ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng nuôi thủy sản lớn nhất của cả nước, sản lượng nuôi trồng thủy sản chiếm khoảng 65%, diện tích nuôi trồng khoảng 60% và giá trị xuất khẩu chiếm 51% của cả nước (Dương Nhựt Long, 2004). Nhiều mặt hàng thủy sản không chỉ đáp ứng nhu cầu của vùng mà còn đáp ứng nhu cầu của cả nước. Trong đó, cá trê là loài cá quen thuộc và được nuôi phổ biến khắp các tỉnh ĐBSCL. Đây là loài cá có khả năng chịu được điều kiện khắc nghiệt của môi trường, chất lượng thịt thơm ngon giàu dinh dưỡng, dễ nuôi và có giá trị kinh tế cao nên được thị trường ưa chuộng (Dương Nhựt Long, 2004).
Trong 4 loài cá trê ở nước ta hiện nay thì cá trê vàng (Clarias macrocephalus) là có giá trị kinh tế nhất. Thực tế trên cho thấy nhu cầu con giống cá trê vàng ngày càng tăng do việc nuôi thương phẩm loài cá này đang có xu hướng phát triể n rô ̣ng raĩ. Từ đó việc đảm bảo nguồn giống đủ về số lượng lẫn chất lượng đã được đặt ra. Chất lượng cá trê vàng giống do nhiều yếu tố chi phối như môi trường nuôi, kỹ thuật chăm sóc, đàn cá bố mẹ,… Trong đó, chất lượng đàn cá bố mẹ là yếu tố quan trọng nhất vì nó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và quyết định đến các chỉ tiêu sinh sản như sức sinh sản tương đối, tuyệt đối, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở của trứng, tỷ lệ sống của ấu trùng,… (Nguyễn Văn Kiểm, 2007).
Trong quá trình nuôi vỗ, dinh dưỡng được cung cấp thông qua thức ăn không những cho cá ăn đầy đủ về lượng mà còn phải đầy đủ về chất. Sự phát triển và thành thục sinh dục ở cá trê vàng bố mẹ đòi hỏi hàm lượng dinh dưỡng cao: đủ chất đạm, chất béo, vitamin, khoáng chất,… (Lại Văn Hùng, 2012). Đặc biệt là vitamin E vì đây là loại vitamin rất có lợi cho sự thành thục sinh dục ở động vật thủy sản (Nguyễn Văn Kiểm, 2007). Chính vì điều đó, việc nghiên cứu để tìm ra được tỷ lệ vitamin E phù hợp trong nuôi vỗ cá trê vàng giúp đạt hiệu quả sinh sản cao là vấ n đề cần thiết.
Vì vậy đề tài “Ảnh hưởng của tỷ lệ vitamin E lên một số chỉ tiêu thành thục sinh dục và sinh sản cá trê vàng” được thực hiện.2 Mục tiêu đề tài Xác định liều lượng Vitamin E phù hơ ̣p trong quá trình nuôi vỗ cá trê vàng. Bổ sung thêm một số thông tin kỹ thuật về nuôi vỗ cá trê vàng.3 Nội dung nghiên cứu Theo dõi các chỉ tiêu môi trường (nhiệt độ và pH) trong quá trình nuôi vỗ thành thục và cho cá trê vàng sinh sản. 1 So sánh ảnh hưởng của liều lượng vitamin E lên một số chỉ tiêu thành thục sinh dục của cá trê vàng. So sánh ảnh hưởng của liều lượng vitamin E lên các chỉ tiêu sinh sản của cá trê vàng.
2 CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học của cá trê vàng 2.1 Đặc điểm phân loại và hình thái Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), cá trê vàng được phân loại như sau: Ngành: Chodrata Lớp: Actinoptergii Bộ: Siluriformes Họ: Clariidae Giống: Clarias Loài:Clarias macrocephalus (Gunther, 1964) Tên địa phương: Cá trê vàng Tên tiếng anh: Yellow catfish.1 Hình dạng bên ngoài cá trê vàng (Nguồn: ảnh chụp) Cá trê vàng đầu rộng, dẹp bằng, da đầu ở sọ não mỏng, xương sọ nổi lên rõ ràng. Miệng cá không co duỗi được, rạch miệng thẳng, nằm ngang, răng trên hàm nhỏ, mịn, cứng. Có 4 đôi râu 1 đôi râu mũi, 1 đôi râu mép và 2 đôi râu cằm dưới. Mắt nhỏ, nằm ở mặt lưng của đầu và gần chóp mõm.
Phần trán giữa hai mắt rộng. Đầu có hai lỗ thóp, một lỗ nằm phía sau đường nối hai mắt, còn lỗ kia nằm phía trước gốc mấu xương 3 chẩm. Mấu xương chẩm tròn rộng. Lỗ mang hẹp, xương nắp mang kém phát triển.
Thân dài phần trước tròn, phần sau mỏng, dẹp bên. Cuống đuôi ngắn. Cơ gốc vi phát triển, phủ lên gần tới ngọn các tia vi. Gai vi ngực cứng, nhọn đầu đều có răng cưa hướng xuống.
Vi đuôi tròn chẻ hai. Mặt lưng của thân có màu xám đến nâu đen và nhạt dần xuống mặt bụng, mặt dưới của đầu có màu vàng. Trên thân mỗi bên có 10 hàng chấm nhỏ nằm vắt ngang thân (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).2 Cách phân biệt cá trê vàng Theo Phạm Thanh Liêm (2006), có thể phân biệt nhanh cá trê phổ biến ở Nam Bộ dựa vào gốc xương chẩm: cá trê trắng (Clarias batracus) xương chẩm hình tam giác (đỉnh xương chẩm nhọn chứ không tròn như cá trê lai), cá trê vàng (Clarias macrocephalus) xương chẩm tròn, trê lai (Hybrid catfish ) xương chẩm hình chữ M đỉnh xương chẩm tròn, trê phi (Clarias gariepinus) xương chẩm hình chữ M.2 Đăc điểm nhận dạng 4 loại cá trê dựa theo hình thái xương chẩm (Nguồn:http://www.3 Phân bố và môi trường sống Cá trê vàng là loài sống trong môi trường nước ngọt ở vùng khí hậu nhiệt đới. Chúng phân bố ở Philipin, Thái Lan, Lào, Campuchia và ĐBSCL Việt Nam (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
Cá trê vàng sống được trong môi trường nước hơi phèn và trong điều kiện nước có độ mặn thấp (độ mặn < 5 ‰), phát triển tốt trong môi trường nước có độ pH khoảng 5,5 - 8,0 (Bạch Thị Quỳnh Mai, 2004). Nhờ có cơ quan hô hấp phụ nên cá có thể chịu đựng môi trường khắc nghiệt có nhiệt độ từ 11 - 39 0C; pH từ 3,5 - 10,5; hàm lượng oxy hòa tan thấp 1 - 2 mg/l (Đoàn Khắc Độ, 2008). Nói chung cá trê vàng là loài sống đáy, thích nơi tối tăm bụi rậm nên râu rất phát triển để tìm mồi. Chúng sống được ở môi trường chật hẹp, dơ bẩn, hàm lượng oxy hòa tan 4 thấp thậm chí bằng 0 nhờ có cơ quan hô hấp phụ là hoa khế (Dương Thúy Yên và Vũ Ngọc Út, 1991).4 Đặc điểm dinh dưỡng Cá trê là loài cá ăn tạp, thiên về chất hữu cơ.
Khi còn ở giai đoạn cá bột và cá hương, cá trê cũng thể hiện tính hung dữ như cá tra (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009). Trong tự nhiên, cá Trê ăn côn trùng, giun ốc, tôm cua, cá. ngoài ra trong đều kiện ao nuôi cá trê còn có thể ăn các phụ phẩm từ trại chăn nuôi, nhà máy chế biến thủy sản, chất thải từ lò mổ (Dương Nhựt Long, 2003). Cá mới nở từ trứng do có túi noãn hoàn nên không ăn thức ăn bên ngoài.
Sau 48 giờ cá mới tiêu hết noãn hoàn, cá bột từ ngày thứ 3 trở đi bắt đầu ăn được trứng nước và có thể ăn được các loài giáp xác nhỏ. Khi cá có kích cỡ 4 - 6 cm cá có thể ăn được trùn chỉ. Từ cỡ 4 - 6 cm trở đi cá có thể ăn được ruốc, tép, côn trùng, các phụ phế phẩm như đầu vỏ tôm và các thức ăn tinh khác như cám, bắp, bột cá… (Bạch Thị Huỳnh Mai, 2004). Cá trê thường hoạt động, bơi lội, ăn mạnh vào chiều tối hoặc ban đêm vào lúc trời gần sáng (Phạm Văn Khánh và Lý Thị Thanh Loan, 2004).5 Đặc điểm sinh trưởng Cá trê vàng là loài có tốc độ tăng trưởng chậm.
Sau 5 - 6 tháng nuôi đạt cỡ thương phẩm 150 - 250 g/con (Đoàn Hữu Nghị, 2013). Cá trê vàng giai đoạn cá hương, cá giống lớn nhanh về chiều dài, sau đó cỡ 15cm trở đi tăng nhanh về khối lượng. Cá 1 năm tuổi trong tự nhiên có trong lượng trung bình 400 - 500 g/con (Phạm Văn Khánh và Lý Thi ̣Thanh Loan, 2004). Sức lớn của cá phụ thuộc vào mật độ thả nuôi, số lượng và chất lượng thức ăn được cung cấp, điều kiện ao nuôi (Từ Thanh Dung và Trần Thị Thanh Hiền, 1994).6 Đặc điểm sinh sản Cá trê vàng thành thục sinh dục lần đầu tiên khi được 8 tháng tuổi, mùa vụ sinh sản của cá Trê vàng bắt đầu vào mùa mưa từ tháng 4 - 9, nhưng tập trung từ tháng 5 - 7 (Phạm Minh Thành, 2005).
Trong điều kiện nuôi, cá có thể sinh sản 4 - 6 lần trong năm. Nhiệt độ để cá sinh sản tốt từ 25 - 32 0C. Sức sinh sản của cá trê vàng thấp khoảng 60. Sau khi cá sinh sản xong có thể nuôi vỗ tái phát dục khoảng 30 ngày thì cá có thể tham gia sinh sản trở lại.
Trứng cá trê thuộc dạng trứng dính và có tập tính làm tổ đẻ gần bờ ao, mương nơi có mực nước khoảng 0,3 - 0,5m (Dương Nhựt Long, 2003).2 Tình hình nghiên cứu cá trê trong nước Từ năm 1972 - 1979 các nhà khoa học đã tiến hành cho sinh sản và ương nuôi cá Trê đen và nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài này (Trích bởi Danh Thanh Tùng, 2006). Năm 1982 Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Cần Thơ đã sản xuất và nuôi thành công cá Trê phi (Clarias gariepinus). Vào khoảng những năm 1982 - 1987, ở Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh ở ĐBSCL đã sản xuất ra lượng cá Trê phi giống khá lớn cung cấp cho người nuôi. Do có sự có mặt của cá Trê phi ở Nam bộ mà biện pháp kỹ thuật lai tạo giữa cá Trê phi và cá Trê vàng ra đời.
Vấn đề lai tạo cá Trê phi và cá Trê vàng thu được những kết quả khá khích lệ (Nguyễn Văn Kiểm, 1999). Cá Trê phi có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất cả về chiều dài và khối lượng, cá Trê vàng có tốc độ tăng trưởng chậm nhất, cá Trê lai có tốc độ tăng trưởng trung gian giữa cá Trê vàng và cá Trê phi (trích dẫn bởi Phạm Hiếu Ngởi, 2014). Kết quả nuôi vỗ cá Trê ở Trường Đại Học Cần Thơ cho thấy với thức ăn hàm lượng protein 35% cho ăn 4 - 5% khố i lượng thân, sau 60 ngày nuôi vỗ cá có thể tham gia sinh sản. Khối lượng trung bình có thể tham gia sinh sản của cá Trê vàng là 250 - 300g và 350 - 400g đối với cá Trê trắng (Huỳnh Kim Hường, 2005).
Trong những năm gần đây, phong trào nuôi cá trê đã phát triển mạnh ở một số địa phương ở Miền Nam đặc biệt là ĐBSCL nhưng cá trê được nuôi phổ biến là cá trê lai (con lai giữa cá trê vàng cái và cá trê phi đực). Việc nuôi cá trê mang lại thu nhập đáng kể cho gia đình (Trần Thị Thúy An, 2009). Qua thực tế ở ĐBSCL cho thấy, ao nuôi vỗ có diện tích nhỏ từ vài chục đến vài trăm mét vuông cá để thành thục tốt.