Luận án tiến sĩ kinh tế nông nghiệp đánh giá giá trị kinh tế của sản phẩm rừng bần tại đồng bằng sông cửu long

Luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu nông nghiệp đánh giá giá trị kinh tế của sản phẩm rừng bần tại đồng bằng sông cửu long, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Lâm

Chuyên ngành

Kinh Tế Nông Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

180
17
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Tính cấp thiết của luận án

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.3. Phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Phạm vi về không gian

1.3.2. Phạm vi về thời gian

1.3.3. Phạm vi về nội dung

1.3.4. Giới hạn nghiên cứu

1.4. Các câu hỏi nghiên cứu

1.5. Ý nghĩa của nghiên cứu

1.5.1. Về mặt khoa học

1.5.2. Về mặt thực tiễn

1.6. Kết cấu của luận án

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Các nghiên cứu về giá trị kinh tế của rừng ngập mặn

3. CHƯƠNG 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

5. CHƯƠNG 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của luận án

Luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của cây Bần chua (Sonneratia caseolaris L.) trong hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Đồng bằng Sông Cửu Long. Cây Bần không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển, ngăn chặn xói mòn mà còn cung cấp nhiều sản phẩm giá trị cho người dân địa phương. Theo Đỗ Huy Bích và cộng sự (2004), cây Bần chua có khả năng tạo ra các sản phẩm như thuốc chữa bệnh và thực phẩm, góp phần vào sinh kế của người dân. Hơn nữa, rừng Bần chua còn là nguồn lợi thủy sản phong phú, tạo ra thu nhập lớn cho các hộ gia đình sống ven biển. Nghiên cứu chỉ ra rằng giá trị kinh tế của rừng ngập mặn có thể đạt 3.099,36 USD/ha/năm, điều này cho thấy sự cần thiết phải đánh giá và phát triển bền vững nguồn tài nguyên này nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Việc nghiên cứu giá trị kinh tế của sản phẩm rừng Bần không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng địa phương.

II. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là đánh giá giá trị kinh tế của sản phẩm rừng Bần tại Đồng bằng Sông Cửu Long, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao giá trị kinh tế này. Cụ thể, nghiên cứu đặt ra ba mục tiêu: (1) Phân tích thực trạng sản phẩm rừng Bần tại khu vực nghiên cứu, (2) Đánh giá giá trị kinh tế của sản phẩm rừng Bần, và (3) Đề xuất giải pháp nhằm tăng giá trị kinh tế của sản phẩm rừng Bần. Những mục tiêu này không chỉ giúp làm rõ giá trị kinh tế của rừng Bần mà còn cung cấp cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách trong việc quản lý và phát triển bền vững rừng ngập mặn. Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

III. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng về không gian, thời gian và nội dung. Nghiên cứu tập trung vào ba huyện thuộc hai tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng, nơi có diện tích rừng Bần lớn nhất tại Đồng bằng Sông Cửu Long. Thời gian nghiên cứu kéo dài từ tháng 06/2018 đến tháng 12/2019, nhằm thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp liên quan đến giá trị kinh tế của sản phẩm rừng Bần. Nội dung nghiên cứu tập trung vào việc phân tích thu nhập từ các sản phẩm rừng Bần, giá trị du lịch và giá trị phòng hộ của rừng Bần. Phạm vi nghiên cứu này đảm bảo tính khách quan và chính xác trong việc đánh giá giá trị kinh tế của rừng Bần, đồng thời cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách.

IV. Ý nghĩa của nghiên cứu

Luận án không chỉ có giá trị về mặt khoa học mà còn mang lại nhiều lợi ích thực tiễn. Về mặt khoa học, nghiên cứu hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề liên quan đến rừng Bần tại Đồng bằng Sông Cửu Long, tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà quản lý rừng trong việc bảo tồn và phát triển bền vững rừng Bần. Đồng thời, nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các trường đào tạo về Kinh tế Nông nghiệp và Tài nguyên Môi trường, giúp nâng cao nhận thức về giá trị của rừng Bần trong bối cảnh ứng phó với biến đổi khí hậu. Những kiến nghị từ nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao giá trị kinh tế của sản phẩm rừng Bần, hỗ trợ cộng đồng địa phương trong việc cải thiện sinh kế.

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan tài liệu Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các nghiên cứu về giá trị kinh tế của rừng ngập mặn Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây đã phân tích, đánh giá các khía cạnh khác nhau về tổng giá trị kinh tế của RNM, bao gồm hai nhóm giá trị cơ bản, đó là: giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Nguồn: Turner, năm 2003 Hình 2. Tổng giá trị kinh tế của RNM Giá trị kinh tế của RNM được Turner (2003) phân thành giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng, cụ thể như sau: ♦ Giá trị sử dụng: Là những hàng hóa và dịch vụ sinh thái mà RNM cung cấp cho con người và các hệ thống kinh tế, được phân thành 3 nhóm: (1) Giá trị sử dụng trực tiếp, (2) Giá trị sử dụng gián tiếp, (3) Giá trị lựa chọn.

Các giá trị được định nghĩa như sau: 9 (1) Giá trị sử dụng trực tiếp: Bao gồm những hàng hóa dịch vụ do giá trị kinh tế mà RNM mang lại và có thể sử dụng trực tiếp như: gỗ, củi, thủy sản, mật ong hay giá trị du lịch, giải trí. (2) Giá trị sử dụng gián tiếp: Là những giá trị, lợi ích từ những dịch vụ do hệ sinh thái RNM mang lại và các chức năng sinh thái như: tuần hoàn dinh dưỡng, hấp thụ cacbon, điều hòa khí hậu. (3) Giá trị lựa chọn: Mang bản chất của những giá trị sử dụng trực tiếp hoặc giá trị sử dụng gián tiếp của RNM. Mặc dù, giá trị lựa chọn có thể sử dụng ở hiện tại nhưng chưa được sử dụng vì một lý do nào đó mà để lại sử dụng trong tương lai.

Ví dụ: Giá trị tạo cảnh quan, làm dược liệu. ♦ Giá trị phi sử dụng: Là những giá trị bản chất, nội tại của RNM và được phân thành giá trị tồn tại và giá trị lưu truyền, được định nghĩa như sau: (1) Giá trị tồn tại của RNM: Là giá trị nằm trong nhận thức, cảm nhận và sự thỏa mãn của cá nhân khi biết được các thuộc tính của RNM đang tồn tại ở một trạng thái nào đó và thường được đo bằng sự sẵn sàng chi trả của cá nhân để có được trạng thái đó. (2) Giá trị lưu truyền: Là sự thỏa mãn nằm trong cảm nhận của cá nhân khi biết rằng tài nguyên được lưu truyền và hưởng thụ bởi các thế hệ tương lai. Giá trị này cũng thường được đo bằng sự sẵn sàng chi trả của cá nhân để bảo tồn tài nguyên cho các thế hệ sau này.

Khi đánh giá giá trị kinh tế RNM, phần lớn các nhà nghiên cứu trước đây thừng thực hiện theo hai hướng chính là: (1) Sử dụng tài liệu thứ cấp, tài liệu sơ cấp, dựa trên ý kiến thảo luận các chuyên gia; (2) Thông qua kết quả khảo sát địa bàn, phỏng vấn các đối tượng có liên quan, và thường được áp dụng bằng bộ câu hỏi điều tra để xác định, phân tích các giá trị kinh tế. Các giá trị trực tiếp Theo Mai Trọng Nhuận và cộng sự (2000) cho rằng, giá trị kinh tế của 10 RNM tại vùng cửa sông Cửu Long có thể ước tính là 3.100 USD/ha/năm, gồm giá trị từ nguồn gỗ, củi… và giá trị gián tiếp là 3. Sản lượng tính toán theo lý thuyết phù hợp một cách hợp lý với số liệu về sản lượng đánh bắt và điều này có nghĩa là 1 ha diện tích RNM mang lại gần 700 kg sản lượng hải sản đánh bắt. Theo Dự án: “Định giá Kinh tế RNM Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh” (2000), giá trị trực tiếp của RNM hiện nay bao gồm: gỗ, củi, than, thủy sản, các loại lâm sản, thực phẩm, dược liệu, sinh vật hoang dã (Dơi, khỉ, rắn…), các loài nhuyễn thể, giáp sát (Sò huyết, dộp, nghêu, cua, tôm…).

Nghiên cứu rừng bần chua khu vực ven cửa biển tại ĐBSCL, Ngô Đình Quế và Võ Đại Hải (2012) nhận định rằng, nguồn lợi thủy sản của rừng Bần chua phong phú và dồi dào. Thủy hải sản vùng cửa sông ở Sóc Trăng có nhiều loài khác nhau và chúng xuất hiện theo mùa. Các sản phẩm bao gồm các loài cá như: cá Ngác, cá Quát, cá Bống sao, cua giống, cá Kèo, Nghêu, Sò huyết,… Cách thức đánh bắt cũng đa dạng, phù hợp cho từng giới và từng lứa tuổi. Đàn ông thì đánh bắt cá, phụ nữ và trẻ em bắt cua giống, cá Kèo, Nghêu, Sò huyết,… Nguồn lợi thủy sản mang lại thu nhập chính cho các hộ gia đình ở những vùng ven biển.

Đai rừng Bần chua phòng hộ góp phần tạo nên kinh tế sinh thái thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản ở vùng đệm. Rừng bần có vai trò như một máy lọc nước khổng lồ, góp phần làm sạch nước trước khi bơm vào ao nuôi và làm lắng đọng các chất thải từ ao nuôi xả ra. ♦ Giá trị trực tiếp tạo thu nhập của RNM Nghiên cứu của Uỷ ban Phát triển Quốc tế (Vương quốc Anh), việc tạo thu nhập hộ dân bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực, khả năng vốn có của con người và thu nhập là những giá trị thay đổi có lợi cho cộng đồng. Chính nhờ các chiến lược kinh tế hợp lý nên thu nhập của người dân được nâng lên, đời sống văn hoá, tinh thần, cuộc sống được cải thiện, ổn định hơn và giảm rủi ro, an ninh lương thực quốc gia được đảm bảo và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên 11 được sử dụng một cách bền vững hơn.

Việc xem xét và đánh giá tác động của RNM ở Việt Nam để tạo ra thu nhập bền vững cho người dân vùng RNM là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, không chỉ có ý nghĩa để đánh giá hiệu quả trước mắt mà còn để rút ra những bài học trong việc tạo ra những thu nhập ổn định, bền vững cho các hộ dân sống ven RNM. Nghiên cứu về tạo thu nhập cho các hộ dân có nhiều hướng tiếp cận khác nhau, một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước trước đây nghiên cứu về tạo thu nhập cho các hộ dân như: Nghiên cứu của Ellis (2000) về đa dạng hóa tạo thu nhập, nghiên cứu dựa trên phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững. Nghiên cứu sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững với 05 nguồn vốn cơ bản là vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn con người, vốn vật chất và vốn tài chính. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng vốn con người là minh chứng rõ nhất, như là chìa khóa của sự đa dạng hóa sinh kế thành công.

Nghiên cứu cũng đưa ra chính sách mà Chính phủ cần quan tâm như: cung cấp các dịch vụ về y tế, giáo dục và các kỹ năng phù hợp và có chất lượng tại khu vực nông thôn để tăng thu nhập cho các hộ dân.n Ellis (2000) khẳng định, các yếu tố tác động đến đa dạng hóa thu nhập như một hiện tượng đặc trưng cho chiến lược tồn tại hộ gia đình nông thôn nghèo tại các quốc gia đang phát triển, và cho rằng đa dạng hóa sinh kế là một vấn đề quan trọng cho các chính sách dài hạn liên quan đến công tác xóa đói giảm nghèo ở các nước đang phát triển có thu nhập thấp. Lợi ích của việc đa dạng hóa là một chiến lược để quản lý thời vụ, rủi ro và sự thất bại của thị trường; Ellis (2000) khẳng định các yếu tố quyết định của sự đa dạng hóa thu nhập như: Mùa vụ, rủi ro, thị trường lao động, thị trường tín dụng, chiến lược tài sản, hành vi ứng phó và thích ứng. Trong đó, mùa vụ có tác động đến động cơ đa dạng hoá thu nhập, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp. Lipton và Ravallion (1995) cho rằng do các rủi ro và thất bại thị trường phổ biến trong nền kinh tế nông thôn ở các nước đang phát triển có thu nhập thấp, các 12 hộ gia đình luôn gặp khó khăn trong chi tiêu sinh hoạt hằng ngày do bởi sinh kế, sinh tồn của người dân không được đảm bảo.

Bên cạnh đó, các rủi ro luôn gắn liền với các nguồn thu nhập không đồng đều. Vì lý do này, một động lực quan trọng đối với sự đa dạng hóa thu nhập gắn với mùa vụ là để làm giảm biến đổi thu nhập theo mùa. Điều này đòi hỏi thu nhập các chu kỳ theo mùa trong các cơ hội tạo thu nhập không được đồng bộ với các mùa riêng của nông nghiệp. Việc lựa chọn là di cư theo mùa tới các vùng nông nghiệp khác hoặc tham gia làm nghề phi nông nghiệp.

Rủi ro cũng được xem là động lực cơ bản để đa dạng hoá sinh kế. Các hộ gia đình đa dạng hoá thu nhập bằng danh mục đầu tư vào nhiều hoạt động khác nhau để giảm thiểu rủi ro, có một sự đánh đổi giữa tổng thu nhập cao hơn với xác suất thất bại lớn hơn và tổng thu nhập thấp hơn với xác suất thất bại thấp hơn. Trong danh mục đầu tư, Lipton và Ravallion (1995) khuyến khích đa dạng hoá thu nhập theo hướng phi nông nghiệp hơn là nông nghiệp vì có mối tương quan rủi ro thấp giữa các thành phần tạo thu nhập. Vai trò của thị trường lao động trong việc làm giảm các mối đe dọa mang tính chu kỳ và mất an ninh để xây dựng đời sống nông thôn.

Thị trường lao động cũng cung cấp các cơ hội tạo thu nhập phi nông nghiệp nhưng đòi hỏi về trình độ giáo dục, kỹ năng, vị trí, độ tuổi, số năm kinh nghiệm, giới tính. Hoạt động kém của thị trường tài chính nông thôn ở các nước đang phát triển làm cho các hộ gia đình nông thôn khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng (đầu vào) phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp như: Máy cày, máy bơm nước… đã làm ức chế sự gia tăng năng suất sản xuất nông nghiệp. Có nhiều lý do dẫn đến việc khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng như: Chi phí thành lập ngân hàng phục vụ khu vực nông thôn cao, khó tiếp cận đầy đủ thông tin khách hàng vay tiềm năng, nguy cơ phát sinh nợ xấu cao và thiếu tài sản thế chấp đảm bảo cho các khoản vay. Thất bại thị trường tín dụng lại là một động lực quan trọng để đa dạng hóa nguồn thu nhập của các hộ dân vùng nông thôn.

Các hộ dân có thể chủ động sử dụng các nguồn thu ngoài nông nghiệp để mua vật tư hay thiết bị nông nghiệp (Reardon và cộng sự, 1997).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ "Luận án Tiến sĩ Kinh tế Nông nghiệp: Đánh giá giá trị kinh tế sản phẩm rừng bần tại Đồng bằng Sông Cửu Long" của tác giả Đỗ Huy Bích và các cộng sự tại Trường Đại Học Nông Lâm, năm 2023, tập trung vào việc phân tích và đánh giá giá trị kinh tế của sản phẩm rừng bần trong bối cảnh phát triển nông nghiệp bền vững tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tiềm năng kinh tế của sản phẩm này mà còn chỉ ra những lợi ích mà nó mang lại cho cộng đồng địa phương và môi trường. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức tối ưu hóa giá trị kinh tế từ nguồn tài nguyên thiên nhiên này.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của kinh tế nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, có thể tham khảo thêm bài viết Luận Án Về Phân Tích Chuỗi Giá Trị và Hiệu Quả Sản Xuất Cá Tra Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi phân tích chuỗi giá trị trong sản xuất cá tra, một sản phẩm nông nghiệp quan trọng khác tại khu vực này. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ về nâng cao chất lượng và phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về sự phát triển bền vững trong ngành thủy sản, liên quan đến các sản phẩm từ tự nhiên. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về So sánh hiệu quả kinh tế kỹ thuật của mô hình nuôi lươn có bùn và mô hình nuôi lươn không bùn ở Cần Thơ, một nghiên cứu liên quan đến mô hình nuôi trồng thủy sản tại khu vực phía Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về các phương pháp và giá trị kinh tế trong nông nghiệp và thủy sản.