phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương § tiết. Co sé lý luận và thực tiễn về xóa đói giảm nghèo cho hộ nông. Thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Dac Chung, tinh Se Kong. Những giải pháp chủ yếu nhằm day mạnh công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Dac Chung, tỉnh Se Kong “ CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN VÈ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO HỘ NÔNG DÂN 1.
QUAN NIEM VE DOI NGHEO VA CAC NHAN TO ANH HUONG TOI DOI NGHEO 1. Quan niệm về đói nghèo Hiện nay, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia, mà là vấn đề có tính toàn cầu, bởi lẽ ở tất cả các quốc gia trên thể giới, kể cả những nước giàu nhất về kinh tế như Mỹ, Đức, Nhật. người nghèo vẫn còn và có lẽ khó có thể hết người nghèo khi trong các xã hội chưa thể chấm dứt những rủi ro về kinh tế, xã hội, môi trường và sự bắt bình đẳng trong phân phối của cải làm ra. Rủi ro quá nhiều trong sản xuất và đời sống làm cho một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng tôn thương về thẻ chất, tài chính và những điều kiện cơ bản của cuộc sống và kết quả trở thành nghèo.
Thang 3/1995, tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới vẻ phát triển xã hội ở Copenhagen-Đan Mạch, những người đứng đầu các quốc gia đã trịnh trọng tuyên bố: Chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trên thế giới, thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp tác quốc tế, coi đây như một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xã hội, chính trị, kinh tế của nhân loại. [H] Chúng ta thường thấy nhiều khái niệm về øghẻo như: nghèo đói, nghẻo. khổ, giàu nghèo, phân hóa giàu nghèo hay khoảng cách giảu nghèo. Những khái niệm này được các học giả, các nhà khoa học định nghĩa dưới nhiề góc độ, khía cạnh khác nhau như nghèo về Ait chất, nghèo vé tri thú hóa.
Mặt khác, bên cạnh khái niệm nghèo, còn sử dụng khái 15 biệt mức độ rất nghèo của một phận dân cư. Chính vì vậy, hiện nay chúng ta thường khái niệm kép đói nghèo hoặc nghèo đói Có nhiều khái niệm khác nhau về nghèo. Ngân hàng Thế giới đưa ra quan điểm: Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như: dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tốn thương, không có quyển phát ngôn và không có quyền lực Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu A- Thai Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thai Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng: *Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những như cầu cơ bản của con người mà những như câu dy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội.
phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận ”. Abapia Sen, người được giải Nôben về kinh tế năm 1998, cho rằng: “Nghẻo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đông”. ø Quan niệm của chính người nghèo ở nước ta cũng như một số quốc gia khác trên thế giới về nghèo đói đơn giản hơn, trực diện hơn. Kết quả các cuộc.
tham vấn có sự tham gia của người dân nói rằng: “Nghẻo đói là gì ư2 Là hôm nay con tôi ăn khoai, ngày mai không biết con tôi ăn gì? Bạn nhìn nhà ở của tôi thì biết, trong nhà nhìn thấy mặt trời, khi mưa thì trong nhà cũng như ngoài sân” hoặc: “Nghèo đói đồng nghĩa với nhà ở bằng tranh tre, ntra la tam bg, xiéu veo, dột nát; không đủ đất đai sản xuất, không có trâu bò, không có tivi, con cái that học, ốm đau không có tiền đi khám chữa bệnh 16 Dựa vào những khái niệm chung do các tổ chức quốc tế đưa ra và căn cứ vào thực trạng kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong chiến lược toàn diện về tăng. trưởng và XĐGN đến năm 2005 và 2010, Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, do ES§CAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993. Đồng thời vấn đề nghèo đói ở Việt Nam còn được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình và công đồng nên bên cạnh khái niệm nghèo đói, còn có một số khái niệm sau: Déi: La tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 2 tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chỉ trả cộng đồng.
Hộ đói: Là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà ở tạm bợ, rách nát. Hộ nghèo: Là hộ đói ăn không đứt bữa, mặc không đủ lành, không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất. Xã nghèo: Là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch. trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao.
Vùng nghèo: Là địa bàn tương đối rộng, nằm ở những khu vực khó khăn. hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghẻo cao. [3] Nhu vay, đói nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện như: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng, những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định. Qua nghiên cứu, chúng ta nhận thấy đói nghèo có nguồn gốc căn nguyên từ kinh tế; nhưng với tư cách là hiện tượng tồn tại phổ.
biến ở các quốc gia trong tiến trình phát triển, đói nghèo thực chất là hiện tượng, kinh tỉ xã hội phức tạp, chứ không thuần túy chỉ là vấn đề kinh tế cho dù các tiêu chí đánh giá của nó trước hết và chủ yếu dựa trên các tiêu chí về kinh tế. Vì ” khi nghiên cứu những tác thưc giải quyết vấn đề đói nghẻo cần phải đánh giá những tác động của nhân tố chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, có như vậy mới đề ra được các giải pháp đồng bộ cho công tác XĐGN ở nước ta, đặc biệt là ở vùng miễn núi, biên giới, vùng đồng bảo dân tộc ít người. ~ Theo điều 2 của Nghị định số 309/TTg của Thủ tướng Chính phủ Lào, Đói nghèo là do thiếu yếu tố cơ bản trong sinh hoạt hằng ngày như: thiếu lương, thực không thể đáp ứng lượng calo tiêu dùng bình quân 2.100 calo/người/ngày, thiếu đồ mặc cần thiết, không có nhà cửa én định, không thể chỉ trả trong điều kiện bệnh tật lúc ốm đau, không có tiền chỉ trả, chu cấp cho con cháu học hành, không có điều kiện tiếp cận với mạng lưới dịch vụ về cơ sé ha ting can thiết của xã hội[ 28, tr 93-94] Theo điều 4 của Nghị định số 309/TTg của Thủ tướng Chính phủ Lào, hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân tính thành tiền kíp trên người trên tháng thấp hơn chuẩn mà đã ghỉ vào trong điều 3 của Nghị định 309/TTg[ 28, tr 94]. Theo điều 5 của Nghị định số 309/TTg của Thủ tướng Chính phủ Lào, Bản nghèo là bản thiếu điều kiện cơ bản trong phát triển như: - Bản có hộ nghèo nhiều hơn 50% trở lên của số hộ toàn bản.
~ Bản không có trường tiểu học hoặc tốn thời gian hơn 1 tiếng đi bộ đến trường ở trường gần Bản nhất. ~ Bản không có tủ thuốc hoặc hiệu bán thuốc, nếu sẽ đi trạm xá hoặc Trung tâm y tế huyện gần nhất phải sử dụng thời gian đi bộ nhiều hơn 2 giờ. ~ Bản không có nước sạch sử dụng như: nước giếng, nước ống. ~ Bản không có đường giao thông vận tải đến tận nơi ở hoặc có đường.
nhưng chỉ được mùa khôi 28, tr 94-95]. Theo điều 6 của Nghị định số 309/TTg của Thủ tướng Chính phủ Lào, Chuẩn nghèo đối với huyện là có số Bản nghèo nhiều hơn 51% của tổng số bản trong huyện[ 28, tr 96] 1. Phân loại nghèo 18 Tình trạng nghèo đói được đặt trong mối tương quan với mức chuẩn của. xã hội ở thời điểm đánh giá.
Do đó một người có thể nghèo tương đối nhưng. không nhất thiết phải bị nghèo tuyệt đối và ngược lại. Do vậy cần phân biệt nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối. Nghèo sơ cấp và nghèo thứ cấp, nghèo tạm thời và nghèo thường xuyên.
Nghéo tuyét đối: Dễ có cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước dang phat trién, Robert McNamara, khi la giám đốc của Ngân hàng Thể giới đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối nhur sau: "Nghéo ở mức độ tuyệt đối. là song ở ranh giới ngoài cùng của tổn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đầu tranh đề sinh tôn trong các thiếu thốn tôi tệ và trong tình trạng bị bỏ bê và mắt phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta". [10] Nghéo trơng đối: Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo.
được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó. Nhu v „ nghèo tuyệt đối là tình trạng mà những người nghèo không đạt được mức sống tối thiểu theo quy định. Còn nghẻo tương đối đẻ chỉ mức nghẻo.
trong mối quan hệ so sánh giữa người nghèo với cư dân khác trong xã hội.Nghèo sơ cấp hay còn gọi là nghèo hữu hình là tình trạng mức sống của người được nghiên cứu thấp đến mức họ không tự đảm bảo được sự tổn tại có tính hữu hình của họ. Nghéo thứ cấp là nghèo về tỉnh thần, là sự thiếu thốn trong lĩnh vực tâm lý xã hội, trình độ dân trí thấp. Ranh giới nghèo: ranh giới cho nạn nghèo tương được dựa vào nhiều số liệu thống kê khác nhau cho một xã hội.