Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế (hướng kinh tế tài nguyên, môi trường và nông nghiệp) với đề tài "Đánh giá giá trị kinh tế của sản phẩm rừng bần tại đồng bằng sông Cửu Long" tập trung giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc lượng hóa giá trị kinh tế của hệ sinh thái rừng bần chua (Sonneratia caseolaris L.) tại vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Cây Bần chua (Sonneratia caseolaris L., thuộc họ Sonneratiaceae, nay chuyển sang họ Lythraceae) là loài cây phân bố tự nhiên và được gây trồng phổ biến ven sông, cửa biển và các bãi bồi ven biển ĐBSCL, nơi có độ mặn dao động từ 3‰ đến 20‰. Hệ sinh thái rừng bần đóng vai trò như một đai chắn sóng, hạn chế xói mòn, bảo vệ hệ thống đê bao ven bờ, đồng thời là môi trường sinh sống, cung cấp nguồn thức ăn và bãi đẻ cho nhiều loài thủy hải sản. Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB), với kịch bản nước biển dâng 1 m, Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng: khoảng 5% diện tích đất liền bị ngập, 11% dân số bị tác động, GDP suy giảm 10%, trong đó hơn 40.000 km² vùng ven biển và hải đảo bị đe dọa, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của hơn 17 triệu người dân ĐBSCL (Dasgupta và cộng sự, 2007).
Mặc dù có nhiều nghiên cứu về giá trị kinh tế của rừng ngập mặn (RNM) nói chung, phần lớn các công trình trước đây chỉ đánh giá trên phạm vi tổng hợp hoặc tập trung vào các loài cây ngập mặn khác như đước, mắm. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên biệt và có hệ thống nhằm định lượng các giá trị kinh tế trực tiếp và gián tiếp của riêng hệ sinh thái rừng bần ngập mặn thuần loại tại ĐBSCL. Sự thiếu hụt các dữ liệu kinh tế cụ thể về sản phẩm rừng bần dẫn đến việc quản lý, khai thác tài nguyên chưa hợp lý, thiếu cơ sở cho các hoạch định chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá giá trị kinh tế của sản phẩm rừng bần tại đồng bằng sông Cửu Long, từ đó đề xuất một số giải pháp làm tăng giá trị kinh tế của sản phẩm rừng bần.
- Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích, đánh giá thực trạng sản phẩm rừng bần tại đồng bằng sông Cửu Long.
- Đánh giá giá trị kinh tế của sản phẩm rừng bần tại đồng bằng sông Cửu Long.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng giá trị kinh tế của sản phẩm rừng bần tại đồng bằng sông Cửu Long.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án xây dựng và trả lời 03 câu hỏi nghiên cứu:
- Giá trị từ sản phẩm nào của rừng bần mang lại thu nhập cho hộ dân sống ven rừng bần?
- Các yếu tố nào tác động đến giá trị kinh tế của sản phẩm rừng bần?
- Giá trị kinh tế của sản phẩm rừng bần là bao nhiêu và sản phẩm nào của rừng bần có giá trị kinh tế cao?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Giá trị kinh tế của các sản phẩm vật chất và phi vật chất từ rừng bần tại vùng ĐBSCL.
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực địa tại 03 huyện có diện tích rừng bần lớn thuộc 02 tỉnh ven biển ĐBSCL: huyện Duyên Hải (tỉnh Trà Vinh), huyện Cù Lao Dung và huyện Trần Đề (tỉnh Sóc Trăng).
- Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu thứ cấp giai đoạn 2010 – 2019; số liệu sơ cấp được điều tra thực tế từ tháng 06/2018 đến tháng 12/2019.
- Phạm vi nội dung và giới hạn: Luận án tập trung đánh giá 03 nhóm giá trị kinh tế cốt lõi:
- Giá trị tạo thu nhập: Khai thác các sản phẩm thủy sản, trái bần chín và tiền nhận khoán bảo vệ rừng của các hộ dân sinh sống phụ thuộc chủ yếu vào rừng bần.
- Giá trị du lịch: Xác định thông qua chi phí du lịch của du khách đến các điểm tham quan rừng bần.
- Giá trị phòng hộ: Ước tính giá trị bảo vệ bờ biển, chắn sóng, gió bão dựa trên phương pháp chi phí thay thế (chi phí đầu tư xây dựng và bồi trúc đê bao tại những khu vực lân cận không có rừng bần).
Luận án không tính toán giá trị gỗ (do gỗ cây bần có giá trị kinh tế không đáng kể) và không hạch toán chi phí công lao động khai thác lâm sản ngoài gỗ (NTFP) do giới hạn về nguồn lực và thời gian.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trước đây
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các chủ đề:
-
Khung lý thuyết tổng giá trị kinh tế (TEV):
Luận án kế thừa cách phân loại của Turner (2003) và Nguyễn Hoàng Trí (2006). Theo đó, tổng giá trị kinh tế bao gồm Giá trị sử dụng (Use Value - UV) và Giá trị phi sử dụng (Non-Use Value - NUV). Giá trị sử dụng bao gồm Giá trị sử dụng trực tiếp (DUV), Giá trị sử dụng gián tiếp (IUV) và Giá trị lựa chọn (OV). Giá trị phi sử dụng bao gồm Giá trị tồn tại (EV) và Giá trị lưu truyền/thừa kế (BV).
-
Nghiên cứu về sinh kế và đa dạng hóa thu nhập nông hộ:
- Ellis (2000) tiếp cận khung phân tích sinh kế bền vững với 5 nguồn vốn (tự nhiên, xã hội, con người, vật chất, tài chính) và chỉ ra vốn con người là yếu tố then chốt giúp đa dạng hóa sinh kế, giảm thiểu rủi ro mùa vụ.
- Lipton và Ravallion (1995) nhấn mạnh rủi ro thị trường nông thôn thúc đẩy nông hộ đa dạng hóa sang các hoạt động phi nông nghiệp.
- Reardon và cộng sự (1992, 1997) phân tích vai trò của tiếp cận tín dụng, tài sản vật chất và đất tưới tiêu đối với thu nhập và đa dạng hóa sản xuất.
- Scoones (1998) phân loại các chiến lược tài sản và hành vi thích ứng của nông hộ khi đối mặt với cú sốc môi trường.
- Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam và quốc tế: Muhamad Israr (2010) tại Pakistan; Chu Thị Kim Loan và Nguyễn Văn Hướng (2015) khảo sát 80 nông hộ tại Thanh Hóa; Ngô Thị Phương Lan (2011) nghiên cứu thu nhập người Khơmer tại Trà Vinh và Bình Phước; Nguyễn Xuân Mai và Nguyễn Duy Thắng (2011) về ngư dân ven biển Thanh Hóa, Khánh Hòa, Sóc Trăng; Lê Duy Thường (2014) tại Thái Nguyên; Võ Văn Tuấn và Lê Cảnh Dũng (2015) sử dụng mô hình Tobit khảo sát 409 hộ tại 9 tỉnh ĐBSCL.
-
Nghiên cứu định lượng giá trị dịch vụ và hệ sinh thái RNM:
- Nghiên cứu quốc tế: Barbier và cộng sự (1997) ước tính giá trị phòng hộ bão lũ của 1 km² RNM đạt khoảng 1,6 triệu USD trong thời gian 20 năm. Mazda (1997) chứng minh dải rừng Trang (Kandelia obovata) rộng 1,5 km ở miền Bắc Việt Nam có khả năng làm giảm chiều cao sóng từ 1 m xuống còn 0,05 m (trong khi bờ biển không có rừng sóng còn 0,75 m). Donato và cộng sự (2011) cùng Bouillon và cộng sự (2008) chỉ ra trữ lượng cacbon của RNM cửa sông đạt trung bình 972 tấn C/ha và vùng biển đạt 792 tấn C/ha. Snedaker (1978) tính toán lượng lá rơi tại Florida là 10.000 kg khô/ha/năm; Ngô Đình Quế và Võ Đại Hải (2012) xác định rừng đước Cà Mau cung cấp 9.719,9 kg vật chất rơi/ha/năm (lá chiếm 79,71%, tương đương gần 8.000 kg khô/ha/năm).
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Mai Trọng Nhuận và cộng sự (2000) ước tính giá trị RNM cửa sông Cửu Long đạt 3.099,36 USD/ha/năm (gỗ củi chiếm 16,35 USD/ha/năm, 1 ha hỗ trợ 700 kg hải sản). Dự án định giá RNM Cần Giờ (2000) đánh giá 26.443 ha rừng trồng và 7.495 ha rừng tự nhiên mang lại giá trị kinh tế toàn phần gần 95 tỷ đồng/năm, thu từ du lịch và khoa học đạt 3,4 tỷ đồng/năm. Đinh Đức Trường (2009, 2014) định giá RNM Ba Lạt (Nam Định) đạt 88,619 tỷ đồng/năm. Ngô Văn Ngọc và cộng sự (2015) dùng phương pháp ITCM và CVM tại Khu bảo tồn Láng Sen (Long An) xác định tổng giá trị 1,844 tỷ đồng/năm. Trần Thị Thúy Hằng và Nguyễn Đức Thành (2012) định giá 4,2 ha RNM Rú Chá (Thừa Thiên Huế) đạt 1,250 tỷ đồng/năm (dùng OLS ước lượng WTP). Nguyễn Thị Hoài Thương và Hoàng Thị Huê (2018) định giá 327,03 ha RNM tại Tiền Hải (Thái Bình) đạt 69,504 tỷ đồng/năm.
Bảng tổng hợp các nghiên cứu định lượng giá trị kinh tế RNM tại Việt Nam
| Công trình nghiên cứu |
Địa bàn nghiên cứu |
Quy mô diện tích (ha) |
Tổng giá trị kinh tế ước tính |
Tỷ trọng Giá trị trực tiếp |
Tỷ trọng Giá trị gián tiếp |
Tỷ trọng Giá trị phi sử dụng |
| Dự án Cần Giờ (2000) |
Huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh |
33.938 ha (26.443 ha rừng trồng, 7.495 ha tự nhiên) |
~ 95 tỷ đồng/năm |
Chiếm tỷ trọng lớn (lâm sản, thủy sản, du lịch) |
Dịch vụ bồi lắng, chắn sóng, trữ nước |
Giá trị văn hóa, tín ngưỡng, thẩm mỹ |
| Đinh Đức Trường (2009) |
Cửa sông Ba Lạt, tỉnh Nam Định |
~ 7.100 ha |
88,619 tỷ đồng/năm |
81,709 tỷ đồng (92,20%) |
6,511 tỷ đồng (7,35%) |
0,399 tỷ đồng (0,45%) |
| Trần Thị Thúy Hằng & cs. (2012) |
RNM Rú Chá, Hương Trà, TT-Huế |
4,2 ha |
1,250 tỷ đồng/năm |
1,171 tỷ đồng (93,71%) |
46,786 triệu đồng (3,74%) |
31,831 triệu đồng (2,55%) |
| Ngô Văn Ngọc & cs. (2015) |
Đất ngập nước Láng Sen, Long An |
2.156 ha |
1,844 tỷ đồng/năm |
Cảnh quan giải trí: 0,478 tỷ đồng |
Lưu giữ cacbon: 1,256 tỷ đồng |
Tồn tại: 0,110 tỷ đồng (còn lại: 587,412 tỷ) |
| Nguyễn Thị Hoài Thương & cs. (2018) |
Xã Nam Hưng, Tiền Hải, Thái Bình |
327,03 ha |
69,504 tỷ đồng/năm |
68,974 tỷ đồng (99,20%) |
0,530 tỷ đồng (0,80% bao gồm cả gián tiếp & phi sử dụng) |
Gộp trong 0,80% |
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
- Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam hầu hết tiếp cận RNM nói chung, chưa có nghiên cứu chuyên sâu đánh giá riêng cho hệ sinh thái rừng bần ngập mặn thuần loại (nơi cây Bần chua chiếm trên 99% quần thể).
- Các nghiên cứu trước chủ yếu dừng lại ở việc tính toán thống kê sơ bộ, thiếu sự gắn kết giữa lượng hóa kinh tế với các giải pháp quản trị thực tế của từng địa phương.
- Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách thiết lập mô hình đánh giá tích hợp: lượng hóa thu nhập từ các sản phẩm đặc thù (nghêu giống, cá kèo giống, cua, trái bần chín, lương nhận khoán), thiết lập đường cầu du lịch sinh thái và áp dụng phương pháp chi phí thay thế đê bao nhằm định giá chức năng phòng hộ của đai rừng bần dài trên 30 km tại Trà Vinh và Sóc Trăng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng
- Rừng ngập mặn (RNM): Theo tiêu chuẩn của FAO (1994), RNM là quần hợp thực vật có tối thiểu 10% cây che phủ không phải cây nông nghiệp, hình thành ở vùng ven biển và cửa sông chịu tác động của thủy triều nhiệt đới và á nhiệt đới (Ngô Đình Quế và Võ Đại Hải, 2012).
- Rừng bần ngập mặn (RBNM): Là dạng RNM đặc thù mà trong đó loài Bần chua (Sonneratia caseolaris) chiếm trên 99% diện tích che phủ.
- Sản phẩm rừng bần: Toàn bộ những sản phẩm vật chất (thủy sản, trái bần chín...) và phi vật chất (dịch vụ giải trí cảnh quan, phòng hộ đê điều...) khai thác từ hệ sinh thái rừng bần và có thể quy đổi thành tiền.
- Khung Tổng giá trị kinh tế (TEV):
$$\text{TEV} = \text{UV} + \text{NUV} = (\text{DUV} + \text{IDUV} + \text{OV}) + (\text{EV} + \text{BV})$$
- Mô hình hóa Giá trị sử dụng trực tiếp (DUV):
$$f(\text{DUV}) = f(P, Q, C)$$
Đối với sản phẩm $i$, giá trị thực được xác lập theo công thức:
$$\text{DUV}_i = (P_i \times Q_i) - C_i$$
Trong đó: $P_i$ là giá thị trường của sản phẩm $i$; $Q_i$ là sản lượng thu hoạch; $C_i$ là chi phí để có được sản lượng đó.
- Mô hình hóa Giá trị sử dụng gián tiếp (IDUV): Xác lập dựa trên sự thay đổi trong sản xuất hoặc chi phí thiệt hại phòng tránh được:
$$\Delta p = \left(\frac{Q_{it}}{N} - Q_{it}\right) \times p_t$$
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp định tính và định lượng:
-
Phương pháp định tính:
- Tổng hợp, phân tích các tài liệu thứ cấp, văn bản chính sách (Quyết định 57/QĐ-TTg năm 2012, Quyết định 120/QĐ-TTg năm 2015, Nghị quyết 120/NQ-CP năm 2017).
- Phỏng vấn chuyên gia quản lý lâm nghiệp, kiểm lâm và chính quyền địa phương nhằm xác định danh mục sản phẩm và nhận diện cấu trúc giá trị kinh tế của rừng bần.
-
Phương pháp định lượng:
- Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Phỏng vấn trực tiếp các hộ dân sinh sống phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên ven rừng bần tại 03 huyện (Duyên Hải - Trà Vinh, Cù Lao Dung và Trần Đề - Sóc Trăng). Mẫu khảo sát tập trung vào các tiêu chí nhân khẩu học và kinh tế: độ tuổi, giới tính, dân tộc, quy mô nhân khẩu, trình độ học vấn chủ hộ, kinh nghiệm khai thác, quy mô diện tích đất khai thác, tiếp cận vốn vay ngân hàng, thu nhập trung bình theo từng loại sản phẩm.
- Phương pháp chi phí du hành (Travel Cost Method - TCM/ITCM): Thiết lập đường cầu du lịch dựa trên chi phí đi lại, thời gian và mức độ sẵn lòng chi trả của du khách đến các điểm du lịch sinh thái rừng bần tại huyện Cù Lao Dung.
- Phương pháp chi phí thay thế (Replacement Cost Method): Tính toán chi phí đầu tư xây dựng mới, duy tu và bồi trúc hệ thống đê bao chắn sóng kiên cố tại các khu vực lân cận không có rừng bần để ngoại suy giá trị phòng hộ giảm sóng của đai rừng bần dài trên 30 km.
- Kỹ thuật xử lý số liệu: Thống kê mô tả, phân tích hồi quy tương quan để xác định mức độ tác động của các biến số kinh tế - xã hội đến thu nhập hộ và giá trị sản phẩm rừng.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ niên giám thống kê, báo cáo tổng kết giai đoạn 2010 – 2019 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng, Hạt Kiểm lâm huyện Duyên Hải, Hạt Kiểm lâm Liên huyện Long Phú - Trần Đề - Cù Lao Dung; các báo cáo của Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình (WIP), Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ).
- Dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu điều tra bảng hỏi thực địa từ tháng 06/2018 đến tháng 12/2019 đối với các hộ gia đình khai thác thủy hải sản và lâm sản ngoài gỗ, khách du lịch và các cơ sở chế biến sản phẩm từ cây bần trên địa bàn khảo sát.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể của luận án. Tác giả nêu bật bối cảnh biến đổi khí hậu, hiện tượng nước biển dâng và nguy cơ ngập lụt tại ĐBSCL – nơi có 73.372,04 ha rừng ngập mặn (chiếm 50,5% diện tích RNM cả nước) giúp bảo vệ hơn 7.000 km đê biển và bờ bao ven sông. Cây Bần chua được xác định là loài cây tiên phong có bộ rễ khí sinh dày đặc, khả năng giữ đất, chắn sóng và bồi lắng phù sa. Chương này công bố mục tiêu nghiên cứu (01 mục tiêu tổng quát, 03 mục tiêu cụ thể), 03 câu hỏi nghiên cứu, phạm vi không gian (Trà Vinh, Sóc Trăng), thời gian (2010 – 2019) và kết cấu 05 chương của luận án.
Chương 2: Tổng quan tài liệu
Chương 2 trình bày tổng quan sâu rộng về lý thuyết tổng giá trị kinh tế (TEV), các khung lý thuyết sinh kế hộ nông dân và tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước. Đồng thời, chương này phân tích thực trạng các giá trị kinh tế của sản phẩm rừng bần tại địa bàn nghiên cứu:
- Thực trạng khai thác thủy hải sản:
- Nghêu giống: Xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 7 dương lịch với sản lượng hàng trăm tấn con giống mỗi năm, thu hút hàng nghìn lao động địa phương và các tỉnh lân cận (Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau), tạo doanh thu hàng chục tỷ đồng/năm.
- Cua giống, cua thịt và ba khía: Có từ 80 đến 120 người tham gia khai thác hàng ngày, thu nhập bình quân đạt 250.000 đồng/người/ngày. Riêng rừng bần huyện Cù Lao Dung mang lại tổng thu nhập khoảng 6,5 tỷ đồng/năm.
- Cá kèo giống: Xuất hiện vào tháng 6 – tháng 7 tại Cù Lao Dung với sản lượng khai thác từ 4 đến 6 tấn/năm, giá bán dao động từ 4 triệu đến 8 triệu đồng/kg, tổng thu nhập ước đạt khoảng 30 tỷ đồng/vụ.
- Trái bần chín: Mùa thu hoạch rơi vào tháng 5 – 6 và tháng 11 – 12. Cơ sở chế biến nước cốt bần Ngọc Hồng thu mua trái bần chín với giá 8.000 đồng/kg; một lao động thu hái bình quân được 50 kg trong vòng 2 đến 3 giờ, tạo thu nhập hàng trăm nghìn đồng/ngày.
- Thực trạng giá trị phòng hộ và bồi lắng phù sa: Ghi nhận tốc độ lấn biển tại 2 xã An Thạnh Nam và An Thạnh 3 (huyện Cù Lao Dung) giai đoạn 1965 – 2007 tăng 2.061,7 ha với tốc độ bình quân 48 ha/năm (Phạm Trọng Thịnh, 2011). Đai rừng bần dài trên 30 km tại Duyên Hải, Cù Lao Dung và Trần Đề giữ vai trò phòng hộ đê biển quan trọng.
- Tổng kết các hạn chế nghiên cứu trước: Luận án chỉ ra các nghiên cứu trước đây chưa có công trình nào đánh giá riêng biệt cho rừng bần, phương pháp lượng hóa còn đơn giản, thiếu kết nối với quản lý chính sách tại chỗ.
Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 chuẩn hóa các khái niệm khoa học (RNM, RBNM, sản phẩm rừng bần) và xây dựng khung phương pháp luận. Tác giả chi tiết hóa mô hình định giá kinh tế toàn phần (TEV), thiết lập công thức toán học tính toán DUV, IDUV. Thiết kế quy trình khảo sát bảng hỏi, quy định mẫu điều tra tập trung vào các hộ dân có thu nhập chính từ rừng bần. Quy định quy trình sử dụng phương pháp chi phí du hành cá nhân (ITCM) để tính thặng dư tiêu dùng từ dịch vụ cảnh quan và phương pháp chi phí thay thế công trình để tính giá trị phòng hộ của 30 km đai rừng.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 công bố và thảo luận các kết quả định lượng:
- Đánh giá chi tiết cơ cấu thu nhập của hộ gia đình ven rừng theo từng mùa vụ khai thác con giống (nghêu giống, cá kèo giống) và khai thác thường xuyên (cua, ba khía, trái bần chín, tiền nhận khoán).
- Xác định các nhân tố nhân khẩu học và kinh tế (trình độ học vấn, kinh nghiệm, vốn vay, quy mô đất khai thác) ảnh hưởng đến mức độ tạo thu nhập từ sản phẩm rừng bần.
- Lượng hóa thặng dư kinh tế từ hoạt động du lịch sinh thái tại điểm du lịch rừng bần Cù Lao Dung.
- Tính toán tổng giá trị phòng hộ đê biển quy đổi theo chi phí xây dựng và duy tu đê bao nhân tạo tương đương.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Chương 5 tổng kết các kết quả định giá, khẳng định giá trị kinh tế của hệ sinh thái rừng bần đóng góp lớn vào sinh kế cộng đồng và an ninh đê điều tại ĐBSCL. Đưa ra hệ thống khuyến nghị chính sách về phân cấp quản lý rừng, mở rộng chuỗi giá trị chế biến trái bần chín, hoàn thiện cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng và đầu tư hạ tầng du lịch sinh thái bền vững.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Hệ thống hóa toàn diện 04 chức năng sinh thái của hệ sinh thái rừng bần: Luận án hệ thống hóa cơ sở khoa học về các chức năng cung cấp (thủy sản, trái bần), hỗ trợ (bãi đẻ, đa dạng sinh học), điều tiết (lọc nước, bồi lắng phù sa, hấp thụ cacbon, chắn sóng) và văn hóa (du lịch sinh thái, giáo dục môi trường) của rừng bần tại ĐBSCL.
- Xây dựng khung mô hình định lượng chuyên biệt cho rừng bần: Lần đầu tiên tại Việt Nam, một mô hình định lượng giá trị kinh tế tích hợp được thiết lập riêng cho hệ sinh thái rừng bần ngập mặn thuần loại (Sonneratia caseolaris > 99%), kết hợp giữa mô hình hóa thu nhập nông hộ, đường cầu du lịch và phương pháp chi phí thay thế công trình phòng hộ.
- Chứng minh mối tương quan thực nghiệm: Luận án xác lập mối liên hệ định lượng giữa việc đa dạng hóa sản phẩm khai thác từ rừng bần với việc nâng cao thu nhập, giảm thiểu rủi ro sinh kế cho hộ dân nghèo ven biển trong điều kiện biến đổi khí hậu.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Lượng hóa tiềm năng kinh tế thực tế của các sản phẩm rừng bần: Cung cấp các số liệu thực chứng cụ thể về nguồn lợi thủy sản theo mùa vụ (vụ cá kèo giống đạt 30 tỷ đồng/vụ; nghêu giống đạt hàng chục tỷ đồng; cua, ba khía đạt 6,5 tỷ đồng/năm tại Cù Lao Dung; giá trị thu hái trái bần chín đạt 8.000 đồng/kg).
- Cung cấp căn cứ khoa học cho quản lý và bảo tồn: Đưa ra cơ sở dữ liệu giúp các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng) xây dựng phương án giao khoán bảo vệ rừng, khai thác bền vững lâm sản ngoài gỗ gắn với bảo tồn đa dạng sinh học.
- Cơ sở thực thi các chính sách phát triển bền vững ĐBSCL: Cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ triển khai Quyết định 57/QĐ-TTg, Quyết định 120/QĐ-TTg và Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất của luận án
- Hoàn thiện và mở rộng chính sách giao khoán bảo vệ rừng bần, nâng mức hỗ trợ nhận khoán để đảm bảo sinh kế cho người dân địa phương.
- Quy hoạch và quản lý việc khai thác con giống tự nhiên (nghêu giống, cá kèo giống) theo mùa vụ nhằm tránh khai thác tận diệt.
- Hỗ trợ phát triển và liên kết chuỗi giá trị chế biến các sản phẩm từ trái bần chín (như cơ sở sản xuất nước cốt bần), tạo đầu ra ổn định cho người dân thu hái.
- Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông và quảng bá du lịch sinh thái rừng bần tại huyện Cù Lao Dung.
- Tích hợp giá trị phòng hộ của rừng bần vào quy hoạch đê điều và các dự án thích ứng biến đổi khí hậu ven biển.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
Theo công bố của tác giả trong văn bản, luận án tồn tại một số hạn chế do nguồn lực và thời gian:
- Luận án mới tập trung nghiên cứu sâu vào 03 nhóm giá trị cốt lõi: giá trị tạo thu nhập từ khai thác sản phẩm, giá trị du lịch và giá trị phòng hộ đê biển; chưa định lượng đầy đủ các giá trị kinh tế khác như giá trị lưu giữ cacbon, giá trị điều tiết nước ngầm và các giá trị phi sử dụng.
- Việc tính toán thu nhập từ sản phẩm rừng bần chưa khấu trừ chi phí công lao động thu hái tự nhiên (chi phí NTFP) mà mới chỉ tính toán trên tổng doanh thu/thu nhập nhận được.
- Giá trị gỗ không được đưa vào hạch toán do đặc thù cây bần phân cành nhiều, dạng bụi phức hợp và không có giá trị thương phẩm gỗ cao trên thị trường.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng nghiên cứu định lượng các giá trị gián tiếp và phi sử dụng còn lại của rừng bần, đặc biệt là khả năng hấp thụ và lưu trữ cacbon theo cơ chế tín chỉ cacbon.
- Hoàn thiện phương pháp hạch toán chi phí cơ hội và chi phí lao động thu hái lâm sản ngoài gỗ (NTFP).
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các địa bàn ven biển khác tại ĐBSCL có hệ sinh thái rừng bần phân bố như Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang.
Giá trị tham khảo
Đối tượng thụ hưởng
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp, Kinh tế Tài nguyên và Môi trường, Quản lý Rừng và Lâm nghiệp đô thị, Quản trị Phát triển Nông thôn.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu: Dùng làm tài liệu tham khảo cho các môn học Định giá tài nguyên môi trường, Kinh tế sinh thái và Sinh kế bền vững.
- Nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm, Ban quản lý rừng phòng hộ, UBND các huyện ven biển tại ĐBSCL.
Các nội dung đáng tham khảo
- Khung phương pháp luận kết hợp giữa tiếp cận sinh kế bền vững (Ellis, Scoones) và khung Tổng giá trị kinh tế (TEV) áp dụng cho hệ sinh thái rừng thuần loại.
- Phương pháp điều tra xã hội học và thiết kế bảng hỏi thu thập thông tin thu nhập theo mùa vụ đối với nguồn lợi thủy sản vùng cửa sông.
- Mô hình ứng dụng phương pháp chi phí thay thế để lượng hóa giá trị phòng hộ đê biển của dải rừng ngập mặn.
Câu hỏi thường gặp
1. Đặc điểm sinh thái của cây Bần chua và rừng bần tại đồng bằng sông Cửu Long là gì?
Cây Bần chua (Sonneratia caseolaris L., họ Lythraceae) là loài cây mọc tự nhiên và được gây trồng ven sông, cửa biển trên các bãi bồi ĐBSCL với độ mặn từ 3‰ đến 20‰. Cây có kích thước lớn, hệ thống rễ khí sinh chằng chịt giúp bồi tụ phù sa (mở rộng đất từ 50 đến 80 m/năm tại Cù Lao Dung), giảm chiều cao sóng biển và hạn chế xói mòn bờ sông, bờ biển.
2. Những sản phẩm cụ thể nào từ rừng bần mang lại nguồn thu nhập lớn nhất cho người dân địa phương?
Nguồn thu nhập chính của các hộ dân ven rừng bần bao gồm: khai thác nghêu giống (vào tháng 5 – 7, đạt hàng trăm tấn/năm, doanh thu hàng chục tỷ đồng); khai thác cá kèo giống (vào tháng 6 – 7 tại Cù Lao Dung, sản lượng 4 – 6 tấn/năm, doanh thu khoảng 30 tỷ đồng/vụ); khai thác cua giống, cua thịt, ba khía (80 – 120 người/ngày, thu nhập 250.000 đồng/người/ngày, tổng thu khoảng 6,5 tỷ đồng/năm); thu hái trái bần chín cung cấp cho các cơ sở chế biến nước cốt bần (thu mua giá 8.000 đồng/kg) và tiền nhận khoán bảo vệ rừng từ Nhà nước.
3. Phương pháp nào được luận án sử dụng để định giá chức năng phòng hộ của đai rừng bần?
Luận án sử dụng phương pháp chi phí thay thế (Replacement Cost Method). Giá trị phòng hộ của đai rừng bần dài trên 30 km tại Duyên Hải (Trà Vinh), Trần Đề và Cù Lao Dung (Sóc Trăng) được ước lượng thông qua chi phí đầu tư xây dựng, duy tu và bồi trúc hệ thống đê kè nhân tạo ngăn sóng biển, gió, bão tại những khu vực lân cận không có rừng bần bảo vệ.
4. Kết quả nghiên cứu của các công trình trước đây về giá trị kinh tế RNM tại Việt Nam được luận án tổng kết ra sao?
Các công trình trước đây cho thấy giá trị sử dụng trực tiếp luôn chiếm tỷ trọng áp đảo: RNM Cần Giờ đạt gần 95 tỷ đồng/năm; RNM Ba Lạt (Nam Định) đạt 88,619 tỷ đồng/năm (trực tiếp chiếm 92,20%); RNM Rú Chá (Thừa Thiên Huế) đạt 1,250 tỷ đồng/năm (trực tiếp chiếm 93,71%); RNM Tiền Hải (Thái Bình) đạt 69,504 tỷ đồng/năm (trực tiếp chiếm 99,20%). Hầu hết các nghiên cứu chưa đi sâu lượng hóa đầy đủ giá trị gián tiếp và giá trị phi sử dụng.
5. Những yếu tố kinh tế - xã hội nào tác động đến thu nhập và đa dạng hóa sinh kế của hộ dân ven rừng?
Dựa trên cơ sở lý thuyết của Ellis (2000), Scoones (1998) và các kiểm định thực nghiệm, các yếu tố tác động chính bao gồm: nguồn vốn con người (trình độ học vấn của chủ hộ và các thành viên, kinh nghiệm khai thác), nguồn vốn tự nhiên (quy mô và vị trí bãi bồi khai thác), nguồn vốn vật chất và tài chính (khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng, phương tiện đánh bắt) và các yếu tố mùa vụ xuất hiện của các loài thủy hải sản tự nhiên.
Kết luận
Luận án "Đánh giá giá trị kinh tế của sản phẩm rừng bần tại đồng bằng sông Cửu Long" là công trình nghiên cứu kinh tế môi trường chuyên biệt đầu tiên lượng hóa có hệ thống các giá trị của hệ sinh thái rừng bần ngập mặn thuần loại tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp khảo sát thực địa xã hội học, phương pháp chi phí du hành và phương pháp chi phí thay thế, luận án đã xác lập căn cứ khoa học vững chắc về giá trị tạo thu nhập sinh kế, giá trị dịch vụ du lịch và giá trị phòng hộ đê biển của rừng bần tại Trà Vinh và Sóc Trăng. Kết quả nghiên cứu không chỉ bổ sung cơ sở lý luận cho kinh tế tài nguyên rừng ngập mặn mà còn cung cấp luận cứ thực tiễn trực tiếp cho các nhà hoạch định chính sách trong công tác quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững dải rừng ven biển ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu.