Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giám sát hải quan và quy trình giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Chương 2: Thực trạng thực hiện quy trình giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cảng biển Hải Phòng. Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện quy trình giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cảng biển Hải Phòng. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT HẢI QUAN VÀ QUY TRINH GIÁM SÁT HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 1.
Giám sát hải quan 1. Hải quan Để làm rõ và đầy đủ về lý luận giám sát hải quan, trong chương này sẽ bắt đầu từ bàn luận nhận thức về hải quan. Nội hàm khái niệm về hải quan được đưa ra để cùng nhận thức, hoặc cao hơn là để thống nhất nhận thức về một lĩnh vực có tính đa dạng này. Khái niệm về hải quan đã được nêu ra tại Luật Hải quan năm 2014 của Việt Nam, tại từ điển tiếng Việt và của WCO; nội hàm đưa ra nhằm giải thích hải quan là Cảng biển, hải quan là tổ chức quản lý nhà nước, tiếp cận từ công cụ của nhà nước thì hải quan là lực lượng vũ trang, lực lượng bán vũ trang, thuế quan.
Như vậy, cần phải có một sự tiếp cận Hệ thống thì mới có thể nhận thức đầy đủ được về hải quan. Trước hết, về điều kiện cần và đủ để có hải quan [14,Tr. Khi có “giao thương quốc tế” thì sẽ xuất hiện hải quan, vấn đề này dễ được nhận biết nhất. Mặt khác, nếu không có “cửa khẩu” thì không có địa bàn để hải quan hoạt động và do vậy không có hải quan.
Điều dễ thấy ở đây là biên giới nhiều quốc gia thường có độ dài tính bằng trăm hoặc nghìn km, trong khi cửa khẩu thì không thể trải dài trên toàn tuyến như vậy. Như vậy, những quốc gia có chủ quyền kinh tế, thực hiện hoạt động giao thương quốc tế, thiết lập được những cửa khẩu trên lãnh thổ thì quốc gia đó có điều kiện cần và đủ để thành lập và đưa vào hoạt động hải quan của mình. Thứ hai, về vị trí của hải quan [14,Tr. Hải quan được ví như “người gác cổng kinh tế” với chức năng, nhiệm vụ kiểm soát hàng hóa ra vào quốc gia và cho phép thông quan hàng hóa đến mức nào.
Theo đó, hải quan của hầu hết các nước trên thế giới đều được giao thu thuế và phí trong lĩnh vực XK, NK hàng hóa thương mại. 5 Hải quan Việt Nam, khi mới thành lập năm 1945 trực thuộc Bộ Tài chính, năm 1954 chuyển sang trực thuộc Bộ Công thương, năm 1962 chuyển sang trực thuộc Bộ Ngoại thương, năm 1984 chuyển lên trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng, năm 2002 chuyển về trực thuộc Bộ Tài chính cho tới hiện nay. Thứ ba, về chức năng và thẩm quyền của hải quan [14,Tr. Cho dù có những khác biệt về vị trí tổ chức, nhưng hải quan nhiều nước trên thế giới vẫn có những chức năng chung, phổ biến, trong đó chủ yếu là: - Kiểm tra, giám sát, kiểm soát, thu thuế và phí, cho thông quan đối với hàng hóa XK, NK, quá cảnh, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh đối với phương tiện vận tải khi không có vi phạm pháp luật.
- Phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, trốn lậu thuế và những hành vi trái pháp luật khác trong lĩnh vực tiền tệ, phòng trừ dịch bệnh, an toàn sinh học trong XNK, xuất nhập cảnh. - Bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh kinh tế - thương mại, an toàn xã hội. Để thực hiện các chức năng trên, cơ quan Hải quan có quyền: - Quyết định và thực hiện việc khám người, khám phương tiện vận tải, nơi cất giấu hàng hóa, tạm giữ người, phương tiện vận tải, hàng hóa khi có căn cứ vi phạm pháp luật. - Quyết định và thực hiện xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực XNK, xuất nhập cảnh.
Đối với những hành vi vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thực hiện các hoạt động điều tra. - Quyết định và sử dụng các phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ khi trực tiếp làm nhiệm vụ chống buôn lậu, chống vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Từ những chức năng và thẩm quyền trên đây cho thấy hải quan không chỉ là cơ quan quản lý hành chính mà còn là tổ chức vũ trang (gần gũi với lực lượng bộ đội biên phòng), tham gia khởi tố điều tra (gần gũi với lực lượng công an), xử phạt vi phạm hành chính (gần gũi với lực lượng quản lý thị 6 trường), thu thuế phí (gần gũi cơ quan thuế nội địa). Thứ tư, về địa bàn hoạt động hải quan [12,Tr.
Hoạt động hải quan có sự khác biệt so với nhiều hoạt động khác trong Hệ thống quản lý nhà nước, đó là có địa bàn hải quan riêng, gồm: Khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, Cảng hàng không dân dụng quốc tế; Cảng biển, Cảng thủy nội địa có hoạt động XK, NK, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; khu vực đang lưu giữ hàng hóa chịu sự giám sát hải quan, khu chế xuất, khu vực ưu đãi hải quan; các địa điểm làm thủ tục hải quan, kho ngoại quan, kho bảo thuế, bưu điện quốc tế, trụ sở người khai hải quan khi kiểm tra sau thông quan;. Tại các địa bàn và khu vực hải quan đó, cho dù có nhiều loại ngành cùng hoạt động (hải quan, bộ đội biên phòng, công an, giao thông vận tải, ngân hàng, Cảng vụ, kiểm dịch) nhưng trong địa bàn hoạt động hải quan chỉ có sự phối hợp, không có sự chi phối, chia sẻ quyền lực của hải quan với các lưc lượng, tổ chức khác. Những sự cố xảy ra trong địa bàn hải quan nếu có, trước hết thuộc trách nhiệm của cơ quan Hải quan. Tóm lại, tiếp cận từ những vấn đề trên đây là cơ sở để nhận thức được đầy đủ hơn về hải quan, có thể khái quát nội dung về hải quan như sau:“Hải quan là cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chủ quyền quốc gia trong giao thương quốc tế.
Thực hiện đảm bảo an ninh kinh tế, an toàn xã hội bằng việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát, thu thuế và phí, thông quan và ngăn ngừa vi phạm pháp luật, gian lận thương mại trong hoạt động XNK hàng hóa, quá cảnh hàng hóa, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh và quá cảnh”. Giám sát hải quan 1. Khái niệm Giám sát hải quan là một trong những hoạt động nghiệp vụ hải quan quan trọng. Việc áp dụng các phương thức giám sát hải quan phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XK, NK, xuất cảnh, nhập cảnh quá cảnh.
Quy định tại Luật Hải quan năm 2014 và các văn bản hướng dẫn liên quan đã chỉ rõ cơ quan Hải quan áp dụng quản lý rủi ro trong việc kiểm tra, giám sát 7 hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải. Quản lý rủi ro được xem là một công cụ hữu hiệu cho quản lý hải quan hiện đại, giúp cho cơ quan Hải quan có thể phân bổ nguồn lực một cách hợp lý mà vẫn đảm bảo quản lý hải quan và không gây khó khăn cho hoạt động XNK. Trong điều kiện thông quan tự động, kết nối trao đổi thông tin với doanh nghiệp KDC, quản lý rủi ro là cơ sở quan trọng để bảo đảm việc kiểm tra, giám sát của cơ quan Hải quan được thực hiện hiệu quả, phù hợp với thông lệ hải quan quốc tế. Như vậy, Giám sát hải quan bao gồm những quy định của pháp luật nhằm kết nối hoạt động của hải quan với hoạt động XK, NK hàng hóa, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh và quá cảnh PTVT tại mỗi quốc gia.
Giám sát Hải quan được coi là hoàn chỉnh khi cả hải quan, doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, Cảng (doanh nghiệp KDC), tổ chức, cá nhân có hoạt động XK, NK, quá cảnh, xuất cảnh, nhập cảnh đều đạt được mục đích với sự tuân thủ pháp luật và chi phí thấp nhất. Tùy theo đặc điểm của mình, mỗi quốc gia đều có định nghĩa về giám sát hải quan. Tại Việt Nam, Giám sát hải quan đã được định nghĩa tại Điều 4 Luật Hải quan năm 2014, theo đó “Giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan Hải quan áp dụng để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hóa, sự tuân thủ quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu trữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan”. Định nghĩa này chú trọng đến công việc đảm bảo nguyên trạng của hàng hóa và sự tuân thủ của pháp luật trong việc bảo đảm nguyên trạng của hàng hóa.
Đối tượng, phương thức, thời gian, mục đích và nhiệm vụ giám sát hải quan a) Đối tượng giám sát: Hàng hóa XK, NK, quá cảnh; vật dụng trên PTVT xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; ngoại tệ tiền mặt, đồng việt Nam tiền mặt, công cụ chuyển nhượng, vàng, kim loại quý, đá quý, văn hóa phẩm, di vật, cổ vật, bảo vật, bưu phẩm, bưu kiện XK, NK; hành lý của người xuất 8 cảnh, nhập cảnh; các vật phẩm khác XK, NK, quá cảnh trong địa bàn hoạt động của cơ quan Hải quan. b) Phương thức giám sát: [10,Tr. - Niêm phong hải quan; - Giám sát trực tiếp do công chức hải quan thực hiện (chi thực hiện trong trường hợp cần thiết); - Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật: Giám sát bằng camera; Giám sát thông qua kiểm tra thông tin trên Hệ thống CNTT; Giám sát bằng phương tiện kỹ thuật khác. Căn cứ kết quả phân tích, đánh giá rủi ro và các thông tin khác có liên quan đến đối tượng giám sát hải quan, cơ quan Hải quan quyết định phương thức giám sát phù hợp.
c) Thời gian giám sát hải quan: [12, Tr.42] + Hàng hóa NK chịu sự giám sát hải quan từ khi tới địa bàn hoạt động hải quan đến khi được thông quan, giải phóng hàng hóa và đưa ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan. + Hàng hóa XK miễn kiểm tra thực tế hàng hóa chịu sự giám sát hải quan từ khi thông quan đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan. Trường hợp phải kiểm tra thực tế, hàng hóa XK chịu sự giám sát hải quan từ khi bắt đầu kiểm tra thực tế hàng hóa đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.