Tổng quan nghiên cứu

Xóa đói giảm nghèo là mục tiêu chiến lược xuyên suốt trong tiến trình phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo trên toàn quốc đã giảm ấn tượng từ 40% xuống còn 10,6%. Tuy nhiên, thành quả này vẫn chưa thực sự đồng đều và thiếu tính bền vững tại các vùng sâu, vùng xa. Điển hình là huyện Đắc Chưng, một huyện vùng cao thuộc tỉnh Sê Kông, cách thủ đô Viêng Chăn khoảng 850 km và cách tỉnh lỵ Sê Kông 95 km. Với địa hình đồi núi chiếm tới 85% diện tích tự nhiên trong tổng số 273.000 ha, Đắc Chưng đối mặt với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng yếu kém và nền kinh tế thuần nông tự cung tự cấp. Đến năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện vẫn ở mức cao với 34,84%, tương ứng 1.233 hộ trên tổng số 3.540 hộ dân sinh sống tại 54 bản, trong đó có tới 33 bản nghèo (chiếm tỷ lệ 61,11%).

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ thực trạng, nhận diện nguyên nhân nghèo đói và giải quyết mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế danh nghĩa với chất lượng sống thực tế của người dân bản địa. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về xóa đói giảm nghèo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Lào, đánh giá toàn diện công tác giảm nghèo tại huyện Đắc Chưng giai đoạn 2010 - 2015, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và có tính khả thi cao đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ vững chắc giúp chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách an sinh, thúc đẩy kinh tế biên mậu với các tỉnh lân cận của Việt Nam như Quảng Nam và Kon Tum, đồng thời đóng góp khung tham chiếu giá trị cho 47 huyện nghèo trọng điểm trên toàn quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết kinh tế chính trị Mác - Lênin về phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất và mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội. Đồng thời, nghiên cứu kết hợp tiếp cận lý thuyết nghèo đa chiều của Ngân hàng Thế giới và lý thuyết về năng lực lựa chọn của nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Amartya Sen. Nghèo đói được nhìn nhận không chỉ là sự thiếu hụt đơn thuần về thu nhập mà còn là tình trạng bị hạn chế cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, thiếu hụt tư liệu sản xuất và suy giảm năng lực tự bảo vệ trước các cú sốc rủi ro môi trường, dịch bệnh.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa dựa trên Nghị định số 309/TTg của Thủ tướng Chính phủ Lào. Theo đó, đói nghèo là tình trạng thiếu hụt năng lượng tối thiểu dưới mức 2.100 kcal/người/ngày; hộ nghèo tại khu vực nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 180.000 kíp/tháng (so với mức 240.000 kíp/người/tháng ở thành thị và bình quân chung toàn quốc là 192.000 kíp/người/tháng). Bản nghèo được xác định khi có từ 50% số hộ trong bản thuộc diện nghèo hoặc thiếu hụt nghiêm trọng hạ tầng trường học, trạm xá, nước sạch và giao thông. Bên cạnh đó, luận văn phân định rõ ràng giữa nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo sơ cấp (thiếu hụt vật chất sinh tồn) và nghèo thứ cấp (thiếu hụt văn hóa, học vấn và kỹ năng lao động).

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê mô tả, so sánh và điều tra xã hội học. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập có hệ thống từ các báo cáo chính trị của Đảng bộ huyện Đắc Chưng khóa XIII và XIV, niên giám thống kê tỉnh Sê Kông giai đoạn 2009 - 2015, các văn kiện đại hội Đảng toàn quốc và số liệu từ Ngân hàng Phát triển Châu Á.

Về nguồn dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra thực địa theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên. Toàn huyện Đắc Chưng có 33 bản nghèo với 1.233 hộ có điều kiện sinh kế tương đồng. Tác giả chọn 10 bản đại diện (bao gồm các bản như Brong Nọi, Brong Nhay, Đắc Bla) và chọn ngẫu nhiên 3 hộ nghèo tại mỗi bản để phỏng vấn sâu, hình thành cỡ mẫu 30 hộ gia đình kết hợp khảo sát ý kiến các chuyên gia, cán bộ quản lý cấp huyện và xã. Phương pháp phân tích này được lựa chọn vì địa bàn miền núi bị chia cắt mạnh, giao thông cách trở, việc điều tra mẫu sâu giúp phản ánh chính xác cấu trúc thu nhập, hiện trạng tư liệu sản xuất và nhận thức tự vươn lên của người dân nghèo trong mốc thời gian thực hiện đề tài từ năm 2014 đến 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế của huyện Đắc Chưng đạt tốc độ cao nhưng chưa đi liền với phân phối thu nhập đồng đều. Giai đoạn 2010 - 2014, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của huyện đạt 10,8%/năm, đưa thu nhập GDP bình quân đầu người từ 222 USD năm 2010 lên 1.145 USD năm 2014. Tuy vậy, giá trị này chủ yếu đến từ các dự án công nghiệp tập trung như thủy điện Xê Ka Man 3 và khai thác khoáng sản, trong khi 95% hộ nông dân vẫn phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp tự cấp tự túc. Khảo sát 30 hộ nghèo cho thấy thu nhập thực tế chỉ đạt bình quân khoảng 100.000 đến 150.000 kíp/người/tháng, trong đó có 17 hộ đạt dưới 50.000 kíp/người/tháng, hoàn toàn nằm dưới chuẩn nghèo nông thôn 180.000 kíp/tháng.

Thứ hai, hộ nghèo thiếu hụt nghiêm trọng tư liệu sản xuất và vốn lưu động. Kết quả điều tra thực tế tại 30 hộ nghèo chỉ ghi nhận tổng cộng 3 con trâu cày kéo, phần lớn các hộ không có công cụ cơ giới hóa hoặc nông cụ đạt chuẩn. Nguồn thu nhập phụ thuộc chủ yếu vào khai thác lâm sản phụ (củ sâm, nấm rừng, săn bắt) và đi làm thuê mùa vụ như thu hái cà phê. Tình trạng vay mượn với lãi suất cao và bán lúa non diễn ra phổ biến, khiến nông dân rơi vào vòng xoáy nghèo đói luẩn quẩn.

Thứ ba, kết cấu hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ xã hội tại vùng sâu, vùng xa còn quá yếu kém. Tính đến năm 2014, toàn huyện chỉ có 20/54 bản có đường ô tô vào đến trung tâm (chiếm 28,98%), còn lại 34 bản chưa có đường ô tô hoặc đường chỉ đi được vào mùa khô (chiếm 71,02%), toàn huyện chỉ có 32 km đường trải nhựa. Tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện sinh hoạt chỉ chiếm 12,06%, tỷ lệ hộ dùng nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 48,6%, có tới 65% số bản thiếu trạm y tế đạt chuẩn và 26,6% số bản thiếu nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

Thứ tư, nguồn nhân lực có trình độ học vấn thấp và rào cản phong tục tập quán lạc hậu. Mặc dù huyện có 77 trường học với 7.753 học sinh, tỷ lệ nhập học giảm mạnh ở các cấp học cao: mầm non đạt 32,5%, tiểu học đạt 67,8%, trung học cơ sở đạt 53,1% và trung học phổ thông chỉ đạt 18,3%. Lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ trọng lớn, chỉ có 30% người trong độ tuổi lao động có việc làm ổn định, trong khi 70% còn lại thiếu việc làm hoặc làm việc bấp bênh.

Thảo luận kết quả

Khi thể hiện dữ liệu trên đồ thị và bảng so sánh cơ cấu kinh tế, sự đối lập thể hiện rõ nét giữa đường tăng trưởng GDP đi lên thẳng đứng (từ 222 USD lên 1.145 USD) và đường biểu diễn thu nhập của hộ nghèo chỉ nhích nhẹ ở mức đáy. Biểu đồ tròn về cơ sở hạ tầng phản ánh sự mất cân đối nghiêm trọng khi tỷ lệ hộ dùng điện chỉ đạt 12,06% và tỷ lệ bản có đường ô tô đạt 28,98%.

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng nghèo đói tại Đắc Chưng bắt nguồn từ sự kết hợp của nhiều yếu tố: điều kiện tự nhiên khắc nghiệt với biên độ nhiệt lớn (từ 9 đến 30 độ C), lượng mưa lớn từ 161 đến 184 mm/năm gây lũ quét; hậu quả chiến tranh để lại bom mìn dày đặc dọc tuyến đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử; sự hạn chế trong nhận thức của một bộ phận người dân còn tự ti, ỷ lại; cùng với sự dàn trải, thiếu hiệu quả của một số dự án đầu tư công. So sánh với kinh nghiệm giảm nghèo thành công tại Việt Nam (thông qua Chương trình 135, Chương trình 327) và các tỉnh Luông Pha Băng, Bôlykhămxay của Lào cho thấy: Xóa đói giảm nghèo tại huyện miền núi chỉ thành công khi gắn liền phát triển nông nghiệp hàng hóa với chế biến, lồng ghép đa dạng hóa nguồn vốn, nâng cao dân trí và phát huy tính tự chủ của cộng đồng thay vì hỗ trợ thụ động một chiều.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với khai thác lợi thế đất đai và lâm nghiệp. UBND huyện Đắc Chưng và Phòng Nông - Lâm nghiệp cần quy hoạch lại vùng sản xuất, mở rộng diện tích cà phê vượt mốc hiện tại 3.031,78 ha lên 4.500 ha vào năm 2020, chuyển đổi 965 ha ruộng lúa nước sang thâm canh giống mới cho năng suất cao. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đại gia súc (bò, trâu) theo hướng bán chăn thả, phấn đấu nâng tổng đàn gia súc tăng trưởng 6 - 8%/năm, kết hợp giao khoán bảo vệ 157.883 ha rừng tự nhiên nhằm tạo sinh kế lâm nghiệp bền vững cho hộ nghèo.

Thứ hai, tập trung nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi và điện lưới. Sở Giao thông Công chánh tỉnh Sê Kông phối hợp với chính quyền huyện đẩy nhanh tiến độ nâng cấp tuyến Quốc lộ 16B nối từ thị xã Sê Kông đến biên giới Việt Nam, đặt mục tiêu đến năm 2020 nâng tỷ lệ bản có đường ô tô đi lại thuận tiện 2 mùa từ 28,98% lên trên 75%. Mở rộng mạng lưới điện quốc gia đạt độ bao phủ trên 60% số hộ dân và nâng tỷ lệ dân số nông thôn được cấp nước sạch lên trên 90%.

Thứ ba, khai thác tối đa lợi thế kinh tế biên mậu và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ban Quản lý cửa khẩu tỉnh Sê Kông cần phối hợp với các cơ quan hữu quan đẩy mạnh hoạt động thông thương tại cặp cửa khẩu Đắc Ta Ọc - Nam Giang (kết nối Quảng Nam) và Đắc Bra - Đắc Blô (kết nối Kon Tum). Tạo cơ chế ưu đãi thuế và đất đai để thu hút ít nhất 15 đến 20 doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào chế biến dược liệu, nông sản, cung ứng vật tư nông nghiệp và bao tiêu sản phẩm cho nông dân.

Thứ tư, đổi mới cơ chế tín dụng ưu đãi và phương thức hỗ trợ hộ nghèo tự vươn lên. Ngân hàng Chính sách và Hội Nông dân huyện cần triển khai gói vay vốn ưu đãi lãi suất thấp với thời hạn 3 đến 5 năm dành riêng cho 1.233 hộ nghèo để mua sắm công cụ sản xuất và con giống. Chấm dứt triệt để tình trạng bán lúa non thông qua việc thành lập các quỹ quay vòng vốn cấp bản, đồng thời áp dụng mô hình phân công cán bộ chuyên trách "cầm tay chỉ việc", hỗ trợ kỹ thuật canh tác trực tiếp cho từng nhóm hộ nghèo.

Thứ năm, nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục, y tế và phát triển nguồn nhân lực cơ sở. Huyện ủy và UBND huyện Đắc Chưng cần bố trí ngân sách xây dựng mới phòng học kiên cố, phấn đấu nâng tỷ lệ học sinh theo học trung học phổ thông từ 18,3% lên trên 35% vào năm 2020. Hoàn thiện mạng lưới 8 trạm xá xã, bổ sung y bác sĩ có chuyên môn, cung cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho 100% hộ nghèo và trẻ em dưới 5 tuổi nhằm giảm thiểu tỷ lệ suy dinh dưỡng và ngăn chặn nguy cơ tái nghèo do ốm đau, bệnh tật.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý nhà nước tại CHDCND Lào và Ban điều phối phát triển khu vực Tam giác Phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV). Luận văn cung cấp bức tranh thực tế sống động và hệ thống giải pháp thiết thực để xây dựng chính sách giảm nghèo đặc thù cho 47 huyện nghèo miền núi.

Nhóm thứ hai là các giảng viên, nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Xã hội học nông thôn và Quản lý công. Đây là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp phân tích định tính với khảo sát mẫu định lượng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số biên giới.

Nhóm thứ ba là các chuyên gia phân tích dự án thuộc các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP). Kết quả nghiên cứu là nguồn dữ liệu cơ sở quan trọng để thiết kế các dự án viện trợ cơ sở hạ tầng, cấp nước sạch và tài chính vi mô tại Nam Lào.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp, khai khoáng, xây dựng thủy điện và thương mại xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu biên giới Việt - Lào. Luận văn cung cấp thông tin toàn diện về đặc điểm địa bàn, tiềm năng tài nguyên cây công nghiệp và nguồn lao động bản địa tại huyện Đắc Chưng.

Câu hỏi thường gặp

Chuẩn nghèo được áp dụng trong nghiên cứu tại huyện Đắc Chưng được xác định theo quy định nào? Nghiên cứu áp dụng tiêu chí chuẩn nghèo quốc gia theo Nghị định số 309/TTg của Thủ tướng Chính phủ Lào, xác định mức thu nhập bình quân tại khu vực nông thôn là dưới 180.000 kíp/người/tháng (tương đương mức tiêu thụ năng lượng tối thiểu dưới 2.100 kcal/người/ngày). Bản nghèo được định lượng khi có trên 50% số hộ nghèo hoặc thiếu hụt nghiêm trọng các công trình cơ sở hạ tầng y tế, giáo dục, giao thông.

Đâu là nguyên nhân chính khiến tỷ lệ hộ nghèo tại huyện Đắc Chưng vẫn ở mức cao 34,84% vào năm 2014? Nguyên nhân chủ yếu bao gồm địa hình hiểm trở với 85% đồi núi cao, 71,02% đường giao thông chỉ đi được mùa khô, thiếu hụt nghiêm trọng tư liệu sản xuất (30 hộ khảo sát chỉ có 3 con trâu cày), tập quán canh tác lạc hậu và tàn tích bom mìn chiến tranh gây trở ngại lớn cho việc khai hoang, mở rộng diện tích canh tác.

Mô hình sinh kế nào được đánh giá là tiềm năng nhất giúp người dân Đắc Chưng thoát nghèo bền vững? Mô hình tối ưu là phát triển nông - lâm nghiệp hàng hóa kết hợp, trọng tâm là mở rộng vùng trồng cà phê vượt diện tích 3.031,78 ha hiện có, phát triển chăn nuôi bò thịt theo nhóm hộ và thu hoạch lâm sản phụ dưới tán rừng tự nhiên, gắn kết chặt chẽ với chuỗi tiêu thụ sản phẩm thông qua tuyến thương mại biên giới Việt - Lào.

Kinh nghiệm giảm nghèo từ Việt Nam có thể ứng dụng như thế nào vào thực tiễn huyện Đắc Chưng? Chính quyền huyện Đắc Chưng có thể học tập trực tiếp mô hình Chương trình 135 và Chương trình 327 của Việt Nam: tập trung đầu tư hạ tầng thiết yếu có trọng điểm, thực hiện nguyên tắc "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng", đồng thời lồng ghép chặt chẽ chính sách tín dụng ưu đãi với khuyến nông, khuyến lâm tại chỗ.

Luận văn đã sử dụng phương pháp chọn mẫu khảo sát thực địa như thế nào để đảm bảo tính khoa học và đại diện? Tác giả đã chọn lọc 10 bản tiêu biểu đại diện cho 33 bản nghèo của toàn huyện Đắc Chưng dựa trên mức độ tương đồng về điều kiện tự nhiên và kinh tế. Tại mỗi bản, tác giả lấy mẫu ngẫu nhiên 3 hộ để phỏng vấn sâu trực tiếp (tổng số 30 hộ), kết hợp lấy ý kiến cán bộ quản lý để thu thập dữ liệu xác thực về thu nhập và tài sản.

Kết luận

Thứ nhất, luận văn đã hệ thống hóa toàn diện lý luận và thực tiễn về công tác xóa đói giảm nghèo cho hộ nông dân vùng cao biên giới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại CHDCND Lào.

Thứ hai, công trình đã phản ánh chân thực bức tranh kinh tế - xã hội huyện Đắc Chưng giai đoạn 2010 - 2015, chỉ rõ dù GDP tăng trưởng 10,8%/năm nhưng tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức 34,84% với 33/54 bản nghèo do những nút thắt nghiêm trọng về hạ tầng và tư liệu sản xuất.

Thứ ba, nghiên cứu đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đột phá, có tính khả thi cao giai đoạn 2016 - 2020, bao gồm phát triển vùng cây công nghiệp cà phê, hiện đại hóa Quốc lộ 16B, đẩy mạnh kinh tế cửa khẩu và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội.

Thứ tư, kết quả khảo sát thực địa tại 10 bản nghèo cung cấp luận cứ thực tiễn quan trọng, đóng góp nguồn tư liệu quý báu phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Sê Kông cũng như các cơ quan nghiên cứu phát triển nông thôn.

Thứ năm, chính quyền địa phương, các viện nghiên cứu và tổ chức phát triển cần tiếp tục ứng dụng các giải pháp của luận văn vào thực tế, đồng thời mở rộng quy mô nghiên cứu chuỗi giá trị nông sản và tác động của biến đổi khí hậu nhằm bảo đảm mục tiêu giảm nghèo bền vững trong giai đoạn tiếp theo.