chương 1 trình bày tổng quan về EVFTA và so sánh EVFTA với các hiệp định khác mà Việt Nam tham gia. Chương 2 đưa ra các kinh nghiệm quốc tế, tập trung vào phân tích yêu cầu điều chỉnh chính sách và thể chế mà một số quốc gia đã thực hiện nhằm thực thi các FTA. Mặc dù ngụ ý chính sách và thể chế của các hiệp định với EU là khá lớn, chương này tập trung phân tích những vấn đề phát sinh từ những đòi hỏi trực tiếp và một số tác động 10 gián tiếp của các hiệp định của EU. Đặc biệt, tập trung vào các vấn đề môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải cách doanh nghiệp nhà nước.
Chương 3 đánh giá mức độ sẵn sàng của nền kinh tế và doanh nghiệp, bên cạnh việc đánh giá mức độ sẵn sàng chung của cả nền kinh tế trong đó tập trung vào những yếu tố liên quan đến khả năng chống chịu với các cú sốc hội nhập, những rủi ro mà Việt nam sẽ gặp phải khi mở cửa, chương này cũng đánh giá mức độ sẵn sàng và sự chuẩn bị của doanh nghiệp cho EVFTA. Chương 4, trình bày một số tác động định lượng của EVFTA, đây là cơ sở để đánh giá hàm ý đối với điều chỉnh thể chế và chính sách trong các chương tiếp theo. Chương 5 đưa ra các hàm ý chính sách và thể chế đối với ba lĩnh vực là đầu tư, năng lực cạnh tranh, môi trường kinh doanh và doanh nghiệp nhà nước. Hàm ý thể chế đối với một số vấn đề mang tính xuyên suốt như kinh tế thị trường, chính sách công nghiệp, quyền sở hữu trí tuệ được đề cập trong chương 6.
Phần kết luận trình bày tóm tắt những phát hiện chính của cuốn sách và một số ngụ ý, đề xuất cho cải cách thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. - Báo cáo số 193/BC-CP của Chính Phủ ngày 08/5/2020 về Hiệp định thương mại tự do giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu đã chỉ rõ những tác động về mặt kinh tế đối với Việt Nam, đó là: EVFTA sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (bình quân từ 2,18% đến 3,25% cho 5 năm đầu thực hiện và khoảng 4,57% đến 5,3% cho 5 năm tiếp theo) và trao đổi thương mại hai chiều (xuất khẩu sang EU tăng khoảng 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 trong khi nhập khẩu từ EU tăng khoảng 33,06% vào năm 2025 và 36,7% vào năm 2030). Ngoài ra, các cam kết trong lĩnh vực dịch vụ và đầu tư sẽ giúp Việt Nam thu hút vốn đầu tư chất lượng cao của nước ngoài, đặc biệt từ các nước EU cũng như thúc đẩy quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế, hoàn thiện thể chế và môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, dịch COVID-19 đã và đang ảnh hưởng mạnh đến tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu của không chỉ Việt Nam mà trên toàn thế giới.
Do vậy, việc EVFTA được đưa vào thực thi mang ý nghĩa quan trọng giúp bù đắp sự suy giảm của nền kinh tế trong và sau giai đoạn dịch bệnh. Từ phía doanh nghiệp, EVFTA còn mang đến cơ hội thị trường đa dạng hơn, giúp doanh nghiệp lấy lại đà phục hồi trong giai đoạn khó khăn này. - Bùi Quý Thuấn (2020), trong nghiên cứu Lý thuyết và phương pháp đánh giá tác động của hiệp định thương mại tự do đến thương mại, bài viết đã tổng hợp các lý thuyết liên quan đến tác động của hiệp định thương mại tự do đến thương mại thông qua các chỉ số như: lợi thế cạnh tranh (RCA); định hướng khu vực (RO); cường độ thương mại (TII) để đánh giá mức độ trao đổi thương mại giữa các quốc gia và giới thiệu mô hình trọng lực nhằm giải thích các nhân tố tác động chuyển hướng thương mại và tạo lập thương mại. Qua đó, xem xét vai trò của phương pháp này trong việc đánh giá tác động của hiệp định thương mại tự do đối với trường hợp Việt Nam.
Nghiên cứu này đã chỉ ra, các chỉ số RCA, RO có thể đánh giá mức độ trao đổi thương mại trước và sau khi hiệp định thương mại tự do được ký kết cũng như dự đoán xu hướng và tiềm năng quan hệ thương mại giữa các thành viên tham gia ký kết hiệp định thương mại tự do. - Phan Thế Công và Nguyễn Đoan Trang (2020), trong nghiên cứu Mô hình đánh giá tác động của thuế quan đến xuất và nhập khẩu hàng hoá, bài viết đã tổng 11 quan một số mô hình thực nghiệm được các nhà nghiên cứu kinh tế học sử dụng để đánh giá tác động của thuế quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá và trong nghiên cứu này, các tác giả đã nghiên cứu khả năng ứng dụng mô hình GTAP (Global Trade Analysis Project) để đánh giá tác động của thuế quan tới xuất và nhập khẩu ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình GTAP không chỉ cho phép đánh giá tác động lên nền kinh tế nói chung mà còn đối với từng ngành sản xuất riêng. Việc áp dụng mô hình GTAP hoàn toàn có thể mở rộng sang các lĩnh vực khác như cắt giảm hàng rào phi thuế quan, thay đổi chính sách đầu tư hay mở cửa khu vực dịch vụ.
Các nghiên cứu liên quan đến xuất khẩu hàng nông sản và nhân tố tác động đến hàng nông sản xuất khẩu - Roger và cộng sự (2006), với nghiên cứu The influence of internal and external firm factors on international product adaptation strategy and export performance: A three-country comparison. Trong nghiên cứu này, đã xây dựng mô hình về mối quan hệ chiến lược thích ứng sản phẩm và hiệu suất xuất khẩu bằng cách sử dụng dữ liệu thu thập dữ liệu các nhà quản lý ở Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản. Mô hình nghiên cứu được kết hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp làm tiền đề cho hoạt động xuất khẩu, với chiến lược thích ứng sản phẩm như một biến trung gian chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chiến lược thích ứng sản phẩm có liên quan tích cực đến hoạt động xuất khẩu ở cả ba quốc gia.
Ngoài ra, sự phụ thuộc vào xuất khẩu, vốn ít được chú ý trong các nghiên cứu trước đây thì trong nghiên cứu lần này, nhóm tác giả cho rằng đây là các nhân tố quan trọng của chiến lược thích ứng sản phẩm. Sự tương đồng giữa thị trường trong nước và thị trường mục tiêu nói chung được coi là một yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn thị trường xuất khẩu, mối quan hệ với chiến lược thích ứng sản phẩm và hiệu quả xuất khẩu khác nhau giữa ba quốc gia. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra: chiến lược thích ứng với sản phẩm sẽ dẫn đến hiệu quả hoạt động tốt hơn trên thị trường xuất khẩu; các hoạt động tổ chức đổi mới, bao gồm cả giao tiếp tốt hơn, trực tiếp dẫn đến cải thiện hiệu quả hoạt động trên thị trường xuất khẩu. - Ngô Thị Tuyết Mai (2007) nghiên cứu Nâng cao khả năng cạnh tranh hàng nông sản của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Tác giả đã sử dụng các phương pháp như: phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích ngành sản phẩm, phương pháp phân tích kinh doanh nhằm phân tích các vấn đề lý luận, thực tiễn một cách có hiệu quả. Kết quả nghiên cứu sau khi phân tích thực trạng sức cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam như gạo, cà phê, chè, cao su… chỉ ra rằng Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển một số mặt hàng nông sản phục vụ cho xuất khẩu. Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra năng lực cạnh tranh của ngành XKNS Việt Nam còn thấp do chất lượng sản phẩm chưa cao, chủng loại đơn điệu, mẫu mã chưa phong phú, từ đó đề ra 8 nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới. - Đinh Văn Thành (2010), trong nghiên cứu Tăng cường năng lực tham gia của hàng nông sản vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, đã phân tích về đã phân tích, đánh giá thực trạng năng lực tham gia của hàng nông sản Việt Nam vào chuỗi giá trị hàng nông sản toàn cầu cũng như đi sâu phân tích, 12 đánh giá cụ thể năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của 09 mặt hàng nông sản Việt Nam.
Thông qua nghiên cứu, đề tài đã rút ra những thuận lợi và khó khăn cơ bản trong tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của hàng nông sản Việt Nam để làm cơ sở xây dựng các chính sách, giải pháp nhằm nâng cao năng lực tham gia của hàng nông sản Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đề tài đề xuất 04 nhóm giải pháp chung và 04 nhóm giải pháp cụ thể cho mỗi mặt hàng nghiên cứu. Về mặt kết quả, đề tài đã hệ thống hóa, luận giải và bổ sung nhận thức về chuỗi giá trị toàn cầu hàng nông sản; những đặc điểm của chuỗi giá trị hàng nông sản; các mô hình chuỗi giá trị hàng nông sản, các điều kiện tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; nội hàm và các tiêu chí xác định năng lực tham gia của hàng nông sản vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, xây dựng một khung phân tích chuỗi giá trị hàng nông sản toàn cầu làm cơ sở lý thuyết để phân tích các chuỗi giá trị hàng nông sản cụ thể cũng như nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong việc nâng cao năng lực tham gia vào chuỗi giá trị hàng nông sản toàn cầu.
- Nguyễn Minh Sơn (2010), trong nghiên cứu Các giải pháp kinh tế nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tác giả sử dụng phương pháp: thống kê, phân tích tổng hợp đánh giá thực trạng và dự báo về tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam đến năm 2020. Nghiên cứu đã hệ thống một số vấn đề lý luận chung về xuất khẩu nông sản cũng như đánh giá thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam, nêu rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân trong quá trình phát triển sản xuất và xuất khẩu nông sản. Nghiên cứu cũng đề xuất mốt số quan điểm, mục tiêu, phương hướng và kiến nghị giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Việt Nam.