Luận văn thạc sĩ quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - Nguyễn Ngọc Tuấn

Tìm hiểu chi tiết về quản lý chi ngân sách nhà nước tại huyện Bảo Thắng, Lào Cai. Phân tích các chính sách, quy định và hiệu quả thực hiện chi tiêu công cộng.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

168
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai

Quản lý chi ngân sách nhà nước là hoạt động trọng tâm trong công tác tài chính công cấp huyện. Bảo Thắng là huyện miền núi thuộc tỉnh Lào Cai, có điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Nghiên cứu quản lý chi ngân sách nhà nước tại địa phương này mang tính cấp thiết cao. Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế của Nguyễn Ngọc Tuấn năm 2020 đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện. Nội dung tập trung phân tích toàn bộ chu trình ngân sách từ lập dự toán, chấp hành dự toán đến quyết toán ngân sách. Nghiên cứu áp dụng phương pháp định tính và định lượng, thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp. Kết quả chỉ ra nhiều bất cập cần khắc phục trong quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Bảo Thắng. Từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn.

1.1. Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện

Chi ngân sách nhà nước bao gồm toàn bộ các khoản chi tiêu được thực hiện bằng nguồn vốn ngân sách nhằm phục vụ hoạt động quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh. Quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện là quá trình tổ chức thực hiện việc phân bổ, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách trên địa bàn huyện. Nội dung quản lý bao gồm lập dự toán chi, chấp hành dự toán chi và quyết toán chi ngân sách. Các yếu tố ảnh hưởng gồm thể chế chính sách, năng lực cán bộ tài chính, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và đặc điểm tự nhiên của địa phương. Quản lý hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tài chính, kho bạc nhà nước và đơn vị sử dụng ngân sách.

1.2. Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước từ các địa phương

Kinh nghiệm từ huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ cho thấy việc xây dựng định mức chi phù hợp với điều kiện địa phương giúp nâng cao hiệu quả phân bổ ngân sách. Công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện thường xuyên, phát hiện kịp thời các sai phạm trong chi tiêu. Tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, mô hình ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngân sách đã mang lại kết quả tích cực. Việc số hóa quy trình phê duyệt dự toán, thanh toán và quyết toán giúp giảm thời gian xử lý, tăng tính minh bạch. Các địa phương đều nhấn mạnh vai trò của công tác phân tích dự báo kinh tế - xã hội làm căn cứ lập dự toán sát thực tế. Bài học chung là cần quản lý chặt chẽ trên toàn bộ chu trình ngân sách.

II. Thực trạng và vấn đề quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Bảo Thắng

Huyện Bảo Thắng có vị trí địa lý thuận lợi, nằm dọc quốc lộ 70 và đường sắt Hà Nội - Lào Cai. Kinh tế huyện chủ yếu dựa vào nông nghiệp, lâm nghiệp và khai khoáng. Nguồn thu ngân sách còn hạn chế, phụ thuộc lớn vào trợ cấp từ ngân sách cấp trên. Công tác lập dự toán chi ngân sách tại Bảo Thắng gặp nhiều khó khăn do biến động kinh tế, thiên tai và dịch bệnh. Việc chấp hành dự toán chi thường xuyên chưa đảm bảo tiến độ, một số khoản chi giải ngân chậm. Công tác quyết toán chi ngân sách còn nhiều bất cập, chất lượng thẩm định chưa cao. Tình trạng chi sai nguồn, sai chế độ vẫn xảy ra ở một số đơn vị dự toán. Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện chưa kiên quyết xuất toán các khoản chi không đúng quy định. Công tác kiểm soát chi tại kho bạc nhà nước chưa phát huy hết vai trò. Năng lực cán bộ làm công tác tài chính ở một số xã còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng quản lý ngân sách.

2.1. Hạn chế trong công tác lập dự toán và chấp hành chi ngân sách

Công tác lập dự toán chi ngân sách huyện Bảo Thắng chưa thực sự sát với thực tế. Định mức chi áp dụng chưa phù hợp với điều kiện đặc thù miền núi. Việc phân bổ ngân sách cho các xã còn dàn trải, thiếu trọng tâm. Chấp hành dự toán chi thường xuyên gặp vướng mắc trong quy trình thanh toán qua kho bạc nhà nước. Một số đơn vị sử dụng ngân sách chưa lập kế hoạch chi tiêu theo quý, thiếu tính toán thứ tự ưu tiên. Tình trạng tạm ứng kinh phí kéo dài, chậm thanh toán quyết toán vẫn tồn tại. Công tác giám sát việc thực hiện dự toán chưa thường xuyên, thiếu cơ chế cảnh báo sớm vi phạm.

2.2. Bất cập trong công tác quyết toán và kiểm soát chi ngân sách

Chất lượng công tác thẩm định, xét duyệt báo cáo quyết toán chi ngân sách huyện Bảo Thắng chưa cao. Việc xét duyệt thường chỉ dừng lại ở xác định số liệu thu chi mà chưa phân tích đánh giá sâu. Xử lý vi phạm đối với cá nhân, tập thể lập báo cáo sai nội dung, mẫu biểu còn mang tính chung chung. Phòng Tài chính - Kế hoạch chưa kiên quyết xuất toán một số khoản chi không đúng nguồn ngân sách. Một số đơn vị dự toán vẫn để tồn quỹ chuyển sang năm sau là vi phạm quy định. Công tác kiểm soát chưa phát hiện được một số khoản lập hồ sơ khống, chi không có thật. Hệ thống thông tin quản lý ngân sách chưa đồng bộ giữa các cơ quan liên quan.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách huyện Bảo Thắng

Nhóm giải pháp thứ nhất tập trung hoàn thiện hệ thống định mức chi và chế độ chính sách phù hợp điều kiện thực tiễn địa phương. Cần rà soát, cập nhật định mức chi theo hướng sát với giá thị trường và đặc thù miền núi. Nhóm giải pháp thứ hai nhấn mạnh nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tài chính công. Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách cho cán bộ huyện, xã. Nhóm giải pháp thứ ba hướng đến ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngân sách. Xây dựng hệ thống dữ liệu tập trung, kết nối liên thông giữa phòng tài chính, kho bạc nhà nước và các đơn vị sử dụng ngân sách. Nhóm giải pháp thứ tư tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. Xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả chi ngân sách định kỳ, gắn trách nhiệm người đứng đầu đơn vị. Các giải pháp cần được triển khai đồng bộ, có lộ trình cụ thể và nguồn lực phù hợp.

3.1. Hoàn thiện cơ chế lập dự toán và chấp hành chi ngân sách

Giải pháp đầu tiên là xây dựng hệ thống định mức chi ngân sách phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội huyện Bảo Thắng. Căn cứ dự toán được giao, các đơn vị sử dụng ngân sách phải lập kế hoạch chi tiêu theo quý, xác định thứ tự ưu tiên cho khoản chi cấp bách. Thực hiện nghiêm nguyên tắc thanh toán trực tiếp từ kho bạc nhà nước cho người hưởng lương, phụ cấp và nhà cung cấp dịch vụ. Tăng cường công tác phân tích dự báo kinh tế - xã hội làm căn cứ lập dự toán sát thực tế. Xây dựng cơ chế giám sát tiến độ giải ngân, cảnh báo sớm tình trạng chi chậm hoặc chi sai mục đích. Đẩy mạnh phân cấp quản lý ngân sách gắn với trách nhiệm giải trình của từng cấp.

3.2. Nâng cao chất lượng quyết toán và kiểm soát chi ngân sách

Cần nâng cao chất lượng công tác thẩm định xét duyệt báo cáo quyết toán, chuyển từ xác nhận số liệu sang phân tích đánh giá toàn diện. Xây dựng quy trình xử lý vi phạm rõ ràng, cụ thể đối với trường hợp lập báo cáo sai nội dung, sai khối lượng đơn giá. Tăng cường vai trò xuất toán của Phòng Tài chính - Kế hoạch đối với khoản chi không đúng nguồn ngân sách. Ứng dụng phần mềm quản lý ngân sách để kiểm soát tự động các khoản chi, phát hiện sớm sai sót. Thiết lập cơ chế kiểm tra chéo giữa cơ quan tài chính, kho bạc nhà nước và cơ quan thanh tra. Gắn kết quả quyết toán ngân sách với đánh giá trách nhiệm người đứng đầu đơn vị sử dụng ngân sách.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn quản lý chi ngân sách huyện Bảo Thắng

Luận văn đã hoàn thành ba mục tiêu nghiên cứu đặt ra. Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện. Thứ hai, đánh giá toàn diện thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Bảo Thắng giai đoạn gần đây. Thứ ba, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn. Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác quản lý chi ngân sách huyện Bảo Thắng đạt được một số kết quả tích cực nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Các giải pháp đề xuất mang tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu giúp huyện Bảo Thắng từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách. Kết luận nghiên cứu cũng có giá trị tham khảo cho các huyện miền núi khác trong quản lý chi ngân sách nhà nước.

4.1. Kết quả nghiên cứu chính về quản lý chi ngân sách Bảo Thắng

Nghiên cứu đã phân tích toàn diện thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Bảo Thắng trên ba khâu: lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách. Kết quả chỉ ra rằng huyện đã từng bước kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách. Tuy nhiên, công tác lập dự toán chưa sát thực tế, chấp hành dự toán còn chậm trễ ở một số khoản chi. Quyết toán ngân sách tồn tại nhiều bất cập trong thẩm định và xử lý vi phạm. Bài học kinh nghiệm rút ra là cần quản lý chặt chẽ toàn bộ chu trình ngân sách, coi trọng phân tích dự báo và ứng dụng công nghệ thông tin. Nghiên cứu góp phần bổ sung lý luận về quản lý chi ngân sách cấp huyện miền núi.

4.2. Giá trị ứng dụng và hướng nghiên cứu tiếp theo

Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng trực tiếp cho huyện Bảo Thắng trong cải thiện quản lý chi ngân sách nhà nước. Các giải pháp đề xuất có thể áp dụng từng bước theo lộ trình phù hợp với nguồn lực địa phương. Nghiên cứu cũng cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho các huyện miền núi có điều kiện kinh tế - xã hội tương tự. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi đánh giá tác động của các giải pháp sau khi triển khai. Nghiên cứu sâu hơn về vai trò chuyển đổi số trong quản lý ngân sách cấp huyện cũng cần được quan tâm. So sánh hiệu quả quản lý chi ngân sách giữa các huyện miền núi sẽ làm giàu thêm cơ sở thực tiễn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý chi ngân sách nhà nước huyện bảo thắng tỉnh lào cai

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách Nhà nước cấp huyện 1. Một số vấn đề cơ bản về chi ngân sách nhà nước 1.1 Khái niệm và đặc điểm chi ngân sách nhà nước Ngân sách Nhà nước là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Sự hình thành và phát triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của các cộng đồng và Nhà nước của từng cộng đồng.

Ngân sách Nhà nước đã có quá trình ra đời và hình thành suốt từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVIII. Cho đến nay, các Nhà nước khác nhau đều tạo lập và sử dụng NSNN. Thế nhưng người ta vẫn chưa có sự nhất trí về NSNN là gì. Có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm NSNN mà phổ biến là: Một là: NSNN là bản dự toán thu chi tài chính của Nhà nước trong một khoản thời gian nhất định, thường là một năm.

Hai là: NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước. Ba là: NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau. Bốn là: Theo Luật NSNN (2015), Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Như vậy, có thể hiểu Ngân sách Nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định.

(Vũ Thị Hậu & Vũ Thị Loan, 2016) 5 Ban đầu Ngân sách Nhà nước sử dụng để nuôi bộ máy Nhà nước, sau đó phạm vi sử dụng được mở rộng dần theo sự phát triển các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Ngày nay, Nhà nước còn dùng quỹ NSNN để chi tiêu cho các khoản phúc lợi xã hội và phát triển kinh tế. Do vậy, Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Chi NSNN là quá trình phân phối các nguồn tài chính đã được tập trung vào NSNN và đưa chúng đến mục đích sử dụng.

Vì thế, chi NSNN là những việc cụ thể, không dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của Nhà nước. Ở đây cần phải biệt hai quá trình trong chi NSNN, bởi vì nó có ý nghĩa quan trọng trong quản lý NSNN. - Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng. - Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ NSNN mà không trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng.

Ví dụ, việc chi dùng quỹ NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản hoặc các chương trình kinh tế có mục tiêu. Chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình đó. Mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn lịch sử thì chi NSNN có nội dung, cơ cấu khác nhau, song chúng có những đặc điểm chung dưới đây: - Chi NSNN gắn với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm đương trong thời kỳ. Chi NSNN phải đảm bảo các hoạt động của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực.

Những nguồn NSNN có được trong từng năm, từng thời kỳ lại có hạn chế làm thu hẹp phạm vi hoạt động của Nhà nước, buộc Nhà nước phải lựa chọn để xác định phạm vi chi NSNN. Nhà nước không thể bao cấp tràn lan qua NSNN, mà phải tập trung nguồn tài chính vào phạm vi đã hoạch định để giải quyết các vấn đề lớn của đất nước. - Chi NSNN gắn liền với quyền lực Nhà nước: Quốc hội là cơ quan quyền 6 lực cao nhất quyết định quy mô, nội dung, cơ cấu chi NSNN và phân bổ nguồn vốn ngân sách cho các mục tiêu quan trọng nhất, bởi vì Quốc hội là cơ quan quyết định các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia. Chính phủ là cơ quan hành pháp, có nhiệm vụ quản lý, điều hành các khoản chi NSNN.

- Hiệu quả chi NSNN khác với hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp: Nó được xem xét trên tầm vĩ mô và là hiệu quả kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng. dựa vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. mà các khoản chi NSNN đảm nhận. - Chi NSNN là những khoản chi không hoàn trả trực tiếp: Các khoản cấp phát từ NSNN cho các ngành, các cấp cho các hoạt động văn hoá, xã hội, giúp đỡ người nghèo.

không phải trả giá hoặc hoàn lại cho Nhà nước. Đặc điểm này giúp phân biệt các khoản chi NSNN với các khoản tín dụng. Tuy nhiên, NSNN cũng có những khoản chi cho việc thực hiện chương trình mục tiêu mà thực chất là cho vay ưu đãi có hoàn trả gốc với lãi suất rất thấp hoặc không có lãi suất. - Chi NSNN là một bộ phận cấu thành luồng vận động tiền tệ và nó gắn với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như giá cả, tiền lương, tín dụng, thuế và tỷ giá hối đoái.

Chi NSNN có quy mô lớn, phức tạp đòi hỏi những hàng hoá, dịch vụ đa dạng. Do vậy, nó tác động mạnh mẽ đến môi trường tài chính vĩ mô, đến tổng cung và tổng cầu về vốn tiền tệ. Nếu thu, chi NSNN cân đối được thì về cơ bản tổng cung, tổng cầu về tài chính và tổng cung, tổng cầu về hàng hoá dịch vụ của xã hội sẽ ổn định. Những đặc điểm của chi NSNN cần được nhận thức đầy đủ trong quản lý và tổ chức thực hiện các khoản chi NSNN.

Chi NSNN có quan hệ chặt chẽ với thu NSNN. Thu ngân sách là nguồn vốn để đảm bảo nhu cầu chi ngân sách, ngược lại sử dụng vốn NSNN để chi cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế lại là điều kiện để tăng nhanh thu ngân sách. Chi ngân sách gắn liền với việc thực hiện các chính sách kinh tế – chính trị, xã 7 hội của Nhà nước trong từng thời kỳ. Chi ngân sách đóng vai trò rất quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế như: mở mang sức sản xuất, trợ giúp các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, thu hút nhân công; phát triển nguồn nhân lực: vai trò của chính phủ đối với công tác giáo dục - đào tạo; nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật.

Ngoài ra chi ngân sách còn giúp cho phát triển kinh tế để có một xã hội có nền chính trị ổn định, công bằng và văn minh, để xã hội có một dân số thông minh và đầy triển vọng.2 Phân loại chi ngân sách nhà nước Do tính đa dạng và phức tạp của nó nên có nhiều khoản mục khác nhau. Hệ thống các khoản chi NSNN bao gồm các khoản chi và tỷ trọng của chúng được hiểu là cơ cấu chi NSNN. Nhằm phân tích, đánh giá việc quản lý và định hướng các khoản chi cần phải tiến hành phân loại chi NSNN. Phân loại chi NSNN là sự sắp xếp các khoản chi vào các nhóm theo những tiêu thức nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý và định hướng chi ngân sách Nhà nước.

Một số tiêu thức phân loại: - Căn cứ vào mục đích chi tiêu, chi NSNN được chia thành hai nhóm: chi tích lũy và chi tiêu dùng. Chi tích luỹ là những khoản chi làm tăng cơ sở vật chất và tiềm lực cho nền kinh tế, góp phần tăng trưởng kinh tế. Các khoản chi tích lũy của NSNN gồm có: + Chi đầu tư xây dựng cơ bản; + Chi cấp vốn lưu động; + Chi dự trữ vật tư của Nhà nước; + Các khoản chi tích luỹ khác; Chi tiêu dùng là các khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai. Các khoản chi tiêu dùng của NSNN gồm có: 8 + Chi sự nghiệp kinh tế; + Chi sự nghiệp văn hoá xã hội; + Chi quản lý hành chính Nhà nước; + Chi quốc phòng an ninh; + Chi tiêu dùng khác.

Cách phân loại này có ưu điểm là tạo điều kiện cho việc phân tích, đánh giá kết quả chi NSNN gắn với quá trình phân phối GDP giải quyết mối quan hệ cân đối giữa tích lũy và tiêu dùng trong từng giai đoạn. Những hạn chế của cách phân loại này: + Không thể hiện mối quan hệ giữa chi tài chính của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước, từ đó tìm ra phương án phân phối phù hợp với từng thời kỳ. + Một số khoản chi không xác định rõ tính chất để xếp vào chi tích lũy hay là chi tiêu dùng. Ví dụ, khoản chi cho giáo dục, chi cho y tế, bù lỗ, bù giá.

- Căn cứ vào lĩnh vực chi tiêu, chi NSNN được chia thành: + Chi đầu tư kinh tế; + Chi cho y tế; + Chi cho giáo dục, đào tạo và khoa học; + Chi cho văn hoá, thể dục thể thao; + Chi về xã hội; + Chi quản lý Nhà nước; + Chi cho an ninh quốc phòng; + Chi khác. Cách phân loại này có tác dụng phân tích, đánh giá các mặt hoạt động của Nhà nước. Thông qua tỷ trọng của các loại chi, căn cứ vào thực trạng của từng lĩnh vực và sự biến đổi của nó có thể đánh giá tính đúng đắn của việc bỏ vốn từ NSNN. 9 - Căn cứ vào yếu tố và phương thức quản lý NSNN, chi NSNN được chia thành bốn nhóm.

+ Nhóm chi thường xuyên: Chi thường xuyên là các khoản chi có thời hạn tác động ngắn thường dưới một năm chủ yếu phục vụ cho chức năng quản lý, điều hành xã hội một cách thường xuyên của Nhà nước. Các khoản chi thường xuyên mang tính chất là các khoản tiêu dùng xã hội. Về nội dung, chi thường xuyên bao gồm: Các khoản chi liên quan đến con người (lương, phụ cấp…); Các khoản chi liên quan đến nghiệp vụ quản lý, công việc chuyên môn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ