lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý trị giá hải quan. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ix Luan van CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRỊ GIÁ HẢI QUAN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỊ GIÁ HẢI QUAN.
Thuế Hải quan đã ra đời và tồn tại khi những hình thái Nhà nƣớc đầu tiên xuất hiện. Tại các lãnh địa thời Trung cổ, các thƣơng nh n đã than phiền với nhau về yếu tố “vô lý” mà họ phải trả cho các Lãnh chúa khi họ mang hàng hóa ra vào những khu vực do các Lãnh chúa đó quản lý. Theo ghi nhận của Tổ chức Hải quan Thế giới, các điều khoản đầu tiên về thuế Hải quan xuất hiện vào cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tại Mỹ và Ch u Âu. Khi đó, ngƣời ta quy định phải thu một khoản thuế Hải quan nhất định đối với một số loại hàng hóa trong thƣơng mại quốc tế.
Thuế Hải quan (hay thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) là một khoản tiền đƣợc tính dựa trên các căn cứ nhất định do đối tƣợng nộp thuế phải nộp vào Ng n sách Nhà nƣớc khi tiến hành xuất khẩu hoặc nhập khẩu loại hàng hóa là đối tƣợng chịu thuế Hải quan qua biên giới quốc gia. Thuế Hải quan ngày càng phát triển và có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Đặc biệt là những nƣớc đang phát triển, do nhu cầu cần nguồn lực tài chính phục vụ các dịch vụ công và nhu cầu bảo hộ sản xuất trong nƣớc, thuế suất thuế Hải quan thƣờng cao và đánh vào hầu hết các mặt hàng nhập khẩu, theo đó Thuế Hải quan chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng thu ng n sách, chẳng hạn, ở Pakistran, Thuế Hải quan chiếm từ 30 – 40% tổng thu ngân sách, ở Việt Nam trong những năm trƣớc đ y Thuế Hải quan chiếm 25 – 30% tổng thu ng n sách… Trong xu thế hội nhập và giao lƣu thƣơng mại toàn cầu, những yếu tố cơ bản của hệ thống Thuế Hải quan nhƣ biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu, trị giá hải quan, xuất xứ hàng hóa đã trở thành những nội dung quan trọng trong thỏa thuận thuế quan và thƣơng mại giữa các quốc gia với nhau. Vì vậy, ngày nay từ đầu thế kỷ XX, các nƣớc kinh tế phát triển Ch u Âu đã nỗ lực tìm kiếm một hệ thống các phƣơng pháp xác định trị giá hải quan áp dụng thống nhất trên phạm vi quốc tế.
1 Luan van Khái niệm trị giá hải quan (trị giá tính thuế hàng hóa) đã đƣợc hình thành khi ngƣời ta bắt đầu chuyển dần đánh thuế cụ thể theo lƣợng hàng hóa sang đánh thuế theo trị giá hàng hóa. Càng ngày, việc tính thuế dựa trên trị giá của hàng hóa càng phát triển, do vậy việc xác định trị giá hàng hóa một cách tùy tiện không còn phù hợp nữa, ở các khu vực lãnh thổ, các nƣớc tìm cách x y dựng các cách tính toán giá trị của hàng hóa để tính thuế. Mặc dù vậy, nhƣng đến nay khi nói đến trị giá hải quan vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau, chẳng hạn: - Trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa dùng để tính thuế Hải quan theo giá trị. - Trị giá hải quan là trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu.
- Trị giá hải quan là giá thực tế của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. - Trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa để đánh thuế Hải quan theo giá trị của hàng hóa đó. - Trị giá hải quan là trị giá phục vụ cho mục đích tính thuế Hải quan và thống kê Hải quan. - Theo các chuyên gia Hải quan Nhật Bản thì trị giá hải quan là chỉ số thể hiện giá trị của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới, ra hoặc vào lãnh thổ Hải quan, để phục vụ mục đích quản lý nhà nƣớc về Hải quan theo từng thời kỳ.
Qua các ý kiến, quan điểm trên, có thể hiểu thống nhất về trị giá hải quan nhƣ sau: Trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu dùng cho mục đích quản lý Nhà nước về Hải quan. Trị giá hải quan bao gồm trị giá hải quan của hàng hóa xuất khẩu và trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu. Các nƣớc gia nhập Hiệp định trị giá GATT, trị giá hải quan của hàng hóa xuất khẩu là giá bán hàng hóa tại cửa khẩu xuất, theo hợp đồng mua bán, không bao gồm các chi phí vận chuyển (F) và bảo hiểm (I) quốc tế. Còn trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả đến cửa khẩu nhập đầu tiên và đƣợc xác định bằng cách áp dụng tuần tự 6 2 Luan van phƣơng pháp xác định trị giá theo Hiệp định trị giá GATT/WTO và dừng lại ngay ở phƣơng pháp đã xác định đƣợc trị giá.
Trị giá hải quan đƣợc xác định cho tất cả các loại hàng hóa do các tổ chức, cá nh n xuất khẩu, nhập khẩu không ph n biệt có hợp đồng hay không có hợp đồng, nhằm mục đích thƣơng mại hay không nhằm mục đích thƣơng mại, hoạt động kinh doanh đầu tƣ hay sản xuất xuất khẩu. Trị giá hải quan đƣợc sử dụng chủ yếu vào nhiều mục đích khác nhau, nhƣng chủ yếu sử dụng vào các mục đích sau: - Mục đích tính thuế: khởi thủy đầu tiên của việc xác định trị giá hải quan làn nhằm mục đích tính thuế, vì lẽ đó khi nói đến trị giá hải quan ngƣời ta thƣờng đồng nhất với trị giá tính thuế. - Mục đích thống kê: Ngoài mục đích tính thuế, trị giá hải quan còn đƣợc sử dụng cho mục đích thống kê, gồm thống kê kim ngạch xuất khẩu và thống kê Hải quan. Qua hoạt động thống kê mà cụ thể là căn cứ vào các số liệu thống kê Nhà nƣớc có cơ sở để thực hiện điều chỉnh chính sách quản lý các hoạt động thƣơng mại, chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và chính sách quản lý Nhà nƣớc về Hải quan cũng nhƣ chích sách thuế, qua đó thực hiện các mục tiêu quản lý của Nhà nƣớc.
- Mục đích quản lý hạn ngạch: Để thực hiện chính sách quản lý mặt hàng và chính sách thuế đối với một số mặt hàng trong từng giai đoạn phát triển nhất định, cơ quan quản lý Nhà nƣớc chuyển ngành sử dụng hình thức cấp hạn ngạch, theo đó thông qua việc xác định trị giá hải quan Nhà nƣớc thực hiện đƣợc mục đích quản lý hạn ngạch. - Mục đích xử phạt vi phạm các quy định về Hải quan: Trong quá trình thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thƣờng xảy ra việc vi phạm các quy định về Hải quan nhƣ vi phạm các quy định về thủ tục Hải quan, về kiểm tra, giám sát Hải quan, về chính sách quản lý mặt hàng…, và xét về mặt nguyên tắc các hành vi vi phạm đó đều phải xử phạt theo quy định của pháp luật hiện hành, trong đó trị giá hải quan cũng là một trong những căn cứ để cơ quan 3 Luan van Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định hình thức và mức độ xử phạt đối với các hành vi vi phạm về Hải quan.v… Ở Việt Nam hiện nay, trị giá hải quan đƣợc sử dụng phục vụ cho mục đích tính thuế và mục đích thống kê là chủ yếu. Đ y là một nội dung mới so với các quy định về trị giá của Việt Nam trƣớc đ y và bắt đầu áp dụng từ 01/01/2006. Trƣớc đó, khi đề cập đến trị giá hải quan, ngƣời ta chỉ đề cập đến trị giá phục vụ mục đích tính thuế (trị giá tính thuế) mà không có quy định cụ thuế về cách thức xác định trị giá hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu sử dụng trong lĩnh vực thống kê hải quan.
CÁC PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN. Trên thế giới đã tồn tại rất nhiều hệ thống (phƣơng pháp) xác định trị giá Hải quan, chẳng hạn: - Giá thị trƣờng trong các nƣớc hiện hành, đ y là phƣơng pháp do Anh đƣa ra vào đầu Thế kỷ XX và đƣợc coi là bảo hộ hàng hóa đƣợc sản xuất tại Anh và bán tại các nƣớc thuộc địa. Trị giá tính thuế dựa trên giá bán buôn tại thị trƣờng nƣớc xuất khẩu. Hệ thống xác định trị giá này đƣợc các nƣớc thuộc “đế quốc Anh” áp dụng, gồm Canada, c, Nam Phi và Newzeland cũng áp dụng phƣơng pháp này đến ngày 01/07/1982, trƣớc khi Hiệp định Trị giá GATT/WTO đƣợc áp dụng.
- Giá thị trƣờng hợp lý, phƣơng pháp này tƣơng tự giá trị thị trƣờng trong nƣớc hiện hành nhƣng nó mang tính linh hoạt hơn trong việc xác định giá nào đƣợc coi là giá thị trƣờng hợp lý và quy định về việc tính trị giá trong cơ quan Hải quan có thẩm quyền đáng kể. Phƣơng pháp này chủ yếu đƣợc áp dụng ở khu vực Thái Bình Dƣơng mà điển hình là Philippin. - Hệ thống giá bán của Mỹ, đ y là một phƣơng pháp xác định trị giá đƣợc áp dụng đối với số lƣợng hạn chế các loại hàng hóa nhập khẩu. Trị giá Hải quan dựa trên sản phẩm cạnh tranh tại Mỹ.
Nhà sản xuất trong nƣớc gián tiếp kiểm soát trị giá đƣợc áp dụng cho hàng hóa của đối thủ cạnh tranh của mình. 4 Luan van - Định nghĩa Brussels về trị giá, đ y là một phƣơng pháp xác định trị giá đƣợc x y dựng và áp dụng bởi khoảng 30 nƣớc vào những năm 1950 chủ yếu ở ch u Âu trƣớc khi có Hiệp định GATT/WTO. Định nghĩa Brussels quy định trị giá Hải quan là giá thông thƣờng của hàng hóa đang xác định trị giá. Giá thông thƣờng này phải đƣợc xem xét trong điều kiện cạnh tranh đầy đủ, và có xét đến thời gian bán hàng, địa điểm bán hàng và số lƣợng, cấp độ thƣơng mại của giao dịch bán hàng.
- Phƣơng pháp dùng giá tối thiểu, theo phƣơng pháp này cơ quan Hải quan đƣa ra giá tối thiểu cho tất cả các loại hàng hóa nhập khẩu mà không phản ánh giá thực tế của hàng hóa đó. Phƣơng pháp này đƣợc áp dụng rất phổ biến ở các nƣớc kém phát triển vì phƣơng pháp này dễ thực hiện và thu đƣợc nhiều thuế.