Nghiên cứu tác động của biện pháp phi thuế quan đến hàng nông sản nhập khẩu ở Việt Nam

Chuyên khảo Tác động của biện pháp phi thuế quan đối với hàng nông sản nhập khẩu t phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Chuyên ngành

Kinh Tế Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

239
11
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN ĐẾN HÀNG NÔNG SẢN NHẬP KHẨU

1.1. Các nghiên cứu lý thuyết về tác động của Biện pháp phi thuế quan

1.2. Các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài về tác động của biện pháp phi thuế quan

1.3. Các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài về tác động của biện pháp phi thuế quan theo nhóm nước

1.4. Các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài về tác động của biện pháp phi thuế quan theo loại hình biện pháp

1.5. Các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài về tác động của biện pháp phi thuế quan theo phương pháp áp dụng

1.6. Các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài về tác động của biện pháp phi thuế quan đối với hàng nông sản nhập khẩu

1.7. Các nghiên cứu trong nước về Biện pháp phi thuế quan

1.8. Khoảng trống nghiên cứu

1.9. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN ĐẾN HÀNG NÔNG SẢN NHẬP KHẨU

2.1. Khái luận về biện pháp phi thuế quan

2.1.1. Quan niệm về biện pháp phi thuế quan

2.1.2. Phân loại các biện pháp phi thuế quan

2.1.3. Phương pháp đo lường mức ảnh hưởng và tác động của biện pháp phi thuế quan

2.2. Một số vấn đề cơ bản của tác động biện pháp phi thuế quan đối với hàng nông sản nhập khẩu

2.2.1. Quan niệm về hàng nông sản

2.2.2. Các nhân tố tác động đến nhập khẩu hàng nông sản

2.2.3. Tác động của các biện pháp phi thuế quan đến hàng nông sản nhập khẩu

2.3. Kinh nghiệm áp dụng biện pháp phi thuế quan đối với hàng nông sản của Trung Quốc

2.3.1. Cơ sở điều chỉnh biện pháp phi thuế quan của Trung Quốc trong quản lý hàng nông sản nhập khẩu

2.3.2. Những điều chỉnh chính trong hệ thống luật pháp của Trung Quốc về biện pháp SPS và TBT

2.3.3. Cơ sở áp dụng kinh nghiệm của Trung Quốc và bài học rút ra cho Việt Nam

2.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: KHUNG NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Khung nghiên cứu tác động của biện pháp phi thuế quan đối với hàng nông sản nhập khẩu

3.2. Cách tiếp cận từ mô hình trọng lực hấp dẫn cấu trúc

3.2.1. Mô hình trọng lực hấp dẫn cấu trúc theo ngành

3.3. Phương pháp kiểm định hai bước Heckman (two-stage Heckman)

3.4. Phương trình thực nghiệm kiểm định tác động của biện pháp phi thuế quan đối với hàng nông sản nhập khẩu

3.5. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu nghiên cứu

3.6. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HÀNG NÔNG SẢN NHẬP KHẨU

4.1. Phân tích thực trạng nhập khẩu nông sản của Việt Nam

4.1.1. Kim ngạch nhập khẩu trong thương mại hàng nông sản của Việt Nam

4.1.2. Cơ cấu mặt hàng nông sản nhập khẩu Việt Nam

4.1.3. Cơ cấu thị trường mặt hàng nông sản nhập khẩu Việt Nam

4.1.4. Phân tích thực trạng nhập khẩu một số mặt hàng nông sản điển hình

4.2. Phân tích thực trạng áp dụng các biện pháp phi thuế quan Việt Nam đối với hàng nông sản nhập khẩu

4.2.1. Các biện pháp phi thuế quan được cam kết trong WTO và hiệp định thương mại tự do điển hình (CPTPP)

4.2.2. Thực trạng áp dụng các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam đối với hàng nông sản nhập khẩu theo loại hình biện pháp

4.2.3. Thực trạng áp dụng các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam đối với hàng nông sản nhập khẩu so với các nước

4.2.4. Thực trạng áp dụng các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam đối với hàng nông sản nhập khẩu theo nhóm mặt hàng

4.3. Kết quả phân tích định lượng tác động của biện pháp phi thuế quan Việt Nam đối với hàng nông sản nhập khẩu

4.3.1. Kết quả tác động tổng thể của biện pháp phi thuế quan Việt Nam đối với hàng nông sản nhập khẩu

4.3.2. Kết quả tác động của BPPTQ Việt Nam đến các nhóm hàng nông sản nhập khẩu

4.4. Đánh giá chung về tác động của biện pháp phi thuế quan Việt Nam đối với hàng nông sản nhập khẩu

4.4.1. Tác động tích cực

4.4.2. Tác động tiêu cực

4.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TẬN DỤNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN ĐỐI VỚI HÀNG NÔNG SẢN NHẬP KHẨU NHẰM GÓP PHẦN QUẢN LÝ NHẬP KHẨU HIỆU QUẢ HƠN

5.1. Bối cảnh trong và ngoài nước có ảnh hưởng đến biện pháp phi thuế quan và hàng nông sản nhập khẩu

5.1.1. Bối cảnh quốc tế

5.1.2. Bối cảnh trong nước

5.2. Quan điểm, định hướng và mục tiêu của việc quản lý hàng nông sản nhập khẩu bằng biện pháp phi thuế quan của Việt Nam

5.3. Định hướng quản lý hàng nông sản nhập khẩu bằng biện pháp phi thuế quan

5.4. Giải pháp tận dụng tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp phi thuế quan Việt Nam đối với hàng nông sản nhập khẩu nhằm góp phần quản lý nhập khẩu hiệu quả hơn

5.4.1. Giải pháp tận dụng tác động tích cực của các biện pháp phi thuế quan Việt Nam đối với hàng nông sản nhập khẩu

5.4.2. Giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp phi thuế quan Việt Nam đối với hàng nông sản nhập khẩu

5.4.3. Các giải pháp khác

5.4.4. Một số kiến nghị

5.4.4.1. Từ phía Hiệp hội ngành hàng
5.4.4.2. Từ phía doanh nghiệp nhập khẩu

5.4.5. Những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu trong tương lai

5.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 5

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tác động của biện pháp phi thuế quan

Các biện pháp phi thuế quan (BPPTQ) đang ngày càng trở thành công cụ quan trọng trong chính sách thương mại của Việt Nam, đặc biệt đối với hàng nông sản nhập khẩu. Những biện pháp này không chỉ có tác động đến thị trường nông sản mà còn ảnh hưởng đến tác động kinh tế chung của quốc gia. Theo nghiên cứu, khoảng 70% giá trị thương mại hàng hóa toàn cầu chịu tác động của ít nhất một loại BPPTQ, với hàng nông sản là nhóm hàng chịu tác động lớn nhất. Việc áp dụng các BPPTQ như kiểm dịch vệ sinh động thực vật (SPS) và hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) có thể tạo ra rào cản cho việc nhập khẩu hàng nông sản, từ đó làm tăng chi phí nhập khẩu và giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước. Tuy nhiên, BPPTQ cũng có thể được xem là công cụ bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường, điều này dẫn đến việc cần phải đánh giá một cách toàn diện về tác động của chúng.

1.1. Tác động tích cực và tiêu cực

Tác động của các biện pháp phi thuế quan đối với hàng nông sản nhập khẩu tại Việt Nam có cả mặt tích cực và tiêu cực. Mặt tích cực bao gồm việc bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và bảo vệ môi trường thông qua các tiêu chuẩn chất lượng cao hơn. Tuy nhiên, mặt tiêu cực lại thể hiện qua việc làm tăng chi phí và giảm khả năng tiếp cận thị trường cho các sản phẩm nông sản nước ngoài. Nghiên cứu cho thấy rằng, trong một số trường hợp, các BPPTQ được áp dụng không đúng cách có thể dẫn đến việc tạo ra rào cản thương mại, ảnh hưởng đến cạnh tranh quốc tế của nông sản Việt Nam. Theo một báo cáo của ITC, ngay cả những biện pháp không mang tính bảo hộ cũng có thể làm tăng chi phí thương mại và giảm khả năng tiếp cận thị trường. Do đó, việc đánh giá và điều chỉnh các BPPTQ là cần thiết để tối ưu hóa lợi ích cho cả nhà sản xuất trong nước và người tiêu dùng.

II. Chính sách thương mại và biện pháp phi thuế quan

Chính sách thương mại của Việt Nam trong thời gian qua đã có sự chuyển mình mạnh mẽ, đặc biệt là việc áp dụng các biện pháp phi thuế quan trong quản lý nhập khẩu hàng nông sản. Các BPPTQ không chỉ nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe cộng đồng mà còn là công cụ để điều chỉnh thị trường nông sản theo hướng bền vững. Việt Nam đã cam kết tuân thủ các quy định của WTO về BPPTQ, tuy nhiên, việc thực thi vẫn gặp nhiều khó khăn. Cụ thể, các yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng và quy cách hàng hóa đôi khi chưa được thực hiện đồng bộ, dẫn đến tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng tràn lan trên thị trường. Điều này không chỉ gây thiệt hại cho người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng đến uy tín của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Sự thiếu minh bạch trong quy định và thực thi BPPTQ cần được khắc phục để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông sản Việt Nam.

2.1. Các loại hình biện pháp phi thuế quan

Các biện pháp phi thuế quan được phân loại thành nhiều loại hình khác nhau, bao gồm kiểm dịch vệ sinh động thực vật (SPS), hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), và các quy định về chất lượng sản phẩm. Mỗi loại hình đều có những mục tiêu và cách thức áp dụng riêng, nhưng đều nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường. Tuy nhiên, việc áp dụng các BPPTQ này cần được thực hiện một cách hợp lý để không gây cản trở đến hoạt động xuất nhập khẩu. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc áp dụng quá mức các BPPTQ có thể dẫn đến việc tăng chi phí cho doanh nghiệp nhập khẩu, từ đó làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa nông sản trong nước. Do đó, cần có các giải pháp hợp lý để cân bằng giữa việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và phát triển thương mại bền vững.

III. Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Kinh nghiệm từ các quốc gia khác cho thấy rằng việc áp dụng biện pháp phi thuế quan cần phải được thực hiện một cách linh hoạt và phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng quốc gia. Chẳng hạn, Trung Quốc đã áp dụng các biện pháp kiểm dịch vệ sinh động thực vật (SPS) và hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) một cách hiệu quả, giúp bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường mà vẫn không làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước. Việt Nam có thể học hỏi từ những kinh nghiệm này để điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống BPPTQ của mình. Việc xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng rõ ràng và công khai thông tin về các BPPTQ sẽ giúp các doanh nghiệp có thể dễ dàng tuân thủ và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh. Đồng thời, cần có các chương trình đào tạo và hỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc áp dụng các BPPTQ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

3.1. Bài học từ thực tiễn

Bài học từ thực tiễn cho thấy rằng, việc áp dụng biện pháp phi thuế quan không chỉ đơn thuần là quy định mà còn cần phải có sự đồng thuận và hợp tác giữa các bên liên quan, bao gồm cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Cần có một cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả của các BPPTQ để đảm bảo rằng chúng được thực hiện một cách công bằng và minh bạch. Đồng thời, việc tăng cường đối thoại giữa các bên liên quan sẽ giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của BPPTQ trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường, đồng thời tạo điều kiện cho hàng nông sản Việt Nam có thể cạnh tranh tốt hơn trên thị trường quốc tế.

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN ĐẾN HÀNG NÔNG SẢN NHẬP KHẨU 1. Các nghiên cứu lý thuyết về tác động của Biện pháp phi thuế quan Biện pháp phi thuế quan đã được đề cập đến trong các lý thuyết thương mại quốc tế từ rất sớm. Các nghiên cứu về BPPTQ thường quan tâm chủ yếu đến tác động của nó đến thương mại quốc tế nói riêng và phúc lợi xã hội nói chung. Tuy nhiên, việc đo lường tác động của BPPTQ thường rất phức tạp và khó khăn so với phân tích tác động của thuế quan (Bhagwati, 1967).

Một số biện pháp kiểm soát định lượng như hạn ngạch, hạn chế xuất khẩu tự nguyện thường dễ dàng đo lường, nhưng phần lớn các biện pháp mang tính chất hành chính hoặc kỹ thuật như biện pháp kiểm dịch vệ sinh động thực vật (SPS), hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) khó xác định hơn rất nhiều và biến đổi phụ thuộc vào cách thức, phạm vi và cơ chế áp dụng. Lý thuyết cơ bản nhất về tác động kinh tế của BPPTQ là nghiên cứu của Baldwin (1991) và Deardorff và Stern (1998). Các tác giả đã đưa ra cách phân tích cân bằng bộ phận của BPPTQ, với giả thuyết, đường cầu nhập khẩu là cạnh tranh hoàn hảo và hàng nhập khẩu có thể thay thế không hoàn hảo hoặc thay thế hoàn hảo cho hàng hoá sản xuất nội địa. Cách tiếp cận để đo lường tác động của BPPTQ chủ yếu dựa vào sự dịch chuyển của đường cầu dẫn đến sự thay đổi về giá và lượng cầu đối với hàng hoá nhập khẩu.

Nghiên cứu đã chỉ ra các đặc điểm quan trọng của BPPTQ như: i) BPPTQ thường áp đặt nhằm mục đích giảm lượng nhập khẩu hay nói cách khác hạn chế thương mại; ii) BPPTQ có tác động là giảm lượng nhập khẩu thông qua việc tăng giá thực tế và giá tiềm ẩn của hàng hoá nhập khẩu; iii) thay đổi mức co giãn cầu đối với hàng nhập khẩu hay làm thay đổi độ dốc của đường cầu nhập khẩu và dẫn đến thay đổi phản ứng đối với hàng nhập khẩu trong một số lĩnh vực cụ thể trước sự thay đổi về giá; iv) tác động của BPPTQ rất đa dạng theo thời gian và sự thay đổi của các điều kiện thị trường; v) sự không ổn định của BPPTQ, được thể hiện thông qua quá trình thực thi của các chính sách của chính phủ; vi) tác động của BPPTQ đến chi phí phúc lợi xã hội nhờ vào sự thay đổi hành vi của người tiêu dùng và nhà sản xuất từ đó tạo ra sự biến đổi thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất; vi) Nguồn chi phí của BPPTQ xuất phát từ các chi phí áp đặt/thực thi các biện pháp này và chi phí mà các cá nhân, doanh nghiệp phải bỏ ra để đảm bảo lợi nhuận và các lợi ích khác khi chịu áp đặt BPPTQ. 10 Nghiên cứu này đã đưa ra tác động tổng thể về BPPTQ dựa trên khoảng cách về mức giá mà nhà sản xuất nước ngoài nhận được và mức giá mà người tiêu dùng trong nước phải trả cho hàng hoá nhập khẩu. Tuy nhiên, hạn chế của việc đo lường tác động là chưa tính đến sự khác biệt về chất lượng của hàng hoá tạo ra sự chênh lệch giữa giá trong nước và giá tham chiếu của hàng hoá thay thế tương đương. Hơn nữa, chi phí vận chuyển có thể làm giảm mức chênh lệch giữa giá CIF và FOB, cũng như các chi phí giao dịch khác.

Từ những hạn chế như vậy, nghiên cứu của Beghin và cộng sự (2012) đã phân tích tác động của một BPPTQ điển hình là hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) bằng phương pháp chênh lệch giá trong trường hợp có kiểm soát chi phí vận chuyển và các chi phí thương mại khác và đưa ra giả thuyết về tính không đồng nhất của sản phẩm cũng như nhận thức về chất lượng của hàng hoá thay thế. Điểm đóng góp lớn nhất trong nghiên cứu của Beghin là chỉ ra tác động của BPPTQ qua kênh chi phí thương mại, trong đó xác định bốn yếu tố tạo ra sự chênh lệch về giá hàng hoá nhập khẩu và giá trong nước của hàng hoá tương đương là thuế quan, các biện pháp phi thuế quan, sự khác biệt về chất lượng và chi phí marketing. Hơn nữa, đối với các biện pháp mang tính kỹ thuật như TBT, mức độ tác động của nó còn dựa trên sự nhạy cảm trước các yếu tố về chất lượng. Đây cũng là một điểm tiến bộ so với nghiên cứu trước đây.

Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chủ yếu nêu ra tác động giảm cầu nhập khẩu dựa vào mô hình phân tích cân bằng bộ phận. Nghiên cứu của Ganslandt và Markusen (2001) đã đưa ra phân tích tác động toàn diện hơn dựa trên mô hình cân bằng tổng thể và bổ sung thêm các giả định về nguồn lực sản xuất trong nước. Nhóm tác giả đã chỉ ra cả hai hướng tác động tiêu cực và tác động tích cực của biện pháp phi thuế quan. Cụ thể, tác động tiêu cực gây ra do việc áp đặt các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật làm tăng chi phí thương mại (thường hiểu là chi phí cố định hơn là chi phí biến đổi) cho nhà xuất khẩu để thâm nhập thị trường nước ngoài.

Những quy định hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật không phù hợp có thể gây hại cho các nước nhỏ. Trong khi đó, các quy định hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật; hoặc biện pháp SPS cũng có thể tăng lợi ích cho nhà xuất khẩu nhờ vào việc chứng nhận an toàn cho các hàng hoá, giúp tương thích với các hàng hoá bổ sung trong nước. Hay cách khác, tác động tích cực được thể hiện qua việc gia tăng mức độ sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng trong nước đối với các hàng hoá nhập khẩu đáp ứng được các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật nội địa. Như vậy, thành tựu của nghiên cứu này đã giải thích được tác động cản trở thương mại và tác động thúc đẩy cầu của hai loại hình điển hình trong BPPTQ là biện pháp SPS và TBT.

11 Các nghiên cứu trên đã chỉ ra nguyên nhân xuất phát từ động cơ chính trị của việc áp đặt các loại hình biện pháp này nhằm chủ ý bảo hộ cho một số ngành nội địa. Các mục tiêu này sẽ dẫn đến dịch chuyển toàn bộ đường cung và cầu. Khi đó sự thay đổi về giá không mang hàm ý tạo ra chi phí tư nhân hay chi phí xã hội. Sự thay đổi về giá cả lúc này là kết quả của quá trình biến đổi về chi phí sản xuất và thay đổi hành vi tiêu dùng.

Một cách rõ ràng hơn, tác động dịch chuyển đường cung xảy ra khi các quy định thuộc về BPPTQ được áp đặt nhằm giải quyết các yếu tố ngoại lai tác động đến thương mại quốc tế (ví dụ: ngăn chặn các hàng hoá chứa các yếu tố gây hại cho sức khoẻ người tiêu dùng hoặc tạo ra các tiêu chuẩn kỹ thuật nhằn tăng độ tin cậy của sản phẩm). Mặt khác, sự chuyển dịch đường cầu nhằm giải quyết các thất bại thị trường như tạo ra các quy định bắt buộc đối với nhà sản xuất trong việc cung cấp thông tin sản phẩm cho người tiêu dùng. Lý thuyết điển hình mô tả chi tiết tác động “động” của các biện pháp thuộc về kỹ thuật như biện pháp SPS hay TBT là nghiên cứu của Disdier và Marette (2010). Trong đó, tác giả đã chỉ ra tác động của các BPPTQ (như SPS và TBT) làm dịch chuyển đường cung cầu dựa trên các giả thuyết như sau: nghiên cứu trên một thị trường hàng hoá và loại trừ cơ chế cân bằng tổng thể; thị trường hàng hoá được giả định là đồng nhất hoặc tương đối đồng nhất nhằm loại trừ các đặc tính có thể gây nguy hại đến người tiêu dùng; người tiêu dùng trong nước có thể hoặc không có ý thức đối với các vấn đề gây nguy hại từ sản phẩm; cầu là hàm lợi ích bậc hai, trong khi cung là hàm chi phí bậc hai; hàng hoá nước ngoài và hàng hoá trong nước là đồng nhất một cách hoàn hảo và là các hàng hoá thay thế hoàn hảo của nhau.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, đường cầu dịch chuyển phụ thuộc vào mức độ nguy hại trong hàng hoá sản xuất trong nước và hàng hoá nhập khẩu. Việc dịch chuyển đường cầu là độc lập với việc áp đặt hoặc không áp đặt các quy định hoặc tiêu chuẩn mang tính kỹ thuật. Việc áp đặt các biện pháp liên quan đến quy định, tiêu chuẩn đối với hàng hoá chỉ ảnh hưởng đến đường cung vì nó tác động đến quá trình sản xuất từ đó tạo ra chi phí sản xuất. Đối với thị trường trong nước, trạng thái cân bằng mới xảy ra với lượng cầu và mức giá giảm so với ban đầu.

Tuy nhiên, mức giảm của lượng cầu phản ánh mức giảm của lượng cung sản xuất trong nước và lượng nhập khẩu. Trong trường hợp, các nguy hại tồn tại trong hàng hoá nhập khẩu (từ thị trường nước ngoài). Khi đó, việc áp đặt biện pháp kỹ thuật như TBT hay SPS của chính phủ nước nhập khẩu chỉ tác động đến hàng nhập khẩu hay tác động đến nhà sản xuất nước ngoài. Hay nói cách khác, việc áp đặt biện pháp này tác động trực tiếp đến đường cung của nước xuất khẩu.

Trường hợp giả thuyết, người tiêu dùng chủ quan về các thiệt hại từ việc áp đặt BPPTQ của chính phủ,. 12 khi đó, trạng thái cân bằng ban đầu cũng trùng với trạng thái cân bằng trong trường hợp này. Hậu quả của việc áp đặt các BPPTQ đối với thị trường trong nước là tăng giá và giảm lượng tiêu dùng hàng nhập khẩu. Trạng thái cân bằng ban đầu liên quan đến khả năng nhận thức của người tiêu dùng đối với các nguy hại trong sản phẩm với sự sụt giảm lượng cầu, nhưng tác động vô thời hạn đến mức giá.

Dấu hiệu của sự thay đổi về giá sẽ phụ thuộc và xác suất hay khả năng lây nhiễm nguy hại, hoặc chi phí liên quan đến quá trình hình thành quan điểm tiêu dùng và tính nghiêm ngặt của tiêu chuẩn. Bên cạnh việc nhận thức về các nguy hại trong sản phẩm, tác động thúc đẩy cầu dựa trên sự dịch chuyển của đường cầu. Việc áp đặt các biện pháp thuộc về kỹ thuật có thể ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng. Nếu biện pháp này cung cấp thông tin và giúp nâng cao chất lượng của hàng nhập khẩu, nó sẽ giúp tăng cường nhu cầu nhập khẩu.

Để phản ứng lại biện pháp này, đường cầu sẽ dịch chuyển sang phải, đối phó với sự dịch chuyển đường cầu do việc nhận thức của người tiêu dùng đối với các nguy hại có thể xảy ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ với tiêu đề "Nghiên cứu tác động của biện pháp phi thuế quan đến hàng nông sản nhập khẩu ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Bích Ngọc, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai tại Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, đã được thực hiện vào năm 2020. Bài nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích những ảnh hưởng của các biện pháp phi thuế quan đối với hàng nông sản nhập khẩu tại Việt Nam, một vấn đề ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Bài viết không chỉ mang lại cái nhìn sâu sắc về chính sách thương mại mà còn cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và người làm nông nghiệp, giúp họ hiểu rõ hơn về cách thức các biện pháp này ảnh hưởng đến thị trường nông sản.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực nông nghiệp và các chính sách liên quan, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như Tác động của hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU đến hàng nông sản xuất khẩu, nơi cung cấp thông tin về ảnh hưởng của các hiệp định thương mại đến nông sản. Ngoài ra, bài Luận án tiến sĩ về quản lý chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nông nghiệp Việt Nam cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý sản phẩm nông nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ về pháp luật môi trường trong hoạt động nông nghiệp ở Việt Nam sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát về các khía cạnh pháp lý liên quan đến nông nghiệp, từ đó giúp bạn hiểu rõ hơn về môi trường pháp lý mà nông sản Việt Nam đang hoạt động.