chương 1). - Tổng hợp và xử lý các số liệu đã thu thập được. Chỉ tiêu theo dõi 3. Theo dõi 3 nông dân đang nuôi cá lóc trong vèo với những chỉ tiêu cụ thể như sau Về kỹ thuật nuôi Thời vụ nuôi, cách thức họ chuẩn bị ao, vèo trước mỗi vụ nuôi, cách chọn vị trí để đặt vèo trong ao, thời gian mà họ thả cá giống, cách quản lý chất lượng nước cũng như phương pháp phát hiện và phòng trị bệnh trên cá lóc nuôi trong vèo của họ.
Hiệu quả kinh tế của mô hình - Về chi phí cố định gồm có: đào ao, sên vét ao, vèo cá, vợt, dây, sàng ăn, máy xay thức ăn, hệ thống ống dẫn, máy bơm nước, thùng chứa thức ăn và một số chi phí khác phát sinh trong quá trình nuôi. Kết quả của chi phí cố định được tính toán sau khi trừ ra chi phí khấu hao hằng năm hay vụ (Phụ chương 4). - Về chi phí vận hành gồm có: vôi bột, cá giống, vitamin- premix, thuốc phòng và trị bệnh, thức ăn, xăng, dầu, điện, lao động thuê, lao động gia đình, và một số chi phí khác…. Những khó khăn trở ngại và cách giải quyết khó khăn Chất lượng nước, Giá cả thức ăn, Kỹ thuật nuôi, Khâu phòng trị bệnh cho cá lóc Vốn để thực hiện mô hình một cách có hiệu quả.
Yếu tố quyết định sự thành công của mô hình Xét trong quá trình thực hiện mô hình này thì trong một số yếu tố mà chúng tôi đã dự kiến như: vốn sản xuất để mua thức ăn và tự sản xuất giống, thị trường đầu ra, chất lượng nước, cá giống tốt, thức ăn tốt, mức lũ, kỹ thuật nuôi, chính sách của chính quyền địa phương thì yếu tố nào quan trọng nhất quyết định sự thành công của mô hình. Tổng kết mô hình nuôi cá lóc trong vèo Thông tin định tính - Đặc điểm nông hộ: tìm hiểu về độ tuổi và trình độ học vấn của chủ hộ và các thành viên trong gia đình, kinh nghiệm mà họ thực hiện mô hình. - Các điều kiện cần thiết để thực hiện mô hình có hiệu quả cao - Thị trường tiêu thụ sản phẩm, nơi bán sản phẩm, giá cẩn phẩm,loại người mua sản phẩm của người dân tại địa bàn nghiên cứu. - Khả năng kết hợp với những mô hình canh tác khác: nuôi kết hợp một số loài cá khác ngoài vèo.
Thông tin định lượng - Kỹ thuật nuôi tương tự như trên - Các số liệu kinh tế như chi phí đầu vào và đầu ra của sản phẩm - Năng suất (cách tính theo phụ chương 3) 3. Phân tích thống kê: - Tổng hợp và phân tích các số liệu đã thu thập được - Dùng phần mềm EXCEL 5.0 để phân tích và xử lý các số liệu đã thu thập. 1 Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4. Đặc điểm vùng nghiên cứu Nằm dọc sông Tiền, hằng năm lượng nước lũ đổ về Phú Tân tương đối lớn.
Trong khi Phú Mỹ, Tân Hòa, Phú Hưng là những xã sản xuất lúa nếp nổi tiếng của huyện thì Tân Trung lại có điều kiện tự nhiên khác khá đặc thù. Là một xã mới thành lập được tách ra từ xã Tân Hòa (tháng 12 năm 2003) với lợi thế vùng đất ngập sâu và thời gian ngập nước kéo dài; diện tích tự nhiên khoảng 790 ha gồm 2406 hộ, hoạt động chính của người dân trong xã là sản xuất nông nghiệp. Toàn xã có 5 ấp mỗi ấp đều có thế mạnh riêng của mình: ấp Tân Thành và Trung II trồng màu, ấp Mỹ Hóa trồng lúa một vụ; ấp Vàm Nao trồng lúa 2 vụ. Tận dụng lợi thế đó của mình vào mùa nước nổi nơi đây thực hiện nhiều mô hình nuôi trồng thuỷ sản như: trồng ấu, rau nhút.
Đặc biệt là nuôi cá lóc, toàn xã có 158 hộ nuôi trong đó có 105 hộ nuôi cá lóc trong vèo.1: Vị trí địa lý của huyện Phú Tân, tỉnh An Giang 1 4. Thông tin nông hộ 4. Nguồn nhân lực Kết quả phỏng vấn về thông tin nông hộ được trình bày ở bảng 1. Chủ hộ của các mô hình nuôi cá lóc trong vèo có độ tuổi trung bình nằm trong khoảng 18 đến hơn 60 tuổi, trong đó độ tuổi từ 18-60 chiếm tỷ lệ cao nhất (75,86%) và còn lại là trên 60 tuổi (24,13%).
Độ tuổi của các thành viên trong gia đình dao động từ nhỏ hơn 18 đến cao hơn 60 tuổi và đa phần (67%) đều nằm trong độ tuổi lao động chính (18-60 tuổi). Ngoài ra, số người trên nông hộ từ nhỏ hơn hoặc bằng 5 chiếm đến 86,7% và từ 6-8 người chiếm 10,3%. Điều này cho thấy tại địa bàn nghiên cứu các hộ nuôi cá lóc trong vèo có số người nằm trong độ tuổi lao động chính nhiều, cho thấy nguồn nhân lực để thực hiện mô hình này rất dồi dào. Đa phần chủ hộ nuôi cá lóc trong vèo có trình độ văn hóa tương đối thấp trong đó 3% mù chữ, 55% học cấp I, 38% học cấp II và 3% học cấp III.
Tương tự, các thành viên trong gia đình cũng có trình độ học vấn thấp 64% học cấp I, 30% học cấp II và 6% học cấp III. Kết quả này cho thấy trình độ học vấn thấp của nông dân đã phần nào hạn chế trong việc tiếp nhận các tiến bộ về kỹ thuật nuôi cá. Nông dân chủ yếu nuôi cá lóc theo tập quán, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau và vừa học vừa rút kinh nghiệm (Phòng Xây dựng và phát triển nông thôn huyện Phú Tân - tỉnh An Giang, 2003; Phòng Xây dựng và Phát triển nông thôn huyện An Phú, 2004; Phòng Xây dựng và phát triển nông thôn huyện Châu Phú 2003a). 1 Bảng 1: Tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ và các thành viên trong gia đình tại xã nghiên cứu Chủ hộ Thành viên gia đình Diễn giải Số người Phần trăm (%) Số người Phần trăm (%) Nhóm tuổi 18 Tuổi 0 0 26 27,66 18-60 Tuổi 22 75,86 63 67,02 >60 Tuổi 7 24,13 5 5,32 Trình độ văn hóa Mù chữ 1 3,45 0 0 Cấp I 16 55,17 56 64,37 Cấp II 11 37,93 26 29,89 Cấp III 1 3,45 5 5,74 4.
Đất đai Khi phỏng vấn các hộ nuôi cá lóc trong vèo, phần trăm số hộ có đất canh tác lúa là 43,33 %, còn lại là các hộ chỉ có diện tích đất vừa đủ để ở và nuôi cá, chiếm 56,67%. Diện tích đất trung bình của các hộ canh tác lúa là 4.100 m2 và ao nuôi cá là 884 m2 (Bảng 2). Kết quả này cho thấy, mô hình nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ đòi hỏi diện tích đất không lớn và rất thích hợp cho các hộ ít đất sản xuất, đặc biệt là các hộ nghèo. Kinh nghiệm và số thể tích vèo nuôi cá lóc Thể tích vèo nuôi cá ở huyện Phú Tân khá cao, trung bình là 87,03 m3/hộ (Bảng 2).
Đa phần người dân trong xã có số năm kinh nghiệm nuôi cá trong vèo tương đối cao, qua tổng số hộ điều tra thì trung bình các hộ đã thực hiện mô hình này khoảng 5,34 năm, người nuôi cá lâu nhất là 12 năm và người nuôi ít nhất cũng được 2 năm. Đây cũng là một trong những thế mạnh của người 1 dân nuôi cá lóc tại địa bàn nghiên cứu, nếu so với các huyện khác thì số năm kinh nghiệm nuôi cá lóc trong vèo của nông dân ở Phú Tân nhiều hơn so với ở huyện Châu Phú là 2,17 năm (Cao Quốc Nam và ctv, 2005). Bảng 2: Diện tích đất, thể tích vèo nuôi, và số năm kinh nghiệm nuôi cá lóc trong vèo của nông dân ở xã Tân Trung Diễn giải Trung bình Thấp nhất Cao nhất Diện tích ruộng (m2) 4100 0 20000 Diện tích ao (m2) 884,03 100 4500 Thể tích vèo nuôi (m3/hộ) 89,41 18 270 Số năm kinh nghiệm nuôi cá lóc trong 5,34 2 12 vèo (năm) Khi phỏng vấn về nguồn thông tin phục vụ cho hoạt động nuôi cá lóc trong vèo, thì nông dân ở vùng nghiên cứu cho rằng nguồn thông tin trên thường xuyên được tiếp cận chủ yếu từ các nguồn: chương trình truyền hình (tivi), chiếm tỷ lệ 26%, tiếp theo là đài phát thanh (radio) chiếm tỷ lệ 20% và giữa các nông dân nuôi cá lóc (18%). Ngoài ra, họ còn tiếp nhận những thông tin từ nhiều nguồn khác nữa như: sách báo, bà con thân thuộc, cán bộ kỹ thuật viên của huyện hoặc xã (Bảng 4.
Điều này cho thấy người dân tại địa bàn nghiên cứu rất quan tâm đến những tiến bộ về kỹ thuật nuôi cá và thông tin phục vụ cho nuôi cá lóc rất đa dạng. Tuy nhiên các nguồn thông tin trên còn mang tính chấp giá, bị động và chưa được sắp xếp, hệ thống hóa hoàn chỉnh. Để phục vụ tốt hơn, thiết nghĩ cần phải có một hình thức tiếp nhận và chuyển giao thông tin giữa người nuôi cá và cơ quan khoa học cũng như thị trường,. dễ dàng hơn như các mô hình câu lạc bộ khuyến nông, hợp tác xã kiểu mới,.
1 Bảng 3: Nguồn thông tin cho hoạt động nuôi cá lóc Nguồn thông tin Tần suất Phần trăm (%) Tivi 27 26 Radio 21 20 Nông dân khác 19 18 Bà con thân thuộc 13 13 Kỹ thuật viên 12 12 Dịch vụ buôn bán 6 6 Sách báo 6 5 4. Hoạt động nuôi cá trong mùa lũ 4. Mùa vụ nuôi cá lóc trong vèo Đa phần những hộ được phỏng vấn thì nuôi cá lóc trong vèo quanh năm. Tận dụng ao sẵn có, họ thường nuôi 3 vụ cá lóc trên một năm: (1) vụ mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 8 dl), (2) vụ mùa lũ (từ tháng 7-8 đến tháng 11-12 dl) và (3) vụ mùa nghịch (từ tháng 12 đến tháng 4 dl).
Trong năm 2004, kết quả điều tra cho thấy phần đông người dân đã chọn thời điểm thả cá sớm vào đầu tháng 6, chiếm tỷ lệ 86,67% (Bảng 4) và cá được thu hoạch sớm vào đầu tháng 10, chiếm tỷ lệ 76,67% do giá cá thịt cao. Các hộ còn lại (23,33%) thì neo lại chờ giá cao hơn. Điều này cũng tương tự như nhận định của Dương Tấn Lộc (2001) theo ông, ở ĐBSCL mùa lũ tràn về từ tháng 7 đến tháng 11 hằng năm, do đó người dân nuôi cá lóc cần có nguồn giống sớm, bắt đầu nuôi từ tháng 5 đến tháng 8 cá được 100g/con. Giai đoạn này cá ăn mạnh dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên có sẵn và nước lũ lớn thì hiệu quả nuôi sẽ cao.
1 Bảng 4: Thời gian thả, thời gian thu và những lý do thúc đẩy người dân áp dụng mô hình nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ Diễn giải Tần suất Phần trăm (%) 1. Thời gian thả cá - Tháng 6 26 86,67 - Tháng 7 4 13,33 2.