Chương 1: Cơ sở lý luận về chuỗi giá trị và cho vay theo chuỗi giá trị nông nghiệp. Chương 2: Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay đối với chuỗi giá trị nông nghiệp của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2011- 2016. Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay đối với chuỗi giá trị nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Trong thời gian qua đã có một số nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề cho vay theo chuỗi giá trị trong nông nghiệp, cụ thể: Thực hiện chính sách cho vay phát triển chuỗi sản phẩm nông nghiệp theo định hướng của Chính phủ qua hệ thống ngân hàng - một số vấn đề đặt ra, Khúc Thế Anh, Đào Thị Thu Trang (2015), Viện Ngân hàng Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân.
Nghiên cứu đã đưa ra hai qua điểm của nước ngoài liên quan đến lý luận về cho vay chuỗi sản phẩm trong nông nghiệp: quan điểm của Rodolfo Quirós (2006) cho vay đối với chuỗi sản phẩm nông nghiệp là việc các tổ chức tín dụng hỗi trợ vốn và/hoặc các dịch vụ khác tới một mắc xích hoặc toàn bộ khâu sản xuất và cung ứng sản phẩm nông nghiệp của hộ sản xuất hoặc doanh nghiệp. Nghiên cứu đã cho rằng đây là quan điểm rộng nhất về cho vay đối với chuỗi sản phẩm nông nghiệp. Quan điểm của Hartwich và ctg (2010) khi nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp của Nigieria đối với 9 sản phẩm nông nghiệp, cho rằng cho vay đối với các sản phẩm nông nghiệp là việc hệ thống ngân hàng tài trợ đối với một hệ thống các sản phẩm cần thiết cho đầu vào của ngành nông nghiệp. Nghiên cứu đã chỉ ra ưu và nhược điểm của quan điểm này.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đưa ra các quan điểm về cho vay đối với chuỗi sản phẩm ở Việt Nam và nhận định rằng các quan điểm này ở Việt Nam không thể hiện tính thống nhất ở chỗ không tách bạch được cho vay theo từng món và cho vay theo chuỗi sản phẩm. Tác giả nghiên cứu đã đánh giá những thuận lợi và khó khăn mà ngân hàng gặp phải khi cho vay theo chuỗi sản phẩm trong nông nghiệp, qua đó cho thấy sự cần thiết phải có một chính sách nhất định đối với chuỗi sản phẩm Footer Page 20 of 107. Header Page 21 of 107. Tác giả đã khái lược các quy định liên quan về cho vay ngành nông nghiệp và chuỗi sản phẩm nông nghiệp từ năm 2010 đến nay, gồm ba nghị định của Chính phủ và một số văn bản của NHNN về cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn và các các chính sách cho vay ưu đãi đối với lĩnh vực nông nghiệp.
Nghiên cứu đã đánh giá tình thực hiện cho vay chuỗi sản phẩm nông nghiệp: tỷ trọng cho vay của các nhóm ngân hàng, nhóm ngân hàng chính sách chiếm 1/3 tổng dư nợ toàn hệ thống với 95% dư nợ trung vài dài hạn, nhóm NHTM quốc doanh (cũ) chiếm 25% và nhóm NHTM khác; tỷ lệ nợ xấu lớn. Trên cơ sở đánh giá thực trang, nghiên cứu đã đưa ra ba tồn tại và ba giải pháp đối với các vấn đề cho vay chuỗi sản phẩm nông nghiệp: về tài sản đảm bảo, thời gian cho vay và vấn đề xử lý nợ vay. Đẩy mạnh tín dụng xanh cho phát triển nông nghiệp theo mô hình chuỗi giá trị, Vũ Thị Kim Anh (2015), Đại học Công đoàn. Trên cơ sở các định nghĩa về chuỗi giá trị theo Micheal Porter (1985), theo Kaplinsky (1999), theo Kaplinsky và Morris (2001) và Sonja Vermeulen et al.
(2008), nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa và tổng hợp thành sơ đồ chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp gồm các khâu được mô tả cụ thể bằng các “hoạt động” trong chuỗi, bên cạnh các khâu của chuỗi có các “tác nhân” và “nhà hỗ trợ chuỗi giá trị”; nghiên cứu xác định trong chuỗi giá trị của các ngành hàng nông sản hiện có 2 hình thức liên kết đặc trưng là liên kết ngang và liên kết dọc. Nghiên cứu đã khái quát về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Chính phủ (Nghị định 55/2015/NĐ-CP), phân tích và cho rằng các ngân hàng cần tăng cường cho vay theo chuỗi liên kết trong sản xuất – kinh doanh nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để hạn chế rủi ro. Nghiên cứu đã đưa ra một số ví dụ thực tế và nhận định, phương thức cho vay theo chuỗi giá trị và quản lý theo dòng tiền của toàn chuỗi được xem là khâu quản lý then chốt. Tác giả nghiên cứu đã đưa ra ba giải pháp để tăng cường tín dụng xanh trong phát triển nông nghiệp theo mô hình chuỗi giá trị: lựa chọn chiến lược cho vay phù hợp, tăng cường quản trị rủi ro chiến lược trong cho vay nông nghiệp và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong nông nghiệp.
Nâng cao vai trò của ngân hàng trong chuỗi giá trị hàng nông sản của Việt Nam-thực trạng và giải pháp, Đặng Hoàng Anh (2015), Đại học Thương Mại. Nghiên cứu đã đưa ra ba khái niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới về chuỗi giá trị: Footer Page 21 of 107. Header Page 22 of 107. 9 Michael Porter, phân tích filiere và Gereffi.
Những tác nhân tham gia chuỗi giá trị nông sản, theo nghiên cứu, gồm: cơ sở nghiên cứu, hộ gia đình, trang trại; doanh nghiệp, người thu gom, thương lái; ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân; các cơ sở bản lẻ, siêu thị. Nghiên cứu đã đánh giá về tình hình thí điểm cho vay liên kết theo chuỗi giá trị trong nông nghiệp theo Quyết định số 1050/QĐ-NNN của NHNN, đưa ra mô hình cho vay theo chuỗi giá trị tại Kazakhstan đối với mặt hàng bông, đậu nành và lúa mì; một số kinh nghiệm, khuyến nghị của Tổ chức tài chính quốc tế (IFC) về thúc đẩy tín dụng nông nghiệp, quản lý rủi ro chiến lược trong cho vay nông nghiệp. Qua những phân tích đó, nghiên cứu đã nêu được vai trò quan trọng của các ngân hàng thương mại trong các chuỗi liên kết giữa ngân hàng, doanh nghiệp và người dân; trong việc giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra cho chuỗi giá trị; trong tiết kiệm chi phí cho chuỗi giá trị. Từ đó, tác giả nghiên cứu đã đưa ra ba kiến nghị về giải pháp nâng cao vai trò của ngân hàng trong chuỗi giá trị nông sản Việt Nam: tăng cường vai trò của Chính phủ trong các hoạt động tín dụng nông nghiệp và nông thôn; tăng cường năng lực tài chính, quản trị rủi ro và đổi mới hoạt động của các tổ chức tín dụng nông nghiệp và nông thôn, nòng cốt là ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng chính sách xã hội; giải pháp cuối cùng là tăng cường đa dạng hóa các nguồn vốn và sản phẩm tín dụng cho phát triển nông nghiệp và nông thôn.
Ngành ngân hàng với phát triển chuỗi giá trị và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, Nguyến Tiến Đông (2015), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Nghiên cứu đã chỉ ra được rằng liên kết theo chuỗi giá trị trong nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay của Việt Nam, ngân hàng cung ứng vốn cho các công đoạn của chuỗi thông qua các doanh nghiệp đầu mối, vì vậy trong chuỗi liên kết, doanh nghiệp đầu mối có vai trò trong việc hỗ trợ tài chính ban đầu vừa có vai trò kiểm định chất lượng, đồng thời đóng vai trò trong tiêu thụ hàng hóa, đưa hàng hóa ra thị trường. Nghiên cứu đã khái quát một số nội dung liên quan chính sách tín dụng khuyến khích phát triển mô hình liên kết chuỗi, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay như: cơ chế lãi suất đặc thù, mức cho vay, tài sản đảm bảo, điều kiện tham gia chương trình, đối tượng vay vốn,. Nghiên cứu đã đánh giá kết quả đạt được sau một năm triển khai chương trình, những đóng góp Footer Page 22 of 107.
Header Page 23 of 107. 10 do chương trình mang lại: góp phần chuyển dịch cơ cầu kinh tế địa phương, xây dựng nông thôn mới; đối với người nông dân tham gia chuỗi liên kết đã đạt được những lợi ích thiết thực, thu nhập cao và ổn định hơn trước, tiết kiệm được chi phí vật tư, sản phẩm đầu ra được bao tiêu,.; các doanh nghiệp đầu mối tham gia liên kết ổn định về nguồn nguyên liệu, thị trường, lợi nhuận,.; qua chương trình, các địa phương đã bước đầu hình thành các mô hình mẫu trong sản xuất nông nghiệp theo chuỗi liên kết, ứng dụng công nghệ cao,. Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai, chương trình cũng gặp phải một số khó khăn, vướng mắc về pháp lý, về nhận thức của người dân và về nguồn lực tài chính của một số doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đưa ra định hướng chính sách tín dụng đối với phát triển chuỗi giá trị trong thời gian tới: tiếp tục các giải pháp nhằm hỗ trợ phát triển ngành nông nghiệp như quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn, chỉ đạo các NHTM tập trung vốn cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nghiên cứu đưa ra những đề xuất của NHNN đối với Chính phủ, đối với chính quyền địa phương để phát triển mô hình liên kết chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp. Nghiên cứu của Gladys M.Musuva (2015) về những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay chuỗi giá trị trà ở quận Kiambu, Kenya. Nghiên cứu này đã đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay chuỗi giá trị trà tại quận Kiambu, Kenya. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 384 nông dân trồng trà tại quận Kiambu, Kenya, qua phân tích hồi quy logistic đã xác định 6 nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài trợ chuỗi giá trị trà tại quận Kiambu, Kenya gồm: đặc tính của người vay, đặc tính nông trại, quá trình thực hiện khoản vay, cơ chế quản lý rủi ro và các cơ chế của nhà nước.
Nghiên cứu đã tìm ra hiệu quả của các đặc điểm của người đi vay (giới tính, tuổi, trình độ học vấn, và quy mô hộ gia đình) đối với hiệu quả của việc tài trợ chuỗi giá trị Kết quả cho thấy mối quan hệ tích cực và quan trọng giữa giáo dục của nông dân và số tiền vay; trình độ học vấn của nông dân có mối quan hệ đáng kể giữa khả năng sinh lời của doanh nghiệp sản xuất trà.