Chương 1: Năng lực cạnh tranh - một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam Chương 3: Quan điểm, phương hướng và những giải pháp phát triển cây điều ở Việt Nam CHƢƠNG I NĂNG LỰC CẠNH TRANH – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM ĐIỀU XUẤT KHẨU. Cạnh tranh, phân loại cạnh tranh.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá, là một nội dung trong cơ chế vận động của thị trƣờng. Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều, số lƣợng ngƣời cung cấp càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt. Các học thuyết kinh tế thị trƣờng đều thừa nhận rằng: cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trƣờng, nơi mà cung – cầu và giá cả hàng hoá là những nhân tố cơ bản của thị trƣờng. Cạnh tranh là đặc trƣng cơ bản của cơ chế thị trƣờng, là linh hồn sống của thị trƣờng.
Nhờ sự cạnh tranh không ngừng mà nền kinh tế thị trƣờng vận động theo hƣớng ngày càng nâng cao năng suất lao động xã hội – yếu tố đảm bảo cho sự thành công của mỗi quốc gia trên con đƣờng phát triển. Cạnh tranh là một hiện tƣợng kinh tế – xã hội phức tạp, tuỳ cách tiếp cận khác nhau mà có các quan niệm khác nhau về cạnh tranh. Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch”. 5 z Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam Theo cuốn Kinh tế học của P.
Samuelson thì: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trƣờng”. Cuốn Từ điển rút gọn về kinh doanh của Adam J. đã định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trƣờng nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Theo Từ điển Bách khoa của Việt nam thì: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động ganh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trƣờng có lợi nhất”.
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Theo các tác giả cuốn sách Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: “Cạnh tranh có thể đƣợc hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trƣờng, để đạt đƣợc mục tiêu kinh doanh cụ thể”. Còn có thể đƣa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm cạnh tranh của các nhà nghiên cứu, song qua các định nghĩa nêu trên có thể tiếp cận về khái niệm cạnh tranh nhƣ sau: Một là, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng về mình của các chủ thể cùng tham dự. Hai là, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là giành giật cho đƣợc một đối tƣợng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành (một cơ hội, một sản phẩm, một dự án…) hay một điều kiện có lợi (một thị trƣờng, một khách hàng…).
Mục đích cuối cùng là kiếm đƣợc lợi nhuận cao nhất. Ba là, cạnh tranh diễn ra trong một môi trƣờng cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải luôn tuân thủ nhƣ: đặc điểm sản phẩm, thị trƣờng, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh… 6 z Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam Bốn là, trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lƣợng sản phẩm, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm, cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm, cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt, cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán… Với cách tiếp cận nhƣ vậy, khái niệm cạnh tranh có thể hiểu nhƣ sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn) để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thƣờng là chiếm lĩnh thị trƣờng, giành lấy khách hàng cũng nhƣ các điều kiện sản xuất, thị trƣờng có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích. Đối với ngƣời sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với ngƣời tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
Tuỳ thuộc vào các tiêu thức đánh giá và mức độ xem xét, cạnh tranh đƣợc phân ra nhiều loại khác nhau: - Xét theo quy mô cạnh tranh, ta có: cạnh tranh của quốc gia, cạnh tranh của doanh nghiệp và cạnh tranh của sản phẩm. - Dƣới góc độ các chủ thể kinh tế tham gia thị trƣờng, có: cạnh tranh giữa những ngƣời sản xuất với nhau, giữa những ngƣời mua và ngƣời bán, ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng và giữa những ngƣời mua với nhau. Ở đây cạnh tranh xoay quanh vấn đề: chất lƣợng hàng hoá, giá cả và điều kiện dịch vụ. - Xét theo tính chất của phƣơng thức cạnh tranh có: cạnh tranh hợp pháp (cạnh tranh lành mạnh), cạnh tranh bất hợp pháp (cạnh tranh không lành mạnh).
- Xét theo hình thái của cạnh trạnh, có: cạnh tranh hoàn hảo (thuần tuý) và cạnh tranh không hoàn hảo (cạnh tranh chi phối bằng giá cả). - Dƣới góc độ các công đoạn của quá trình sản xuất – kinh doanh, có: cạnh tranh trƣớc khi bán hàng, cạnh tranh trong quá trình bán hàng và cạnh tranh sau khi bán hàng. Cạnh tranh này đƣợc thực hiện bằng phƣơng thức thanh toán và dịch vụ. - Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể trong cạnh tranh, có cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một 7 z Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó. Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến việc hình thành giá cả thị trƣờng đồng nhất đối với hàng hoá, dịch vụ cùng loại trên cơ sở giá trị xã hội của hàng hoá dịch vụ đó. Trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp thôn tính lẫn nhau. Doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trƣờng, những doanh nghiệp thua thiệt sẽ thu hẹp kinh doanh, thậm chí phá sản.
Cạnh tranh giữa các ngành là cuộc đấu tranh giữa các nhà doanh nghiệp sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với số vốn bỏ ra và đầu tƣ vốn vào ngành có lợi nhất cho sự phát triển. Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến việc các doanh nghiệp luôn tìm kiếm những ngành đầu tƣ có lợi nhất, nên đã chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành có nhiều lợi nhuận hơn. Sau một thời gian nhất định, sự điều chuyển tự nhiên đó sẽ hình thành sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất, dẫn đến kết quả cuối cùng là các chủ doanh nghiệp đầu tƣ ở các ngành khác nhau với số vốn bằng nhau chỉ thu đƣợc lợi nhuận nhƣ nhau. - Xét theo phạm vi lãnh thổ, có cạnh tranh trong nƣớc và cạnh tranh quốc tế.
Cần lƣu ý, cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ngay ở thị trƣờng nội địa, đó là cạnh tranh giữa hàng hoá sản xuất trong nƣớc với hàng ngoại nhập. Cạnh tranh kinh tế quốc tế là cạnh tranh đã vƣợt khỏi phạm vi quốc gia-tức là cạnh tranh giữa chủ thể kinh tế trên thị trƣờng thế giới. Chủ thể trực tiếp tham gia vào cạnh tranh kinh tế quốc tế, trƣớc hết là các doanh nghiệp, bởi lẽ doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp thực hiện việc sản xuất hàng hoá và dịch vụ. Năng lực cạnh tranh.
Khi nghiên cứu về cạnh tranh, các nhà nghiên cứu hay sử dụng khái niệm sức cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh…Tuy nhiên, các khái niệm này là một khái niệm phức hợp đƣợc xem xét ở các cấp độ khác nhau nhƣ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Năng lực cạnh tranh của quốc gia. 8 z Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam Theo định nghĩa của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF-World Economic Forum) thì năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt đƣợc và duy trì mức tăng trưởng nền kinh tế cao trên cơ sở các chính sách, thể chế tƣơng đối bền vững và các đặc trƣng kinh tế khác. Nó đƣợc xác định bởi các nhóm nhân tố sau: Mức độ mở của nền kinh tế (bao gồm mở cửa thƣơng mại và đầu tƣ); Vai trò và năng lực của Chính phủ; Tài chính tín dụng; Khoa học và công nghệ; Cơ sở hạ tầng; Quản lý kinh doanh; Lao động; Thể chế…[8].
Khái niệm này cho thấy năng lực cạnh tranh của quốc gia đƣợc xác định trƣớc hết bằng mức độ tăng trƣởng của nền kinh tế quốc dân và sự có mặt hay thiếu vắng của các yếu tố quy định khả năng tăng trƣởng kinh tế dài hạn trong các chính sách kinh tế đã thực hiện. Tuy nhiên, khái niệm này không bao hàm đƣợc tất cả các khía cạnh về giá trị gia tăng, không phản ánh đƣợc nguyên nhân tạo ra sức cạnh tranh và kết quả của cạnh tranh. Một số nhà kinh tế khác lại đƣa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của quốc gia dựa trên năng suất lao động (M. Porter), ông cho rằng "Khái niệm có ý nghĩa nhất về năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động" [38], hay là dựa trên tỷ lệ tăng trưởng thu nhập thực tế (Uỷ ban về Cạnh tranh công nghiệp Mỹ).