi. Ở nước ta, các nhà chăn nuôi thường đo dài thân, dài lườn, vòng ngực, dày lườn, cao chân để nghiên cứu, đánh giá tốc độ sinh trưởng và là cơ sở để chọn lọc thủy cầm.
Cơ sở khoa học của lai tạo và ưu thế lai Khái niệm về ưu thế lai Năm 1914, Shull - nhà di truyền người Mỹ đã đưa ra thuật ngữ “ưu thế lai” - heterosis (trích từ Nguyễn Hải Quân, 1995). Sau đó một số công trình nghiên cứu về ưu thế lai đã được công bố và đều đi đến kết luận con lai có ưu thế lai hơn bố mẹ chúng về nhiều đặc tính sản xuất quan trọng. Trong công tác di truyền giống, bên cạnh việc chọn lọc và nhân thuần, lai tạo sẽ đem hiệu quả trong thời gian ngắn. Việc lai tạo đã được sử dụng nhiều trong chăn nuôi nhằm khai thác thế mạnh của con lai, đặc biệt trong chăn nuôi gia cầm công nghiệp.
Chính việc lai giữa các giống khác nhau đã giúp cho việc quyết định chiến lược thích hợp về công tác giống. Trong công tác lai tạo, người ta còn quan tâm rất nhiều đến khả năng phối hợp, đó là phải lựa chọn những con giống gốc để lai phù hợp với nhau nhằm tạo nên những tổ hợp gen mới bao gồm các tính trạng vốn có ở giống gốc, nhưng ở mức độ cao hơn theo mục đích. Biểu hiện của ưu thế lai Sự biểu hiện ưu thế lai trên cơ thể lai trong chăn nuôi rất đa dạng, khác nhau ở các tính trạng, sự ưu việt của con lai không chỉ thể hiện ở sự cao hơn về giá trị tính 5 trạng so với trung bình bố mẹ mà còn biểu hiện bằng mức độ tối ưu của tính trạng. Trần Đình Miên và cs.
(1994) cho rằng: Con lai F1 của những công thức lai xa khác loài vượt trội bố mẹ về thể chất, tuổi thọ, sức làm việc, nhưng mất một phần hay hoàn toàn khả năng sinh sản. Con lai F1 vượt trội hơn trung bình bố mẹ về khối lượng cơ thể và sức sống, có khả năng sinh sản bình thường hoặc tốt hơn bố mẹ.