Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9229040) với đề tài "Văn hóa ứng xử với biển của cư dân ven biển Bình Định" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Vân thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Hồng Liên và TS. Lê Thị Ngọc Điệp.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bình Định là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ có chiều dài bờ biển 134 km, 33 hòn đảo lớn nhỏ cùng hệ thống cửa lạch và đầm phá phong phú. Cư dân địa phương qua nhiều thế kỷ đã tạo dựng phương thức sinh kế và hệ thống tri thức thích ứng với điều kiện tự nhiên của biển. Trong bối cảnh hiện nay, tác động của biến đổi môi trường sinh thái, quá trình hiện đại hóa nghề cá và chuyển dịch kinh tế đã đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách thức ứng xử với biển. Nghiên cứu sự thích ứng này giúp nhận diện các giá trị văn hóa truyền thống kết tinh qua thực tiễn mưu sinh, đồng thời phân tích những chuyển biến trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân ven biển.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích của luận án là nghiên cứu văn hóa ứng xử với biển của cư dân ven biển Bình Định trên hai phương diện: đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Luận án tiếp cận từ góc độ tương tác giữa chủ thể văn hóa (cư dân ven biển Bình Định) với môi trường tự nhiên (biển) và môi trường xã hội, từ đó phân tích các yếu tố tự nhiên - lịch sử tác động đến sự lựa chọn ứng xử, đồng thời xác định các đặc trưng văn hóa cốt lõi của cộng đồng nơi đây.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Môi trường tự nhiên của vùng ven biển Bình Định có đặc điểm chung gì so với vùng duyên hải Nam Trung Bộ và có những đặc điểm riêng biệt gì mang tính đặc thù lịch sử?
  2. Những biểu hiện trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của cư dân ven biển Bình Định và cách ứng xử với biển phản ánh điều gì trong tâm thức văn hóa của họ?

Giả thuyết nghiên cứu

  1. Vùng ven biển Bình Định có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng không thuận lợi cho nông nghiệp, nhưng nguồn lợi thủy sản phong phú đã định hình ý thức hướng biển, giúp cư dân lựa chọn phương thức thích nghi để mưu sinh và ổn định cuộc sống.
  2. Biển mang lại nguồn lợi sinh kế trong ẩm thực, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, du lịch và nghệ thuật dân gian; tuy nhiên, biển cũng tiềm ẩn nhiều hiểm nguy, buộc con người phải sáng tạo các hình thức ứng phó về mặt kỹ thuật và tâm linh nhằm duy trì sự tồn tại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa ứng xử với biển của cư dân ven biển Bình Định trên hai bình diện văn hóa vật chất (lao động sản xuất, ẩm thực, cư trú, giao thông thương mại, du lịch) và văn hóa tinh thần (tín ngưỡng thờ cúng cá Ông, Âm linh, thờ Mẫu, kiêng kỵ dân gian, nghệ thuật trình diễn).
  • Phạm vi chủ thể: Người Việt (người Kinh) sinh sống tại dải ven biển Bình Định chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ môi trường biển.
  • Phạm vi không gian: 5 đơn vị hành chính ven biển tỉnh Bình Định, gồm thành phố Quy Nhơn, thị xã Hoài Nhơn và 3 huyện Tuy Phước, Phù Cát, Phù Mỹ.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 1989 (thời điểm tái lập tỉnh Bình Định từ tỉnh Nghĩa Bình) đến nay, có đối chiếu với các yếu tố lịch sử truyền thống.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu đi trước theo 4 nhóm chủ đề chính:

Nhóm chủ đề nghiên cứu Các tác giả và công trình tiêu biểu Nội dung chính đã đề cập
Cơ sở lý luận về văn hóa ứng xử Đoàn Văn Chúc (1997), Bùi Thiết (2000), Nguyễn Viết Chức (2002), Lê Văn Quán (2007), Nguyễn Thanh Tuấn (2008). Cơ chế hành động, khuôn mẫu chuẩn mực ứng xử của con người nhằm thích ứng và cải biến môi trường tự nhiên, xã hội.
Nghiên cứu quốc tế về biển và cư dân ven biển J. Hornell (1950), A. Von Brandt (2005), B. Malinowski (1922), Raymond Firth (1946), Thomas M. (1960), R. Barnes (1996), Cynthia Chou (2003). Ngư cụ và kỹ thuật khai thác; vai trò của ma thuật, niềm tin tôn giáo và cấu trúc tổ chức xã hội của các làng chài ven biển.
Nghiên cứu về biển và cư dân ven biển Việt Nam Thư tịch cổ và ghi chép phương Tây: Cristophoro Borri (1621), Thích Đại Sán (1696), John Barrow (1792–1793), J. Piétri, Lê Quý Đôn, Dương Văn An, Trịnh Hoài Đức.
Công trình hiện đại: Nguyễn Duy Thiệu (2002), Đỗ Hoài Nam, Trần Hồng Liên, Phan Thị Yến Tuyết (2014), Nguyễn Văn Kim - Nguyễn Mạnh Dũng (2015), Bùi Xuân Đính - Nguyễn Thị Thanh Bình (2018), Lê Quang Nghiêm (1970), Ngô Đức Thịnh (2000), Đinh Văn Hạnh - Phan An (2004), Nguyễn Xuân Hương (2009), Nguyễn Đăng Vũ (2016), Nguyễn Thanh Lợi (2014), Hà Đình Thành (2016).
Lịch sử khai hoang ven biển, sinh kế ngư nghiệp, xác lập chủ quyền biển đảo; thiết chế vạn chài; các hình thái tín ngưỡng thờ cá Ông, thờ Mẫu, thờ Âm hồn và diễn xướng hát bả trạo.
Nghiên cứu văn hóa biển tại Bình Định Quách Tấn (1999), Đinh Bá Hòa (2012), Võ Ngọc An (2012), Trần Xuân Toàn và Trần Xuân Liếng, Chi hội Văn nghệ dân gian Bình Định (2004). Địa chí, phong tục tập quán làng quê, công cụ đánh bắt thủ công truyền thống ở Bãi Ngang, Hoài Nhơn, Quy Nhơn.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Phần lớn các công trình tại Bình Định trước đây chỉ dừng lại ở mức độ miêu tả địa chí, khảo tả ngư cụ hoặc ghi chép phong tục riêng lẻ tại từng thôn xã. Chưa có công trình chuyên khảo nào tiếp cận liên ngành Văn hóa học để tổng hợp toàn diện hệ thống văn hóa ứng xử với biển của cư dân ven biển Bình Định trên cả hai chiều kích vật chất và tinh thần trong bối cảnh biến đổi từ năm 1989 đến nay.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Hệ thống khái niệm và lý thuyết sử dụng

  • Khái niệm công cụ:
    • Văn hóa: Tiếp cận theo định nghĩa của UNESCO (2001), Phan Ngọc (1998) và hệ thống lý luận của Trần Ngọc Thêm (1997).
    • Ứng xử và Văn hóa ứng xử: Khái niệm của Hoàng Phê (2006), Đoàn Văn Chúc (1997), Bùi Thiết (2000), Nguyễn Thanh Tuấn (2008). Ứng xử với môi trường tự nhiên được chia thành hai nhánh: tận dụng môi trường và đối phó với môi trường.
    • Vùng ven biển và Biển cận duyên: Quan niệm của Phan Thị Yến Tuyết (2014) và Ngô Đức Thịnh (2016).
    • Cư dân ven biển: Khái niệm của Tô Duy Hợp, Đặng Vũ Cảnh Linh và tiêu chí văn hóa biển của Trần Ngọc Thêm (2014).
  • Khung lý thuyết phân tích:
    1. Thuyết vùng văn hóa (Cultural Area): Xuất phát từ Franz Boas, Clark Wissler, Alfred Kroeber; vận dụng qua nghiên cứu của Ngô Đức Thịnh, Huỳnh Công Bá để xác định Bình Định thuộc vùng văn hóa duyên hải Nam Trung Bộ với sự giao lưu văn hóa Việt - Chăm - Hoa.
    2. Thuyết sinh thái văn hóa (Cultural Ecology): Của Julian Steward; kết hợp quan điểm của Robert McC. Netting, Đào Duy Anh, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Từ Chi nhằm luận giải sự thích nghi sinh kế của cư dân trước điều kiện tự nhiên khắc nghiệt.
    3. Thuyết chức năng (Functionalism): Quan điểm của Bronislaw Malinowski (chức năng tâm lý của nghi lễ trước sự bất trắc của biển) và Radcliffe-Brown (chức năng xã hội trong việc duy trì cấu trúc cộng đồng làng vạn).
    4. Thuyết biến đổi văn hóa (Cultural Change): Quan điểm của E.B. Tylor, L.H. Morgan, Phạm Đức Dương để phân tích sự chuyển đổi từ nghề cá truyền thống sang nghề cá hiện đại và sự thay đổi trong sinh hoạt tín ngưỡng.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Thu thập và xử lý các nguồn tài liệu thứ cấp từ thư tịch cổ, địa chí, số liệu thống kê kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định.
  • Phương pháp quan sát tham dự: Điền dã thực tế, trực tiếp tham gia các lễ hội cầu ngư, lễ tế cá Ông, sinh hoạt vạn chài và làng nghề chế biến thủy sản tại địa phương.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 30 mẫu phỏng vấn sâu trong giai đoạn từ năm 2018 đến 2020 tại 5 địa phương ven biển Bình Định (Quy Nhơn, Tuy Phước, Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài Nhơn). Mẫu chọn phân tầng theo độ tuổi (người cao tuổi am hiểu tập tục và thanh niên làm nghề mới), giới tính (nam giới đi biển, nữ giới chế biến nước mắm, vá lưới, làm muối).
  • Cách tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức giữa Văn hóa học với Nhân học, Địa lý học, Sử học, Xã hội học và Tôn giáo học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn

Chương 1 tập trung xây dựng khung khái niệm, cơ sở lý thuyết và phác thảo bức tranh tự nhiên, lịch sử - xã hội của địa bàn nghiên cứu:

  • Đặc điểm môi trường tự nhiên: Tỉnh Bình Định có diện tích 6.025,6 km², nằm ở sườn đông dãy Trường Sơn với 70% địa hình là đồi núi (độ cao 500–700 m), đồng bằng ven biển hẹp (khoảng 1.000 km²). Tỉnh có 4 hệ thống sông chính đổ ra biển: sông Côn, sông Hà Thanh (đổ vào đầm Thị Nại qua cửa Quy Nhơn), sông Lại Giang (qua cửa An Dũ) và sông La Tinh (qua cửa Đề Gi). Hệ thống đầm phá lớn gồm: đầm Trà Ổ (1.200 ha), đầm Đề Gi (1.500 ha) và đầm Thị Nại (5.060 ha). Vùng biển có 3 cửa lạch lớn (Tam Quan, Đề Gi, Quy Nhơn), sở hữu hơn 500 loài cá (cá nổi chiếm trên 60%, cá đáy chiếm hơn 30%). Khí hậu chia hai mùa mưa - khô rõ rệt, mùa mưa tập trung từ tháng 9 đến tháng 12 với nhiều bão lũ, gió mùa Đông Bắc và Tây Nam.
  • Đặc điểm lịch sử - xã hội: Vùng đất Bình Định gắn liền với kinh đô Vijaya của Champa (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV). Năm 1471, vua Lê Thánh Tông lập phủ Hoài Nhơn gồm 3 huyện: Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn, trực thuộc Quảng Nam thừa tuyên. Đến năm 1490, phủ Hoài Nhơn có 29 tổng, 100 xã. Năm 1648, chúa Nguyễn đưa hơn 3 vạn tù binh vào lập khoảng 600 làng mới tại khu vực Nam Trung Bộ. Quá trình cộng cư lịch sử đã tạo nên sự giao thoa sâu sắc giữa văn hóa Việt, văn hóa Chăm bản địa và người Hoa trong kỹ thuật đi biển, tri thức buôn bán và tín ngưỡng dân gian.

Chương 2: Văn hóa ứng xử với biển của cư dân ven biển Bình Định trong đời sống vật chất

Chương 2 phân tích các phương thức khai thác, tận dụng và đối phó với môi trường biển trong sinh kế hàng ngày:

  • Trong lao động sản xuất: Sự chuyển dịch từ các loại thuyền nan, sõng vành, ghe giã đánh bắt gần bờ sang đội tàu vỏ gỗ và vỏ thép công suất lớn vươn khơi xa. Hoạt động nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh tại các đầm phá (thủy sản nước lợ, tôm hùm, ốc hương, hàu). Nghề thủ công truyền thống duy trì gắn liền với ngư nghiệp như đóng sửa tàu thuyền, làm muối (diêm nghiệp), chế biến nước mắm, nghề đan vá lưới.
  • Trong văn hóa ẩm thực: Cư dân sử dụng nguồn lợi hải sản tại chỗ làm thức ăn hàng ngày, sáng tạo kỹ thuật ướp muối, phơi khô, làm mắm (nước mắm Tam Quan, mắm nhĩ, mắm mực) nhằm dự trữ lương thực đối phó với mùa mưa bão kéo dài.
  • Trong chọn nơi ở và dựng nhà: Quy hoạch làng vạn nép mình sau các cồn cát, rặng phi lao chắn gió mặn; kiến trúc nhà ở truyền thống có kết cấu thấp, mái dốc, tường dày nhằm thích ứng với gió bão duyên hải.
  • Trong giao thông vận tải, thương mại và du lịch: Phát huy lợi thế cảng nước sâu Quy Nhơn và các cửa lạch cổ (thương cảng Nước Mặn, Thị Nại) phục vụ giao thương nội địa và quốc tế. Sự hình thành các điểm du lịch biển đảo hiện đại như Quy Nhơn, bán đảo Phương Mai, đảo Cù Lao Xanh (xã đảo Nhơn Châu rộng hơn 4,5 km²), Hòn Khô, Trung Lương.
  • Đặc điểm ứng xử vật chất: Thể hiện tính linh hoạt, chuyển đổi hài hòa giữa khai thác tự nhiên để mưu sinh và tích lũy tri thức kinh nghiệm đối phó với thiên tai khắc nghiệt.

Chương 3: Văn hóa ứng xử với biển của cư dân ven biển Bình Định trong đời sống tinh thần

Chương 3 trình bày hệ thống biểu trưng, tín ngưỡng và nghệ thuật phản ánh thế giới quan hướng biển:

  • Tín ngưỡng thờ cúng cá Ông (Nam Hải Đại tướng quân): Nghi lễ cốt lõi của cư dân vạn chài. Lăng Ông là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, nơi lưu giữ cốt cá voi trôi dạt vào bờ, tổ chức lễ hội Cầu ngư hàng năm để cầu mong trời yên biển lặng, đánh bắt bội thu.
  • Tín ngưỡng thờ cúng Âm linh (Cô Bác): Phản ánh lòng trắc ẩn và tính nhân văn của cộng đồng ngư dân đối với những người không may qua đời trên biển; bài vị Âm linh thường được lập miếu riêng hoặc phối thờ trong Lăng Ông.
  • Tín ngưỡng thờ Mẫu / Thờ Bà: Sự tích hợp giữa tục thờ Thiên Y A Na (nguồn gốc Chăm) và Thiên Hậu Thánh Mẫu (nguồn gốc Hoa) cùng các nữ thần bản địa bảo trợ người đi biển.
  • Hệ thống kiêng kỵ dân gian: Các quy tắc cấm kỵ nghiêm ngặt trong ngôn ngữ, hành vi khi đóng thuyền, xuất bến ra khơi và sinh hoạt trên tàu nhằm giải tỏa áp lực tâm lý trước rủi ro.
  • Nghệ thuật diễn xướng dân gian: Nghệ thuật hát bả trạo (chèo bả trạo) trong lễ tang cá Ông và lễ hội Cầu ngư, kết hợp với hát bội (tuồng Bình Định), các trò chơi dân gian miền biển phản ánh đời sống lao động trên sóng nước.
  • Đặc điểm ứng xử tinh thần: Chức năng tâm lý giúp ngư dân củng cố niềm tin khi đối mặt với biển cả hiểm nguy, đồng thời chức năng xã hội thắt chặt tính cố kết cộng đồng làng vạn.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Vận dụng và kiểm chứng hệ thống lý thuyết Văn hóa học (vùng văn hóa, sinh thái văn hóa, chức năng luận và biến đổi văn hóa) vào một địa bàn cụ thể là vùng ven biển Bình Định.
  • Làm rõ cơ chế tương tác hai chiều giữa con người và môi trường biển: biển vừa là nguồn sống nuôi dưỡng sinh kế, vừa là môi trường khắc nghiệt buộc con người phải sáng tạo các khuôn mẫu ứng xử văn hóa để thích nghi.
  • Khái quát hóa bức tranh giao thoa văn hóa Việt – Chăm – Hoa trong văn hóa biển miền Trung thông qua các thực hành tín ngưỡng và kỹ thuật khai thác thủy hải sản.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Khảo tả chi tiết và lưu trữ hệ thống tư liệu thực địa gồm 30 biên bản phỏng vấn sâu, danh mục lăng Ông, các văn bản văn tế, sắc phong triều Nguyễn và kịch bản hát chèo bả trạo tại Bình Định (trình bày trong hệ thống phụ lục).
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ công tác hoạch định chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương.
  • Đề xuất định hướng giải quyết xung đột giữa bảo tồn không gian văn hóa vạn chài truyền thống với quá trình công nghiệp hóa nghề cá và đô thị hóa du lịch ven biển.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào chủ thể người Việt ven biển, chưa đi sâu so sánh chi tiết giữa các nhóm cộng đồng thiểu số có liên quan đến kinh tế biển ở các vùng lân cận. Nguồn tư liệu định lượng biến đổi kinh tế nghề cá tập trung từ năm 1989 đến thời điểm khảo sát (2020).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu văn hóa ứng xử với biển của cư dân Bình Định với các tỉnh lân cận thuộc Duyên hải Nam Trung Bộ (như Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa).
    • Đi sâu phân tích tác động của chuyển đổi số và công nghệ khai thác hải sản hiện đại đến sự biến đổi các nghi lễ tín ngưỡng biển truyền thống trong giai đoạn mới.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu tham khảo chuyên ngành cho các ngành Văn hóa học, Nhân học, Lịch sử Việt Nam, Địa lý nhân văn và Tôn giáo học; cung cấp khung phân tích về sinh thái văn hóa biển.
  • Đối với nhà quản lý và hoạch định chính sách: Tài liệu hữu ích cho Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định trong việc xây dựng hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội Cầu ngư, hát bả trạo) và phát triển kinh tế biển bền vững.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Chương 2 với hệ thống tư liệu khảo tả kỹ thuật sinh kế, tập quán ẩm thực và kinh nghiệm cư trú ven biển.
    • Chương 3 và hệ thống phụ lục (Phụ lục 2, 3) lưu giữ nguyên bản các văn tế, sắc phong và bản chèo bả trạo cổ truyền.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 1989 đến nay?

Tháng 2/1976, hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình. Đến năm 1989, tỉnh Bình Định được tái lập và tách khỏi địa giới hành chính tỉnh Nghĩa Bình. Do đó, mốc 1989 đánh dấu bước ngoặt về tổ chức hành chính và định hình các chính sách phát triển kinh tế - xã hội độc lập của tỉnh Bình Định trong thời kỳ đổi mới.

2. Luận án sử dụng những lý thuyết chính nào để tiếp cận đề tài?

Luận án vận dụng 4 lý thuyết khoa học:

  1. Thuyết vùng văn hóa (Franz Boas, Clark Wissler, Ngô Đức Thịnh).
  2. Thuyết sinh thái văn hóa (Julian Steward, Robert McC. Netting, Trần Quốc Vượng).
  3. Thuyết chức năng (Bronislaw Malinowski, Radcliffe-Brown).
  4. Thuyết biến đổi văn hóa (E.B. Tylor, L.H. Morgan, Phạm Đức Dương).

3. Cỡ mẫu và địa bàn thực hiện phương pháp phỏng vấn sâu của tác giả gồm những gì?

Tác giả đã thực hiện 30 mẫu phỏng vấn sâu trong thời gian từ năm 2018 đến 2020 tại 5 địa phương ven biển tỉnh Bình Định: thành phố Quy Nhơn, thị xã Hoài Nhơn và 3 huyện Tuy Phước, Phù Cát, Phù Mỹ.

4. Hệ thống sông và đầm phá chính tại Bình Định tác động như thế nào đến sinh thái biển theo mô tả của luận án?

Tỉnh Bình Định có 4 con sông lớn (sông Côn, sông Hà Thanh, sông Lại Giang, sông La Tinh) cùng 3 hệ thống đầm phá lớn (đầm Thị Nại diện tích 5.060 ha, đầm Đề Gi diện tích 1.500 ha, đầm Trà Ổ diện tích 1.200 ha). Các đầm phá là nơi giao hòa giữa nước ngọt và nước mặn, tạo môi trường đa dạng sinh học thuận lợi cho nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và kết nối giao thương qua các cửa lạch Quy Nhơn, Đề Gi, Tam Quan.

5. Những dạng thức tín ngưỡng tiêu biểu nào của cư dân ven biển Bình Định được phân tích?

Luận án phân tích 3 dạng thức tín ngưỡng chính:

  • Tín ngưỡng thờ cúng cá Ông (Nam Hải Đại tướng quân) gắn với lăng Ông và lễ hội Cầu ngư.
  • Tín ngưỡng thờ cúng Âm linh (Cô Bác) dành cho những người tử nạn trên biển.
  • Tín ngưỡng thờ Mẫu / Thờ Bà (Thiên Y A Na, Thiên Hậu Thánh Mẫu).

Kết luận

Luận án "Văn hóa ứng xử với biển của cư dân ven biển Bình Định" của tác giả Nguyễn Thị Vân là công trình nghiên cứu hệ thống về văn hóa biển tại khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ dưới góc độ Văn hóa học. Bằng việc kết hợp các khung lý thuyết sinh thái văn hóa, vùng văn hóa và chức năng luận với phương pháp điền dã dân tộc học, luận án đã làm rõ các biểu hiện thích ứng linh hoạt của cư dân trong cả đời sống vật chất lẫn tinh thần. Công trình không chỉ phản ánh quá trình dung hợp văn hóa lịch sử giữa các tộc người mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa biển trong bối cảnh phát triển đương đại.