Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan tài liệu Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các nghiên cứu về giá trị kinh tế của rừng ngập mặn Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây đã phân tích, đánh giá các khía cạnh khác nhau về tổng giá trị kinh tế của RNM, bao gồm hai nhóm giá trị cơ bản, đó là: giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Nguồn: Turner, năm 2003 Hình 2. Tổng giá trị kinh tế của RNM Giá trị kinh tế của RNM được Turner (2003) phân thành giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng, cụ thể như sau: ♦ Giá trị sử dụng: Là những hàng hóa và dịch vụ sinh thái mà RNM cung cấp cho con người và các hệ thống kinh tế, được phân thành 3 nhóm: (1) Giá trị sử dụng trực tiếp, (2) Giá trị sử dụng gián tiếp, (3) Giá trị lựa chọn.
Các giá trị được định nghĩa như sau: 9 (1) Giá trị sử dụng trực tiếp: Bao gồm những hàng hóa dịch vụ do giá trị kinh tế mà RNM mang lại và có thể sử dụng trực tiếp như: gỗ, củi, thủy sản, mật ong hay giá trị du lịch, giải trí. (2) Giá trị sử dụng gián tiếp: Là những giá trị, lợi ích từ những dịch vụ do hệ sinh thái RNM mang lại và các chức năng sinh thái như: tuần hoàn dinh dưỡng, hấp thụ cacbon, điều hòa khí hậu. (3) Giá trị lựa chọn: Mang bản chất của những giá trị sử dụng trực tiếp hoặc giá trị sử dụng gián tiếp của RNM. Mặc dù, giá trị lựa chọn có thể sử dụng ở hiện tại nhưng chưa được sử dụng vì một lý do nào đó mà để lại sử dụng trong tương lai.
Ví dụ: Giá trị tạo cảnh quan, làm dược liệu. ♦ Giá trị phi sử dụng: Là những giá trị bản chất, nội tại của RNM và được phân thành giá trị tồn tại và giá trị lưu truyền, được định nghĩa như sau: (1) Giá trị tồn tại của RNM: Là giá trị nằm trong nhận thức, cảm nhận và sự thỏa mãn của cá nhân khi biết được các thuộc tính của RNM đang tồn tại ở một trạng thái nào đó và thường được đo bằng sự sẵn sàng chi trả của cá nhân để có được trạng thái đó. (2) Giá trị lưu truyền: Là sự thỏa mãn nằm trong cảm nhận của cá nhân khi biết rằng tài nguyên được lưu truyền và hưởng thụ bởi các thế hệ tương lai. Giá trị này cũng thường được đo bằng sự sẵn sàng chi trả của cá nhân để bảo tồn tài nguyên cho các thế hệ sau này.
Khi đánh giá giá trị kinh tế RNM, phần lớn các nhà nghiên cứu trước đây thừng thực hiện theo hai hướng chính là: (1) Sử dụng tài liệu thứ cấp, tài liệu sơ cấp, dựa trên ý kiến thảo luận các chuyên gia; (2) Thông qua kết quả khảo sát địa bàn, phỏng vấn các đối tượng có liên quan, và thường được áp dụng bằng bộ câu hỏi điều tra để xác định, phân tích các giá trị kinh tế. Các giá trị trực tiếp Theo Mai Trọng Nhuận và cộng sự (2000) cho rằng, giá trị kinh tế của 10 RNM tại vùng cửa sông Cửu Long có thể ước tính là 3.100 USD/ha/năm, gồm giá trị từ nguồn gỗ, củi… và giá trị gián tiếp là 3. Sản lượng tính toán theo lý thuyết phù hợp một cách hợp lý với số liệu về sản lượng đánh bắt và điều này có nghĩa là 1 ha diện tích RNM mang lại gần 700 kg sản lượng hải sản đánh bắt. Theo Dự án: “Định giá Kinh tế RNM Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh” (2000), giá trị trực tiếp của RNM hiện nay bao gồm: gỗ, củi, than, thủy sản, các loại lâm sản, thực phẩm, dược liệu, sinh vật hoang dã (Dơi, khỉ, rắn…), các loài nhuyễn thể, giáp sát (Sò huyết, dộp, nghêu, cua, tôm…).
Nghiên cứu rừng bần chua khu vực ven cửa biển tại ĐBSCL, Ngô Đình Quế và Võ Đại Hải (2012) nhận định rằng, nguồn lợi thủy sản của rừng Bần chua phong phú và dồi dào. Thủy hải sản vùng cửa sông ở Sóc Trăng có nhiều loài khác nhau và chúng xuất hiện theo mùa. Các sản phẩm bao gồm các loài cá như: cá Ngác, cá Quát, cá Bống sao, cua giống, cá Kèo, Nghêu, Sò huyết,… Cách thức đánh bắt cũng đa dạng, phù hợp cho từng giới và từng lứa tuổi. Đàn ông thì đánh bắt cá, phụ nữ và trẻ em bắt cua giống, cá Kèo, Nghêu, Sò huyết,… Nguồn lợi thủy sản mang lại thu nhập chính cho các hộ gia đình ở những vùng ven biển.
Đai rừng Bần chua phòng hộ góp phần tạo nên kinh tế sinh thái thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản ở vùng đệm. Rừng bần có vai trò như một máy lọc nước khổng lồ, góp phần làm sạch nước trước khi bơm vào ao nuôi và làm lắng đọng các chất thải từ ao nuôi xả ra. ♦ Giá trị trực tiếp tạo thu nhập của RNM Nghiên cứu của Uỷ ban Phát triển Quốc tế (Vương quốc Anh), việc tạo thu nhập hộ dân bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực, khả năng vốn có của con người và thu nhập là những giá trị thay đổi có lợi cho cộng đồng. Chính nhờ các chiến lược kinh tế hợp lý nên thu nhập của người dân được nâng lên, đời sống văn hoá, tinh thần, cuộc sống được cải thiện, ổn định hơn và giảm rủi ro, an ninh lương thực quốc gia được đảm bảo và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên 11 được sử dụng một cách bền vững hơn.
Việc xem xét và đánh giá tác động của RNM ở Việt Nam để tạo ra thu nhập bền vững cho người dân vùng RNM là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, không chỉ có ý nghĩa để đánh giá hiệu quả trước mắt mà còn để rút ra những bài học trong việc tạo ra những thu nhập ổn định, bền vững cho các hộ dân sống ven RNM. Nghiên cứu về tạo thu nhập cho các hộ dân có nhiều hướng tiếp cận khác nhau, một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước trước đây nghiên cứu về tạo thu nhập cho các hộ dân như: Nghiên cứu của Ellis (2000) về đa dạng hóa tạo thu nhập, nghiên cứu dựa trên phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững. Nghiên cứu sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững với 05 nguồn vốn cơ bản là vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn con người, vốn vật chất và vốn tài chính. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng vốn con người là minh chứng rõ nhất, như là chìa khóa của sự đa dạng hóa sinh kế thành công.
Nghiên cứu cũng đưa ra chính sách mà Chính phủ cần quan tâm như: cung cấp các dịch vụ về y tế, giáo dục và các kỹ năng phù hợp và có chất lượng tại khu vực nông thôn để tăng thu nhập cho các hộ dân.n Ellis (2000) khẳng định, các yếu tố tác động đến đa dạng hóa thu nhập như một hiện tượng đặc trưng cho chiến lược tồn tại hộ gia đình nông thôn nghèo tại các quốc gia đang phát triển, và cho rằng đa dạng hóa sinh kế là một vấn đề quan trọng cho các chính sách dài hạn liên quan đến công tác xóa đói giảm nghèo ở các nước đang phát triển có thu nhập thấp. Lợi ích của việc đa dạng hóa là một chiến lược để quản lý thời vụ, rủi ro và sự thất bại của thị trường; Ellis (2000) khẳng định các yếu tố quyết định của sự đa dạng hóa thu nhập như: Mùa vụ, rủi ro, thị trường lao động, thị trường tín dụng, chiến lược tài sản, hành vi ứng phó và thích ứng. Trong đó, mùa vụ có tác động đến động cơ đa dạng hoá thu nhập, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp. Lipton và Ravallion (1995) cho rằng do các rủi ro và thất bại thị trường phổ biến trong nền kinh tế nông thôn ở các nước đang phát triển có thu nhập thấp, các 12 hộ gia đình luôn gặp khó khăn trong chi tiêu sinh hoạt hằng ngày do bởi sinh kế, sinh tồn của người dân không được đảm bảo.
Bên cạnh đó, các rủi ro luôn gắn liền với các nguồn thu nhập không đồng đều. Vì lý do này, một động lực quan trọng đối với sự đa dạng hóa thu nhập gắn với mùa vụ là để làm giảm biến đổi thu nhập theo mùa. Điều này đòi hỏi thu nhập các chu kỳ theo mùa trong các cơ hội tạo thu nhập không được đồng bộ với các mùa riêng của nông nghiệp. Việc lựa chọn là di cư theo mùa tới các vùng nông nghiệp khác hoặc tham gia làm nghề phi nông nghiệp.
Rủi ro cũng được xem là động lực cơ bản để đa dạng hoá sinh kế. Các hộ gia đình đa dạng hoá thu nhập bằng danh mục đầu tư vào nhiều hoạt động khác nhau để giảm thiểu rủi ro, có một sự đánh đổi giữa tổng thu nhập cao hơn với xác suất thất bại lớn hơn và tổng thu nhập thấp hơn với xác suất thất bại thấp hơn. Trong danh mục đầu tư, Lipton và Ravallion (1995) khuyến khích đa dạng hoá thu nhập theo hướng phi nông nghiệp hơn là nông nghiệp vì có mối tương quan rủi ro thấp giữa các thành phần tạo thu nhập. Vai trò của thị trường lao động trong việc làm giảm các mối đe dọa mang tính chu kỳ và mất an ninh để xây dựng đời sống nông thôn.
Thị trường lao động cũng cung cấp các cơ hội tạo thu nhập phi nông nghiệp nhưng đòi hỏi về trình độ giáo dục, kỹ năng, vị trí, độ tuổi, số năm kinh nghiệm, giới tính. Hoạt động kém của thị trường tài chính nông thôn ở các nước đang phát triển làm cho các hộ gia đình nông thôn khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng (đầu vào) phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp như: Máy cày, máy bơm nước… đã làm ức chế sự gia tăng năng suất sản xuất nông nghiệp. Có nhiều lý do dẫn đến việc khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng như: Chi phí thành lập ngân hàng phục vụ khu vực nông thôn cao, khó tiếp cận đầy đủ thông tin khách hàng vay tiềm năng, nguy cơ phát sinh nợ xấu cao và thiếu tài sản thế chấp đảm bảo cho các khoản vay. Thất bại thị trường tín dụng lại là một động lực quan trọng để đa dạng hóa nguồn thu nhập của các hộ dân vùng nông thôn.
Các hộ dân có thể chủ động sử dụng các nguồn thu ngoài nông nghiệp để mua vật tư hay thiết bị nông nghiệp (Reardon và cộng sự, 1997).