CHƯƠNG 1 sự phát triển kinh tế đất nước trong ngắn hạn. Nhưng trong dài hạn nợ công sẽ có nguy cơ gây tổn hại cho nền kinh tế bởi những yêu cầu thanh toán cả vốn gốc và lãi của nó. Rogoff 3, hai nhà kinh tế học nổi tiếng về nghiên cứu lĩnh vực nợ công, đã xem xét mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế với các mức độ khác nhau của nợ công ở những nền kinh tế tiên tiến và mới nổi, dựa trên chuỗi số liệu quá khứ dài hạn và mô tả thực nghiệm đã đưa ra kết quả tác động phi tuyến của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế. Trong nghiên cứu gần đây (2010) được thực hiện bởi hai tác giả này, thông qua thống kê tương quan đơn giản về những mức khác nhau của nợ công và tốc độ tăng trưởng GDP thực dài hạn trong mẫu 20 quốc gia phát triển4 trải dài khoảng hai thế kỉ (1790 -2009), và mẫu 24 nền kinh tế thị trường kinh tế mới nổi5 giai đoạn 1946–2009 nhận thấy rằng: Tỉ số nợ/GDP dưới ngưỡng 90% GDP: Thể hiện mối tương quan ngược chiều giữa nợ công và tăng trưởng dài hạn ở mức độ yếu.
Tỉ số nợ/GDP trên ngưỡng 90% GDP: Thể hiện mối tương quan ngược chiều giữa nợ công và tăng trưởng dài hạn ở mức độ mạnh. Điều này sẽ được trình bày rõ hơn ở phần bằng chứng thực nghiệm trong bảng thống kê về nợ và tăng trưởng kinh tế của một số quốc gia chọn lọc trong phụ lục 1. Như vậy, dựa vào ngưỡng nợ cảnh báo trong việc đề ra những chính sách quản lý nợ công và trần nợ công phù hợp cho mỗi quốc gia là điều hết sức cần thiết, có như thế mới tránh được tình trạng vay nợ quá đà hạn chế được trạng thái sử dụng nợ không hiệu quả dẫn đến mất khả năng chi trả và làm ảnh hưởng tiêu cực đến tăng 3 Carmen M. Reinhart và Kenneth S.
Rogoff, A growth in time of debt, Working Paper 15639; http://www. 4 20 quốc gia phát triển: Úc, Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ireland, Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Anh, Mỹ, Nauy, New Zealand, Ý. 5 24 thị trường kinh tế mới nổi: Argentina, Bolivia, Brazil, Chile, Trung Quốc, Colombia, Ai Cập, Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Mexico, Nigeria, Peru, Philippines, Nam Phi, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Uruguay, và Venezuela. NTH: Lâm Xiêm Dung A NHDKH: PGS.
Phan Thị Bích Nguyệt LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Trang 13 CHƯƠNG 1 trưởng kinh tế. Vì đối với những quốc gia phát triển và những nền kinh tế thị trường mới nổi, mối quan hệ giữa nợ công và sự tăng trưởng kinh tế biểu hiện rõ nhất khi nợ vượt mức 90-100% GDP; lúc này, nợ càng tăng, tăng trưởng kinh tế giảm đáng kể. Theo một số nghiên cứu của Krugman (1988) và Sachs (1989)6 đã xem xét tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế ở những quốc gia có nền kinh tế đang phát triển thông qua sự tác động của nợ nước ngoài, một yếu tố được xem là có vai trò quan trọng trong cấu trúc nợ công. Phần lớn vấn đề mà các nghiên cứu này đặt ra đều là giả thuyết “số dư nợ quá mức” – đề cập đến tình trạng khi nghĩa vụ nợ là gánh nặng của một quốc gia.
Gánh nặng này đã làm cho một phần lớn sản lượng tạo ra phải tích lũy cho các chủ nợ nước ngoài từ đó dẫn đến sự không khuyến khích trong đầu tư. Cũng theo đánh giá của Ayadi (1999) và Ayadi et. (2003)7, gánh nặng nợ nước ngoài đã giới hạn sự tham gia của những quốc gia đang phát triển với nền kinh tế toàn cầu và kèm theo đó là những nghĩa vụ nợ đã gây trở ngại đến tăng trưởng và phát triển kinh tế. Vì khi vay nợ của một quốc gia tăng lên quá cao, những e ngại về vấn đề mất khả năng chi trả được đặt nặng, và các quốc gia khác tiến hành thẩm định môi trường đầu tư kỹ càng hơn và từ đó họ đưa ra những điều khoản khắt khe hơn gây ảnh hưởng đến hội nhập kinh tế của nền kinh tế chính quốc.
Ngoài ra, gánh nặng nợ quốc gia còn gây trở ngại trong chi tiêu công cho đầu tư phát triển, hạn chế việc tích lũy nguồn vốn tạo nên sự trống rỗng trong dự trữ và có khuynh hướng cản trở áp dụng những chính sách tiền tệ linh hoạt để củng cố những doanh nghiệp vừa và nhỏ do nguồn thu được phải đáp ứng phần lớn nghĩa vụ nợ cả gốc và lãi. Điều này đã ảnh hưởng một cách gián tiếp đến việc làm, học vấn và năng lực tài chính của người dân trong một quốc gia. Kumar và Jaejoon Woo (2010), Public Debt and Growth, IMF Working Paper Fiscal Affairs Department. Ayadi (2008), The impact of external debt on economic growth: a comparative study of Nigeria and South Africa, Texas Southern University.
NTH: Lâm Xiêm Dung A NHDKH: PGS. Phan Thị Bích Nguyệt LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Trang 14 CHƯƠNG 1 Vì vậy, cần phải xem xét sự tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế thông qua dữ liệu nợ nước ngoài cùng với những rủi ro và hệ lụy mà nó mang lại: sự không khuyến khích đầu tư, giới hạn sự tham gia của các quốc gia đang phát triển với nền kinh tế toàn cầu, sự trống rỗng trong dự trữ ngoại hối quốc gia, cứng nhắc trong chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Theo Hunt (2007)8 sự gia tăng trong tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Sachs (2002) cho rằng sự tăng trưởng kinh tế sẽ không tăng cho đến khi tổng lượng vốn tăng đạt đến một ngưỡng nhất định.
Khi lượng vốn tăng thì đầu tư và sản lượng đầu ra cũng tăng, trong vòng xoắn tiến lên, tiết kiệm sẽ tiếp tục tăng. Sau khi đạt được một mức độ, sự tăng lên trong cả vốn và tiết kiệm sẽ kích thích sự tăng lên trong tăng trưởng một cách tự lực. Lý thuyết “dual-gap” nói rằng đầu tư là một hàm của tiết kiệm, và trong những quốc gia đang phát triển, khi mức độ tiết kiệm nội địa không đủ để tài trợ cho đầu tư cần thiết để đảm bảo phát triển kinh tế, thì việc tìm kiếm và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ từ bên ngoài là điều tất yếu. Quy mô của nợ nước ngoài đạt đến một mức độ lớn hơn so với vốn tự có, sẽ dẫn đến sự không cân bằng giữa nợ và vốn tự có; (ii).
Khi tỷ lệ nợ với lãi suất thả nổi tăng đột ngột, thì những người vay mượn phải đối mặt trực tiếp với việc lãi suất tăng cao; (iii). Thời hạn vay rút ngắn đáng kể, một phần là do bởi sự giảm đi của những nguồn chính thức. Bên cạnh đó, Mehran (1986) cho rằng quản lý nợ tương xứng là thiết yếu trong môi trường tài chính ngày càng phức tạp. Mehran cũng xác định môi trường quản lý nợ là sự kết hợp giữa chính sách, môi trường kiểm soát, kế toán, phân tích thống kê và những yếu tố khác như chính sách minh bạch và chống tham nhũng, sự 8 Folorunso S.
Ayadi (2008), The impact of external debt on economic growth: a comparative study of Nigeria and South Africa, Texas Southern University. NTH: Lâm Xiêm Dung A NHDKH: PGS. Phan Thị Bích Nguyệt LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Trang 15 CHƯƠNG 1 cải tiến của cấu trúc quản lý nợ và quá trình đưa ra quyết định, cũng như vấn đề tiếp theo là quyết định quy mô nợ thực tế trong việc nhận và quản lý nợ. Vay mượn nước ngoài trong thực tế được đo lường bởi những tỷ số riêng như nợ trên xuất khẩu, thanh toán nợ trên xuất khẩu, nợ trên GDP (hoặc GNP), và nợ nước ngoài so với tổng thu nhập quốc dân (GNI).
Tuy nhiên, quyết định mức phù hợp của những chỉ số này khó xác định và việc hữu ích bây giờ là giảm thiểu nguy cơ bùng nổ trong tăng trưởng nợ nước ngoài. Cụ thể, nếu nợ nước ngoài tăng cao, thanh toán gánh nặng nợ sẽ cao hơn so với khả năng chịu đựng gánh nặng nợ của quốc gia, dẫn đến việc nhận nợ sẽ trở nên rắc rối và tình huống này phải được đảo ngược thông qua mở rộng xuất khẩu; vì nếu xuất khẩu không được mở rộng, vay mượn sẽ nhiều hơn để thanh toán nợ, và cứ thế nợ nước ngoài sẽ chồng chất vượt quá khả năng chịu đựng của một quốc gia. Như vậy, điều cần giải quyết chính là xác định đúng những yếu tố thuộc môi trường quản lý nợ công của mỗi quốc gia, đặc trưng vốn có của chúng để có thể đề ra được chính sách quản lý phù hợp: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán nợ công, vấn đề thực hiện minh bạch và chống tham nhũng, quy trình ra quyết định khi vay nợ và xét duyệt dự án. Từ những vấn đề nêu trên, ta có thể thấy tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm và đầu tư có mối quan hệ với nhau: Khi vốn nội địa không đủ để tài trợ cho chi tiêu đầu tư trong nước để phục vụ phát triển kinh tế thì vay nợ là điều tất yếu.
Tuy nhiên, vay nợ luôn kèm theo những rủi ro về lãi suất, thời hạn, cơ cấu vay mượn. Vì vậy việc quản lý nợ hiệu quả luôn cần thiết để tránh những ảnh hưởng tiêu cực tác động lên tăng trưởng kinh tế Theo Cohen (1993) và Clements et al. (2003) cho thấy tác động tiêu cực của nợ lên tăng trưởng không chỉ thông qua sự tồn đọng của nợ mà còn thông qua dòng chi trả nợ, điều này giống như giảm bớt chi tiêu cho đầu tư của Chính Phủ. Trong khi chi tiêu cho đầu tư của Chính Phủ được xem là yếu tố quyết định chủ yếu của các hoạt động kinh, nên việc đánh giá, xem xét thận trọng trong kiểm soát vay nợ là điều rất cần thiết.
Ngoài ra, nợ tích lũy cũng làm giảm sức mạnh của nền kinh tế NTH: Lâm Xiêm Dung A NHDKH: PGS. Phan Thị Bích Nguyệt LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Trang 16 CHƯƠNG 1 thông qua tác động “nợ tăng thêm” với trở ngại thuế khóa và bất ổn định vĩ mô. Trở ngại thuế khóa nghĩa là tồn nợ lớn không khuyến khích đầu tư vì những người đầu tư tiềm năng nhận thấy rằng sẽ có thuế cao hơn trên thu nhập tương lai để tạo nên khoản hoàn trả nợ. Bất ổn vĩ mô có liên quan đến việc gia tăng thiếu hụt tài chính, không chắc chắn do sự huy động vốn bất thường, sự suy giảm giá trị đồng nội tệ, mở rộng tiền tệ và lạm phát dự đoán.