CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC THỰC HIỆN THỦ TỤC HẢI QUAN XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1. Tổng quan lý luận về xuất khẩu hàng hóa 1. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa Theo Điều 3 luật giao thông đường bộ 2008: Hàng hóa là những thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu, máy móc, hàng tiêu dùng, động vật sống và các động sản khác được vận chuyển bằng phương tiện giao thông đường bộ. Theo Khoản 2 Điều 3 luật thương mại 2005 thì hàng hóa bao gồm: Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai.
Xuất khẩu là bán hàng hóa hay dịch vụ ra nước ngoài và đều là những hợp đồng đã được ký kết. Hàng hóa được coi là hàng hóa xuất khẩu khi nó thuộc một trong các trường hợp sau: • Hàng hóa xuất khẩu cho những doanh nghiệp, thương nhân ngoại địa thông qua những hợp đồng đã bàn luận và ký kết. • Hàng hóa bán cho du khách nước ngoài, cho Việt Kiều thu bằng ngoại tệ. • Các dịch vụ bảo hiểm, sửa chữa tàu biển cho nước ngoài thanh toán bằng ngoại tệ.
• Hàng hóa gửi đi triển lãm và sau đó bán hàng thu bằng ngoại tệ. • Hàng hóa viện trợ cho nước ngoài thông qua các hiệp định, nghị định thư do Nhà nước ký kết với nước ngoài nhưng được thực hiện qua các doanh nghiệp xuất khẩu. Phân loại hàng hóa xuất khẩu Hàng hóa xuất khẩu là hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Hàng hóa xuất khẩu có hai loại là hàng hóa xuất khẩu thương mại và phi thương mại, cụ thể: (i) Hàng hóa xuất khẩu phi thương mại là hàng hóa xuất khẩu không nhằm mục đích kinh doanh hay trước đây còn được gọi là hàng hóa xuất khẩu phi mậu dịch.
Hàng hóa xuất khẩu phi thương mại là hàng hóa được chuyển tới những khu vực đặc biệt nằm trên địa phận, lãnh thổ của Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, với mục đích hỗ trợ, từ thiện, tương thân tương ái hoặc nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và tiêu dùng của tổ chức, cá nhân. Hay nói cách khác hàng hóa xuất khẩu phi thương mại được đưa vào lãnh thổ hải quan với mục đích phi lợi nhuận (không nhằm mục đích sinh lợi), không gắn liền với việc kinh doanh của các doanh nghiệp, thương nhân. Hàng hóa xuất khẩu phi thương mại bao gồm: • Quà biếu, tặng của tổ chức, cá nhân ở Việt Nam gửi cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài. • Những tài sản được di chuyển của cá nhân hoặc tổ chức.
• Hành lý cá nhân của hành khách xuất cảnh. • Hàng hóa của cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế tại Việt Nam và những người làm việc tại cơ quan, tổ chức này. • Hàng hóa với mục đích viện trợ, từ thiện nhân đạo. • Hàng mẫu, hàng dùng thử không thanh toán.
• Dụng cụ nghề nghiệp, phương tiện làm việc tạm xuất của cơ quan, tổ chức của người xuất cảnh có thời hạn. 5 (ii) Hàng hóa xuất khẩu thương mại là những hàng hóa xuất khẩu kinh doanh, hay trước đây còn được gọi là hàng hóa xuất khẩu mậu dịch. Hàng hóa xuất khẩu thương mại là hàng hóa xuất khẩu nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Hay nói cách khác là hàng hóa được đưa ra lãnh thổ hải quan để thực hiện kinh doanh hoặc thực hiện các hoạt động thương mại của các doanh nghiệp, thương nhân.
Đây là đặc trưng hết sức cơ bản để phân biệt với hàng hóa xuất khẩu phi thương mại. Hoạt động thương mại của các thương nhân gồm: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động thương mại khác nhằm mục đích sinh lợi. Hàng hóa xuất khẩu thương mại bao gồm nhiều loại khác nhau tương ứng với từng hoạt động/hành vi thương mại cụ thể, đó là: • Hàng hóa xuất khẩu theo hợp đồng mua bán hàng hóa. • Hàng hóa phục vụ cho hoạt động cung ứng thương mại như gia công hàng hóa, trung chuyển hàng hóa… • Hàng hoá với mục đích hoạt động đầu tư.
• Hàng hóa trong các hoạt động xúc tiến thương mại như hội trợ triển lãm, trưng bày giới thiệu sản phẩm, quảng cáo, khuyến mại… • Hàng hóa phục vụ cho các hoạt động thương mại khác. Về phương thức thanh toán, xuất khẩu bằng hàng hóa có thể thanh toán trực tiếp bằng ngoại tệ, hoặc trừ nợ theo nghị định tư của Nhà nước. Ngoài ra, hàng hóa xuất khẩu thương mại còn được ràng buộc thêm những điều kiện nhất định đó là các động sản có mã số theo danh mục HS hoặc có tên gọi. Luật hải quan 2014 quy định “Hàng hóa bao gồm động sản có tên gọi và mã số theo danh mục hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam được xuất khẩu, quá cảnh hoặc được lưu giữ trong lãnh thổ, địa bàn hoạt động của hải quan”.
Đặc điểm của hàng hóa xuất khẩu Hàng hóa xuất khẩu phải được di chuyển qua biên giới quốc gia trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cơ sở pháp lý cho việc chuyển giao hàng hóa qua biên giới quốc gia. Nó phản ánh, ghi nhận cho những thỏa thuận giữa đôi bên về việc mua bán một mặt hàng nào đó. Mua bán hàng hóa quốc tế luôn gắn liền với hai đặc trưng cơ bản: 1.
Thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hàng. Chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa. Hình thức biểu hiện bên ngoài đó là việc vận chuyển hàng hóa qua biên giới quốc gia hoặc di chuyển hàng hóa ra vào khu vực hải quan riêng. Hàng hóa xuất khẩu thương mại gắn liền với nghĩa vụ thanh toán của bên mua (bên nhập khẩu).
Bởi nó gắn liền với hoạt động kinh doanh của các thương nhân. Hàng hóa là đối tượng của hoạt động mua bán, vì vậy luôn gắn với hoạt động thanh toán trên cơ sở sử dụng tiền tệ làm phương thức thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là đồng tiền của một trong hai quốc gia của người mua, người bán hoặc của một quốc gia thứ ba khác. Đặc điểm này phân biệt với hàng hóa xuất khẩu là quà biếu, quà tặng, tài sản di chuyển, hàng mẫu không thanh toán.
Hàng hóa đã xuất khẩu thuộc quyền sở hữu của bên nhập khẩu (bên mua), nghĩa là bên mua có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với nó. Hàng hóa đó được tiêu thụ tại nước nhập khẩu, hoặc được đưa vào sản xuất và tiêu dùng tại nước nhập khẩu. Việc quản lý, lưu giữ, khai thác công dụng, quyết định số phận thực tế và pháp lý của hàng hóa thuộc quyền của bên mua/ bên nhập khẩu. Những hàng hóa này là đối tượng phải nộp thuế, trừ những trường hợp được pháp luật cho miễn thuế.
Cụ thể, hàng hóa thuộc đối tượng nộp thuế xuất khẩu, ngoài việc phải nộp thuế xuất khẩu, căn cứ vào tính chất, đặc điểm của hàng hóa khi thực hiện xuất khẩu còn phải nộp thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường và các loại thuế khác (nếu có). Vai trò của xuất khẩu hàng hóa đối với nền kinh tế Xuất khẩu có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế nói chung cũng như từng cá thể doanh nghiệp nói riêng. Nó có thể đem lại những lợi ích vô cùng to lớn cho mỗi quốc gia, cụ thể đó là: ➢ Xuất khẩu đóng góp vào tăng trưởng kinh tế: Xuất khẩu mang lại nguồn doanh thu ngoại tệ vô cùng lớn cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đa dạng thị trường tiêu thụ, mở rộng quy mô sản xuất, đóng góp vào tổng GDP quốc dân, góp phần vào tăng trưởng kinh tế đất nước. ➢ Xuất khẩu giúp gia tăng sự cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm: Đối với sự chênh lệch cung và cầu, ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trường, hàng hoá các nước không chỉ phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt với hàng hoá các nước khác mà còn gặp phải sự ngăn trở từ các hạn ngạch, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan của các nước đặt ra để bảo vệ nền kinh tế quốc gia họ.
Bởi vậy, để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển, tìm được các khách hàng chấp nhận nguồn cung hàng hóa của mình, điều thiết yếu tất nhiên là doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm của mình, xây dựng được uy tín với khách hàng quốc tế, như vậy mới thúc đẩy được xuất khẩu hàng hóa. ➢ Xuất khẩu sẽ giúp chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là do tác động của rất nhiều yếu tố trong đó có xuất khẩu. Sự tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà lợi ích có thể thấy được qua một số điều sau: o Xuất khẩu những sản phẩm của nước ta cho nước ngoài sẽ giúp tăng GDP của các nhóm ngành như công nghiệp (1 số ngành sản xuất) và đặc biệt là dịch vụ, đây là 2 nhóm ngành mang lại nguồn cung GDP lớn, góp phần tăng tổng GDP quốc dân, giúp tăng trưởng nền kinh tế. 8 o Xuất khẩu sẽ giúp đáp ứng được những thị hiếu tiêu dùng của các quốc gia khác nhau, cung cấp được những mặt hàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng quốc tế như mặt hàng đa dạng hơn, giá cả cạnh tranh hơn.
o Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành có điều kiện phát triển thuận lợi, qua đó mở rộng thị trường tiêu thụ, cung cấp đầu vào cho sản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước. o Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm đổi mới thường xuyên năng lực sản xuất trong nước. Việt Nam có thể dựa vào thương mại quốc tế để tiếp thu nền khoa học công nghệ tiên tiến từ nước ngoài. o Xuất khẩu thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao và cải thiện chất lượng sản phẩm để gia tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
➢ Xuất khẩu tạo công ăn việc làm, giúp nâng cao đời sống người dân: o Doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu tạo ra nguồn cung việc làm vô cùng lớn với người dân, cùng với nguồn thu nhập tiềm năng và vô cùng ổn định. o Xuất khẩu cung cấp những sản phẩm thiết yếu cho người dân, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.