Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp tại Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng nhanh chóng. Theo số liệu của Cục Chăn nuôi (2020), tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi năm 2020 đạt 20 triệu tấn, trong đó thức ăn cho lợn chiếm 45% (khoảng 9 triệu tấn). Tuy nhiên, ngành sản xuất thức ăn phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu (lên tới 80%), điển hình là năm 2020 cả nước nhập khẩu 19,6 triệu tấn nguyên liệu trị giá 5,7 tỷ USD, riêng nhóm nguyên liệu giàu năng lượng chiếm 11,4 triệu tấn (2,3 tỷ USD) và nhóm giàu đạm chiếm 7,5 triệu tấn (2,55 tỷ USD). Theo số liệu của Tổng cục Hải quan (2017) và USDA (2018), hàng năm Việt Nam phải chi khoảng 1,51 tỷ USD để nhập khẩu trên 7,7 triệu tấn ngô hạt phục vụ chế biến thức ăn chăn nuôi.
Trái ngược với tình trạng nhập siêu ngô hạt, Việt Nam là quốc gia sản xuất lúa gạo trọng điểm, với diện tích gieo trồng đạt khoảng 7,55 đến 7,8 triệu hecta và sản lượng thóc hàng năm dao động từ 42,7 đến 45,7 triệu tấn (Quan Tran, 2019; Tổng cục Thống kê, 2020). Sau khi cân đối nhu cầu tiêu dùng nội địa của 96 triệu dân (khoảng 19,2 triệu tấn gạo, tương đương 30,72 triệu tấn thóc) và xuất khẩu khoảng 5,89 - 6,0 triệu tấn gạo (tương đương 9,6 triệu tấn thóc), lượng thóc dư thừa hàng năm ước tính khoảng 5 triệu tấn (Megan & Quan Tran, 2018). Tình trạng dư thừa thóc cục bộ dẫn đến việc Nhà nước phải chi ngân sách thu mua tạm trữ để giữ giá lúa.
Về mặt giá trị dinh dưỡng, gạo lật và gạo tấm có hàm lượng tinh bột cao, chất xơ thấp, tỷ lệ tiêu hóa axit amin vượt trên 90% (cao hơn so với 80,1% ở ngô) và mức độ nhiễm độc tố nấm mốc (aflatoxin B1, zearalenone, deoxynivalenol) thấp hơn đáng kể so với ngô (Stein & cs., 2001; Dadalt & cs., 2016; Ma & cs., 2018). Mặc dù vậy, các nghiên cứu và ứng dụng nguồn lúa gạo, gạo lật và gạo tấm trong khẩu phần thức ăn công nghiệp cho từng đối tượng lợn (lợn con theo mẹ, lợn thịt và lợn nái nuôi con) tại Việt Nam trước đây còn rất hạn chế và chưa có tính hệ thống. Việc thực hiện luận án nhằm giải quyết bài toán tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước để thay thế một phần ngô nhập khẩu.
Mục tiêu nghiên cứu
Văn bản luận án xác định mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Đánh giá khả năng sử dụng gạo lật và gạo tấm thay thế ngô làm thức ăn cho lợn.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá khả năng sử dụng gạo lật thay thế ngô làm thức ăn cho lợn con theo mẹ.
- Đánh giá khả năng sử dụng gạo tấm thay thế ngô làm thức ăn cho lợn thịt và lợn nái nuôi con.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
- Nguyên liệu thức ăn: Gạo lật của các giống lúa thuần, lúa lai cao sản trồng phổ biến tại miền Bắc và giống IR50404 trồng tại Đồng bằng sông Cửu Long; gạo tấm thu thập từ các doanh nghiệp chế biến; ngô hạt.
- Gia súc thí nghiệm: Lợn con lai 4 giống $\text{PiDu} \times (\text{LY})$ giai đoạn theo mẹ từ 4 đến 23 ngày tuổi; lợn đực thiến nuôi thịt thương phẩm lai 3 giống $\text{Du} \times (\text{LY})$ từ 68 ngày tuổi; lợn nái lai 2 giống $\text{L} \times \text{Y}$ giai đoạn nuôi con 24 ngày.
- Phạm vi không gian: Phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS), Công ty TNHH MTV lợn giống Lạc Vệ, Công ty TNHH lợn giống hạt nhân DABACO thuộc Công ty Cổ phần Tập đoàn DABACO Việt Nam; Phòng Phân tích Trung tâm và Bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn (Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam); Trung tâm Khảo, kiểm nghiệm và kiểm định giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi (Cục Chăn nuôi).
- Phạm vi thời gian: Các nghiên cứu và thí nghiệm được triển khai trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đặc tính dinh dưỡng của ngũ cốc và việc ứng dụng lúa gạo trong chăn nuôi lợn:
-
Về đặc tính hóa học và giá trị năng lượng của ngũ cốc:
- Donald & cs. (2002), Nobles & Perez (1993), Sauvant & cs. (2004), NRC (2012) xác lập cơ sở lý thuyết về các dạng năng lượng (GE, DE, ME, NE) và phương trình hồi quy ước tính giá trị năng lượng từ thành phần hóa học (protein thô, lipit, xơ thô, tro, tinh bột, ADF, NDF).
- Stein & cs. (2010), Tokach & cs. (2011), Batal & cs. (2010), Adm (2016), Premier Nutrition (2014) cung cấp các chỉ tiêu so sánh dinh dưỡng giữa ngô, lúa mì, cao lương, thóc, gạo lật và gạo tấm.
- Piao & cs. (2002) phân tích thành phần axit béo và chỉ ra rằng gạo lật có tỷ lệ axit béo chưa no/no (USFA/SFA = 0,4512) thấp hơn ngô (0,6936), giúp cải thiện độ cứng mỡ thân thịt.
-
Về nghiên cứu sử dụng lúa gạo ở nước ngoài:
- Li & cs. (2002, 2006) thử nghiệm thay thế ngô bằng gạo lật cho lợn con sau cai sữa, ghi nhận chất lượng protein, tỷ lệ protein thuần sử dụng (NPU = 54,9% so với ngô 47,8%) và ME cao hơn ngô.
- Kim & cs. (2005) nghiên cứu sử dụng 100% gạo lật nghiền cho lợn thịt giai đoạn 25 - 106 kg, ghi nhận tăng trọng 0,85 kg/ngày và FCR đạt 2,89.
- Lerdsuwon & Attamangkune (2008), Menoyo & cs. (2008), Vicente & cs. (2008) đánh giá gạo tấm cho lợn sinh trưởng, chứng minh tinh bột gạo mịn hơn ngô, hàm lượng amylose thấp, ít phức lipit-amylose, kích thích men tiêu hóa và giảm tiết chất điện giải trong ruột.
- Che & cs. (2012) thay thế 50%, 75% và 100% ngô bằng gạo cho lợn con 21 ngày tuổi không dùng kháng sinh, ghi nhận giảm tỷ lệ chết.
- Dadalt & cs. (2016) và Schirmann & cs. (2018) xác định năng lượng DE, ME, NE của gạo tấm trên lợn; Casas & Stein (2015) xác định tỷ lệ phân bố phốt pho phytase trong ngô, gạo lật và gạo tấm.
- Lewis & Southern (2000) đưa ra khuyến cáo mức sử dụng gạo tấm 30% trong khẩu phần cho lợn thịt và lợn nái nuôi con.
-
Về tình hình nghiên cứu tại Việt Nam:
- Nguyễn Thị Mai (2001), Trần Quốc Việt & Ninh Thị Len (2004), Trần Thanh Vân & cs. (2009) khảo sát sử dụng thóc, gạo lật và tấm trên gia cầm (gà thịt, gà đẻ, vịt đẻ).
- Trần Quốc Việt & cs. (2015) đánh giá giá trị dinh dưỡng của thóc và gạo lật cho lợn.
- Lê Văn Huyên (2017) khảo sát gạo lật thay ngô cho lợn con sau cai sữa và lợn thịt, thóc thay ngô cho lợn nái chửa và nuôi con.
- Chu Kỳ Sơn & cs. (2019) nghiên cứu tỷ lệ Ca, P tối ưu khi sử dụng 50% gạo tấm trong khẩu phần lợn nái Landrace cấp giống ông bà.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu đơn lẻ, các dữ liệu về thành phần hóa học và giá trị năng lượng thuần (NE) của gạo lật từ các giống lúa cao sản mới tại Việt Nam còn thiếu hụt. Việc sử dụng gạo lật trong thức ăn tập ăn giai đoạn theo mẹ (4 - 23 ngày tuổi) của tổ hợp lai $\text{PiDu} \times (\text{LY})$, cũng như đánh giá toàn diện ảnh hưởng của gạo tấm thay thế ngô theo các tỷ lệ (25%, 50%, 75%) lên lợn thịt thương phẩm và lợn nái $\text{L} \times \text{Y}$ nuôi con chưa được nghiên cứu đồng bộ. Luận án giải quyết khoảng trống này nhằm hoàn thiện quy trình dinh dưỡng ứng dụng nguyên liệu lúa gạo trong nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Hệ thống đánh giá năng lượng thức ăn ở lợn: Dựa trên mô hình chuyển hóa năng lượng của NRC (2012):
$$\text{Năng lượng thô (GE)} \xrightarrow{-\text{Năng lượng phân (FE)}} \text{Năng lượng tiêu hóa (DE)} \xrightarrow{-(\text{NL nước tiểu + NL khí lên men})} \text{Năng lượng trao đổi (ME)} \xrightarrow{-\text{Nhiệt gia tăng (HI)}} \text{Năng lượng thuần (NE)}$$
- Phương trình hồi quy ước tính năng lượng:
- Năng lượng tiêu hóa (Nobles & Perez, 1993):
$$\text{DE (kcal/kg VCK)} = 4168 - 12,2 \times %\text{tro thô} + 4,1 \times %\text{lipit thô} + 2,3 \times %\text{protein thô} - 6,1 \times %\text{xơ thô}$$
- Tỷ lệ chuyển đổi ME và NE (theo INRA & cs., 2004):
- Gạo lật và ngô: $\text{ME} = 97,0% \times \text{DE}$; $\text{NE} = 80,0% \times \text{ME}$.
- Gạo tấm: $\text{ME} = 97,6% \times \text{DE}$; $\text{NE} = 81,2% \times \text{ME}$.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
1. Phương pháp phân tích hóa học và ước tính giá trị năng lượng
- Lấy mẫu và bảo quản: Lấy mẫu theo TCVN 4325:2007; chuẩn bị mẫu thử theo TCVN 6952:2001. Tổng số 8 mẫu gạo lật và 6 mẫu gạo tấm từ các giống lúa phổ biến.
- Tiêu chuẩn phân tích:
- Độ ẩm và vật chất khô (VCK): TCVN 4326:2001 ($\text{VCK} = 100% - %\text{ẩm}$).
- Protein thô: Phương pháp Kjeldahl.
- Xơ thô: TCVN 4329:2007 (ISO 6865:2000).
- Lipit thô: TCVN 4331:2001.
- Tro thô: TCVN 4327:2007 (nung ở $500^\circ\text{C} - 550^\circ\text{C}$).
- Dẫn xuất không nitơ (DXKN): $\text{DXKN} (%) = 100 - (%\text{nước} + %\text{protein} + %\text{lipit} + %\text{xơ} + %\text{tro})$.
- Tinh bột và đường: Đo trực tiếp trên thiết bị Thermo Scientific microPHAZIR AG.
2. Phương pháp bố trí thí nghiệm trên đàn lợn
Cả ba thí nghiệm chăn nuôi đều áp dụng phương pháp phân lô so sánh ngẫu nhiên một nhân tố với 4 nghiệm thức: Lô TN 1 (đối chứng, 100% ngô), Lô TN 2 (thay 25% ngô), Lô TN 3 (thay 50% ngô), Lô TN 4 (thay 75% ngô).
| Nội dung thí nghiệm |
Đối tượng và số lượng |
Thời gian / Giai đoạn |
Khẩu phần thử nghiệm |
Chỉ tiêu theo dõi chính |
| Thí nghiệm 1: Thức ăn tập ăn cho lợn con theo mẹ |
40 lợn nái, 480 lợn con $\text{PiDu} \times (\text{LY})$ (12 con/nái); lặp lại 3 lần (tổng 120 nái, 1.440 lợn con) |
Từ 4 đến 23 ngày tuổi |
Gạo lật thay ngô ở các mức 0%, 25%, 50%, 75% |
Khối lượng (sơ sinh, 4 ngày, 23 ngày), tăng trọng tuyệt đối, lượng thức ăn thu nhận, tỷ lệ tiêu chảy, tỷ lệ nuôi sống, FCR, chi phí |
| Thí nghiệm 2: Thức ăn cho lợn thịt |
240 lợn đực thiến $\text{Du} \times (\text{LY})$ (68 ngày tuổi) |
Nuôi sinh trưởng và vỗ béo (11 tuần) |
Gạo tấm thay ngô ở các mức 0%, 25%, 50%, 75% |
Khối lượng qua các tuần, tăng trọng ngày, lượng thức ăn thu nhận, FCR, tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ nạc, chất lượng thịt |
| Thí nghiệm 3: Thức ăn cho lợn nái nuôi con |
120 lợn nái lai $\text{L} \times \text{Y}$ (3 lần lặp lại, mỗi đợt 10 nái/lô) |
24 ngày nuôi con |
Gạo tấm thay ngô ở các mức 0%, 25%, 50%, 75% |
Hao hụt khối lượng nái sau đẻ, lượng ăn vào, thời gian động dục lại, sinh trưởng và tỷ lệ tiêu chảy của đàn lợn con |
3. Phương pháp xử lý số liệu
Toàn bộ số liệu thu thập được quản lý bằng Microsoft Excel 2010 và xử lý thống kê sinh học trên phần mềm Minitab 16. Các giá trị trung bình và độ lệch chuẩn (SD) được tính toán. Sai khác giữa các giá trị trung bình nghiệm thức được kiểm định bằng phương pháp Tukey và kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$) ở mức ý nghĩa $p < 0,05$.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 tổng hợp các cơ sở lý luận và thực tiễn về:
- Tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu ngũ cốc toàn cầu và Việt Nam: Sản lượng ngô thế giới đạt 1.122,70 triệu tấn, lúa mì đạt 730,9 triệu tấn (niên vụ 2018/2019 theo USDA, 2019); sản lượng thóc Việt Nam ổn định trên 42,7 - 44,0 triệu tấn/năm trong khi sản lượng ngô nội địa suy giảm từ 5,24 triệu tấn (2016) xuống 4,55 triệu tấn (2020).
- Cấu trúc hạt thóc và phụ phẩm xay xát: Thóc gồm vỏ trấu (trung bình 20%), gạo lật (80%); từ gạo lật thu được 90% gạo trắng và 10% cám + tấm (OECD, 2004; Foulkes, 1998).
- Đặc tính dinh dưỡng của các loại ngũ cốc: So sánh thành phần axit amin, chất béo, hàm lượng xơ và khoáng giữa ngô, lúa mì, cao lương, thóc, gạo lật và gạo tấm.
- Hệ thống đo lường năng lượng thức ăn (GE, DE, ME, NE) và các phương pháp ước tính theo NRC và INRA.
- Đặc điểm sinh lý tiêu hóa, sinh trưởng của lợn con, lợn thịt và quy luật tiết sữa của lợn nái.
- Tổng quan hiện trạng chăn nuôi lợn tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 chịu tác động lớn bởi biến động thị trường và dịch tả lợn châu Phi năm 2019.
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết kế hoạch thực nghiệm, quy trình lấy mẫu nguyên liệu, quy trình phân tích trong phòng thí nghiệm theo các TCVN, công thức phối chế khẩu phần thức ăn thí nghiệm cho 3 đối tượng lợn, và phương pháp tính toán các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật (tăng trọng tuyệt đối, FCR, tỷ lệ hao hụt khối lượng nái, tỷ lệ tiêu chảy, tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ nạc, chất lượng thịt...).
Chương 3: Kết quả và thảo luận
1. Thành phần hóa học và giá trị năng lượng của nguyên liệu
Kết quả phân tích thành phần hóa học và tính toán giá trị năng lượng ước tính trên 100% vật chất khô (VCK) giữa gạo lật, gạo tấm và ngô được thể hiện ở bảng sau:
| Chỉ tiêu phân tích |
Gạo lật |
Gạo tấm |
Ngô hạt |
| Vật chất khô (VCK, %) |
86,20 - 87,90 |
86,97 - 90,51 |
86,20 - 89,00 |
| Protein thô (% theo VCK) |
8,51 |
8,79 |
8,81 |
| Lipit thô (% theo VCK) |
3,96 |
0,62 |
3,90 |
| Xơ thô (% theo VCK) |
1,57 |
1,16 |
2,81 |
| Tro thô (% theo VCK) |
1,03 |
1,18 |
1,47 |
| Tinh bột (% theo VCK) |
78,57 |
80,97 |
71,01 |
| Đường (% theo VCK) |
1,75 |
1,28 |
2,19 |
| Dẫn xuất không nitơ (DXKN, % VCK) |
85,56 |
88,05 |
83,00 |
| Năng lượng tiêu hóa ước tính (DE, kcal/kg VCK) |
4.182 |
4.169 |
4.169 |
| Năng lượng trao đổi ước tính (ME, kcal/kg VCK) |
4.056 |
4.069 |
4.044 |
| Năng lượng thuần ước tính (NE, kcal/kg VCK) |
3.245 |
3.304 |
3.235 |
Nhận xét số liệu: Gạo lật và gạo tấm có hàm lượng protein thô tương đương ngô; hàm lượng xơ thô thấp hơn rõ rệt (1,16 - 1,57% so với 2,81% ở ngô); hàm lượng tinh bột cao hơn (78,57% và 80,97% so với 71,01% ở ngô). Giá trị năng lượng DE, ME, NE của gạo lật tương đương ngô, trong khi gạo tấm có giá trị ME và NE cao hơn ngô.
2. Hiệu quả sử dụng gạo lật thay thế ngô trong thức ăn tập ăn cho lợn con lai PiDu x (LY)
- Sinh trưởng và lượng ăn vào: Khẩu phần thay thế 25%, 50% và 75% ngô bằng gạo lật làm tăng khối lượng lợn con lúc 23 ngày tuổi, tăng sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày) và tăng lượng thức ăn thu nhận hàng ngày so với lô đối chứng (sử dụng 100% ngô).
- Sức khỏe đàn lợn con: Tỷ lệ lợn con mắc tiêu chảy và tỷ lệ nuôi sống giữa các lô thí nghiệm không có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê so với lô đối chứng.
- Hiệu quả kinh tế: Sử dụng gạo lật giúp giảm tiêu tốn thức ăn (FCR) và giảm chi phí tiền thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng; trong đó nghiệm thức thay thế 75% gạo lật cho kết quả kỹ thuật và kinh tế cao nhất.
3. Hiệu quả sử dụng gạo tấm thay thế ngô làm thức ăn cho lợn thịt lai Du x (LY)
- Khối lượng và tăng trọng: Lô thay thế 75% ngô bằng gạo tấm cho khối lượng kết thúc và sinh trưởng tuyệt đối cao hơn có ý nghĩa thống kê so với lô đối chứng và các lô thay thế 25%, 50%.
- Sử dụng thức ăn: Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày và hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) không bị ảnh hưởng tiêu cực khi thay thế ngô bằng gạo tấm.
- Năng suất và chất lượng thịt: Thay thế 75% gạo tấm làm tăng tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt nạc và tăng độ dai, độ cứng của mỡ thân thịt mà không làm tăng chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng.
4. Hiệu quả sử dụng gạo tấm thay thế ngô làm thức ăn cho lợn nái lai L x Y nuôi con
- Thể trạng lợn nái: Khẩu phần sử dụng 50% gạo tấm thay thế ngô giúp giảm tỷ lệ hao hụt khối lượng của nái trong suốt chu kỳ nuôi con 24 ngày và rút ngắn thời gian động dục trở lại sau cai sữa.
- Hiệu quả trên lợn con: Đàn lợn con theo mẹ ở lô nái ăn 50% gạo tấm có tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy giảm và tỷ lệ nuôi sống đến 24 ngày tuổi cao hơn lô đối chứng. Mức thay thế 50% được xác định là tỷ lệ tối ưu cho lợn nái nuôi con.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới của luận án
- Bổ sung cơ sở dữ liệu dinh dưỡng: Xác định chính xác thành phần hóa học (ẩm, protein thô, lipit thô, xơ thô, tro thô, tinh bột, đường, DXKN) và ước tính các giá trị năng lượng tiêu hóa (DE), năng lượng trao đổi (ME), năng lượng thuần (NE) của gạo lật từ các giống lúa trồng tại Việt Nam và gạo tấm.
- Xác lập tỷ lệ thay thế gạo lật trên lợn con: Chứng minh khả năng thay thế ngô bằng gạo lật từ 25% đến 75% trong thức ăn tập ăn cho lợn con lai 4 giống $\text{PiDu} \times (\text{LY})$ giai đoạn theo mẹ (4 - 23 ngày tuổi), xác định mức thay thế tối ưu là 75%.
- Xác lập tỷ lệ thay thế gạo tấm trên lợn thịt: Xác định tỷ lệ thay thế ngô bằng gạo tấm tối ưu là 75% trong khẩu phần nuôi lợn thịt thương phẩm lai 3 giống $\text{Du} \times (\text{LY})$, giúp nâng cao năng suất và chất lượng thịt xẻ.
- Xác lập tỷ lệ thay thế gạo tấm trên lợn nái nuôi con: Xác định mức thay thế 50% ngô bằng gạo tấm trong khẩu phần lợn nái lai $\text{L} \times \text{Y}$ nuôi con 24 ngày, mang lại hiệu quả giảm hao hụt thể trạng mẹ và tăng tỷ lệ sống của con.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Ứng dụng sản xuất: Cho phép các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp, các trang trại quy mô lớn và nông hộ chủ động sử dụng nguồn gạo lật và gạo tấm tại chỗ thay thế ngô theo các tỷ lệ đã được kiểm chứng (75% cho lợn con và lợn thịt; 50% cho lợn nái nuôi con).
- Bổ sung enzyme: Khi sử dụng khẩu phần chứa ngô, gạo lật và gạo tấm, cần chú ý bổ sung men phytase nhằm giải phóng phốt pho gắn kết dạng phytate và tăng hiệu quả hấp thu khoáng cho lợn (theo khuyến cáo từ phân tích hàm lượng phytase của Casas & Stein, 2015).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Các giá trị năng lượng DE, ME và NE trong nghiên cứu được xác định thông qua phương pháp ước tính từ phương trình hồi quy dựa trên thành phần hóa học (Nobles & Perez, 1993; INRA & cs., 2004) chứ chưa tiến hành đo đạc trực tiếp bằng buồng trao đổi nhiệt/phương pháp cân bằng trao đổi chất sinh học toàn phần trên lợn sống. Phạm vi khảo sát tập trung trên một số tổ hợp lai cụ thể ($\text{PiDu} \times (\text{LY})$, $\text{Du} \times (\text{LY})$, $\text{L} \times \text{Y}$).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiến hành các thử nghiệm in vivo xác định năng lượng thuần thực đo (NE) của gạo lật và gạo tấm trên hệ thống hô hấp ký kín hoặc buồng trao đổi nhiệt động vật.
- Mở rộng đánh giá trên các giai đoạn sinh lý khác như lợn nái mang thai, lợn đực giống và các tổ hợp lai lợn ngoại khác đang nuôi tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên sau đại học ngành Dinh dưỡng - Thức ăn chăn nuôi: Tham khảo phương pháp xây dựng công thức thức ăn thay thế ngũ cốc, kỹ thuật đánh giá năng lượng phân đoạn (DE, ME, NE) và phương pháp bố trí thí nghiệm trên các lứa tuổi lợn.
- Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Bổ sung tư liệu giảng dạy thực tế về giá trị dinh dưỡng của nguồn nguyên liệu bản địa thay thế ngô trong môn học Thức ăn và Dinh dưỡng vật nuôi.
- Đối với doanh nghiệp sản xuất thức ăn và trang trại chăn nuôi: Cung cấp thông số kỹ thuật chính xác để tối ưu hóa chi phí sản xuất khẩu phần ăn, chủ động nguồn nguyên liệu trong nước khi giá ngô thế giới biến động.
Câu hỏi thường gặp
1. Thành phần hóa học và giá trị năng lượng của gạo lật và gạo tấm khác ngô như thế nào?
Theo số liệu phân tích của luận án (tính theo % VCK), gạo lật có protein thô 8,51%, xơ thô 1,57%, tinh bột 78,57%, NE 3.245 kcal/kg; gạo tấm có protein thô 8,79%, xơ thô 1,16%, tinh bột 80,97%, NE 3.304 kcal/kg; ngô hạt có protein thô 8,81%, xơ thô 2,81%, tinh bột 71,01%, NE 3.235 kcal/kg. Gạo lật và gạo tấm có hàm lượng protein tương đương ngô nhưng hàm lượng chất xơ thấp hơn và tỷ lệ tinh bột cao hơn ngô.
2. Tỷ lệ thay thế ngô bằng gạo lật tối ưu trong thức ăn tập ăn cho lợn con theo mẹ là bao nhiêu?
Mức thay thế tối ưu là 75% gạo lật thay thế ngô trong khẩu phần thức ăn tập ăn cho lợn con lai $\text{PiDu} \times (\text{LY})$ từ 4 đến 23 ngày tuổi. Ở mức này, lợn con đạt khối lượng, sinh trưởng tuyệt đối và lượng thức ăn thu nhận cao nhất, đồng thời giảm chi phí thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng mà không làm tăng tỷ lệ tiêu chảy.
3. Việc sử dụng gạo tấm thay thế ngô tác động ra sao đến năng suất và phẩm chất thịt của lợn thịt?
Khi thay thế 75% ngô bằng gạo tấm cho lợn thịt lai $\text{Du} \times (\text{LY})$, khối lượng kết thúc và sinh trưởng tuyệt đối tăng cao hơn so với khẩu phần 100% ngô; tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ nạc và độ cứng/độ dai của mỡ thân thịt tăng lên mà không làm thay đổi lượng thức ăn thu nhận và FCR.
4. Tại sao mức thay thế gạo tấm khuyến cáo cho lợn nái nuôi con lại là 50%?
Thực nghiệm cho thấy ở mức thay thế 50% ngô bằng gạo tấm, lợn nái lai $\text{L} \times \text{Y}$ nuôi con trong 24 ngày giảm được tỷ lệ hao hụt thể trọng sau khi đẻ, rút ngắn thời gian động dục trở lại, đồng thời giúp lợn con theo mẹ giảm tỷ lệ tiêu chảy và tăng tỷ lệ nuôi sống.
Kết luận
Luận án đã xác lập đầy đủ cơ sở dữ liệu về thành phần hóa học, giá trị năng lượng tiêu hóa (DE), năng lượng trao đổi (ME) và năng lượng thuần (NE) của gạo lật và gạo tấm sản xuất tại Việt Nam so sánh với ngô hạt. Kết quả thực nghiệm khẳng định tính khả thi và hiệu quả kỹ thuật - kinh tế khi sử dụng gạo lật thay thế đến 75% ngô trong thức ăn tập ăn cho lợn con lai $\text{PiDu} \times (\text{LY})$, sử dụng gạo tấm thay thế 75% ngô cho lợn thịt lai $\text{Du} \times (\text{LY})$ và thay thế 50% ngô cho lợn nái lai $\text{L} \times \text{Y}$ nuôi con. Công trình cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp, góp phần giảm áp lực nhập khẩu ngô và tận dụng nguồn lương thực nội địa.