phần mở đầu, nội dung chính và kết luận. Ngoài ra còn có danh mục các tài liệu tham khảo và phần phụ lục. Trong đó, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển kinh tế huyện; Chƣơng 2: Các nhân tố ảnh hƣởng và thực trạng phát triển kinh tế huyện Nhƣ Thanh, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010-2021; Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp phát triển kinh tế huyện Nhƣ Thanh đến năm 2030 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Việc nghiên cứu phát triển KT lãnh thổ quy mô nhỏ nói chung và cấp huyện nói riêng, đƣợc nhiều nhà khoa học, nhà kinh tế, các cơ quan chuyên ngành, trong đó có Địa lí học rất quan tâm, nhằm phát huy có hiệu quả các nguồn lực sẵn có trên địa bàn để phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân… Có rất nhiều công trình nghiên cứu bàn về phát triển kinh tế, lí luận và thực tiễn, đã đƣợc công bố, tiêu biểu nhƣ: - Địa lí kinh tế Việt Nam của GS.TS Nguyễn Viết Thịnh, GS.TS Đỗ Thị Minh Đức (2001), NXB Giáo dục Việt Nam - Phát triển kinh tế của GS.
Vũ Thị Ngọc Phùng (2005), Nhà xuất bản Lao động xã hội; - Địa lí kinh tế - xã hội đại cương của PGS.TS Lê Văn Trƣởng (2005), NXB Chính trị quốc gia. - Địa lí các vùng kinh tế Việt Nam của PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ (2009), NXB Giáo dục Việt Nam - Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam của GS. Lê Thông (2011), NXB Đại học sƣ phạm Hà Nội; - Kinh tế phát triển PGS.TS Phạm Ngọc Linh, TS Nguyễn Thị Kim Dung (2011), NXB Đại học kinh tế quốc dân. Việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế nói chung và phát triển kinh tế huyện ở Thanh Hóa nói riêng là những đề tài luận văn đƣợc nhiều học viên thực hiện và bảo vệ thành công, trong chƣơng trình đào tạo Thạc sĩ Địa lí học ở Khoa Khoa học xã hội, Trƣờng Đại học Hồng Đức.
Có thể kể đến nhƣ: - Phát triển kinh tế Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010- 2019, Luận văn Thạc sĩ Địa lí học của Mai Thị Anh, 2020, ĐH Hồng Đức. - Phát triển kinh tế biển huyện Hậu Lộc giai đoạn 2010-2019, Luận văn Thạc sĩ Địa lí học của Bùi Văn Đại, 2020, ĐH Hồng Đức. - Phát triển nông nghiệp huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, Luận văn Thạc sĩ Địa lí học của Nguyễn Thị Huyền Diệu, 2020, ĐH Hồng Đức. - Tổ chức lãnh thổ kinh tế huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, Luận văn Thạc sĩ Địa lí học của Nguyễn Đức Phƣờng, 2020, ĐH Hồng Đức.
- Phát triển kinh tế huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010- 2019, Luận văn Thạc sĩ Địa lí học của Lê Văn Thái, 2020, ĐH Hồng Đức. Về địa bàn huyện Nhƣ Thanh, đã có một số công trình, đề án, báo cáo của các cơ quan chuyên môn nhƣ: Lịch sử Đảng bộ huyện Như Thanh, Tập 1, năm 2000; Quy hoạch xây dựng vùng huyện Như Thanh tỉnh Thanh Hóa đến năm 2045, 6 do UBND tỉnh Thanh Hoá, Viện Quy hoạch và Kiến trúc công bố 4/2022; Số liệu thống kê 2010–2021 (Phòng thống kê huyện Nhƣ Thanh); Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển KT- XH 2010 – 2021 [10]…và gần đây nhất là Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ Huyện Như Thanh nhiệm kỳ 2020-2025 đã đánh giá khách quan về tình hình KT-XH Nhƣ Xuân trong 5 năm vừa qua (2015- 2020) và xác định phƣơng hƣớng, mục tiêu phấn đấu cho 5 năm tới (2020-2025). Nhƣ vậy, nghiên cứu về phát triển kinh tế nói chung, trên địa bàn huyện Nhƣ Thanh nói riêng đã có không ít các công trình đƣợc công bố. Tuy nhiên, dƣới góc độ địa lí KT-XH, hiện nay chƣa có một công trình nào nghiên cứu về KT-XH huyện Nhƣ Thanh một cách toàn diện và chi tiết.
Do đó việc thực hiện thành công đề tài này sẽ góp phần củng cố lí luận và thực tiễn về phát triển KT-XH cấp huyện nói chung; lựa chọn các tiêu chí đánh giá, vận dụng đánh giá trình độ phát triển KT–XH huyện Nhƣ Thanh một cách phù hợp; từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phát triển KT-XH Nhƣ Thanh đến năm 2030. Tăng trưởng kinh tế Theo Bách khoa toàn thƣ:“Tăng trưởng kinh tế (economic growth) là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng thu nhập quốc dân (GNP) trong một thời gian nhất định. Sự gia tăng về quy mô sản lƣợng KT nhanh hay chậm so với thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trƣởng. Nhƣ vậy nội dung khái niệm tăng trƣởng kinh tế bao gồm quy mô và tốc độ tăng trƣởng.
Để tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải của xã hội, hiện nay trên thế giới ngƣời ta thƣờng tính bằng các đại lƣợng tổng thu nhập quốc gia (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Tuy nhiên, những con số thể hiện tăng trƣởng GDP, GNI, hay GDP/ngƣời không phản ánh sự vận động đi lên của XH, không cho biết đƣợc tình hình phân phối thu nhập quốc dân, cơ cấu KT-XH, tính năng động của nền KT và tình hình phúc lợi của nhân dân,. mà chỉ thuần túy nói đến sự tăng lên về số lƣợng. Ngày nay tăng trƣởng KT đƣợc gắn với chất lƣợng tăng trƣởng.
Nếu nhƣ số lƣợng của tăng trƣởng KT đƣợc thể hiện ở qui mô, tốc độ của tăng trƣởng, thì chất lƣợng của tăng trƣởng KT là đặc tính quy định vốn có của nó, đó là sự thống nhất hữu cơ làm cho tăng trƣởng KT khác với các hiện tƣợng khác. Các yếu tố cấu thành và phƣơng thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành nên tăng trƣởng kinh tế có ý nghĩa quyết định chất lƣợng tăng trƣởng KT. Về chất lƣợng tăng trƣởng KT, cho tới nay có nhiều cách hiểu khác nhau. Cùng với quá trình tăng trƣởng, theo một số nhà kinh tế học nổi tiếng đƣợc giải thƣởng Nobel gần đây nhƣ Amrtya Sen, G.Stiglitz, cũng nhƣ theo quan điểm của chƣơng trình phát triển Liên hợp quốc và Ngân hàng thế giới,.
7 thì chất lƣợng tăng trƣởng thì biểu hiện tập trung ở 6 tiêu chuẩn chính sau đây: - Tốc độ tăng trƣởng KT giữ đƣợc ổn định trong dài hạn, đồng thời tránh đƣợc những biến động từ bên ngoài. - Sự đóng góp của yếu tố năng suất, nhân tố tổng hợp TFP cao và không ngừng gia tăng thúc đẩy tăng trƣởng KT theo chiều sâu. - Tăng trƣởng KT phải đi đôi với nâng cao hiệu quả KT và năng lực cạnh tranh của nền KT. - Tăng trƣởng KT đi đôi với phát triển môi trƣờng bền vững.
- Tăng trƣởng KT phải thúc đẩy đổi mới thể chế dân chủ, tạo cơ sở để thúc đẩy tăng trƣởng ở tỉ lệ cao hơn. - Tăng trƣởng KT phải đóng góp lớn vào việc cải thiện phúc lợi xã hội và giảm đƣợc đói nghèo [11]. Phát triển kinh tế Khái niệm phát triển KT mang nội hàm rộng hơn tăng trƣởng KT.TS Ngô Thắng Lợi:“Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến toàn diện về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia”. Theo quan điểm này phát triển KT bao gồm sự tăng trƣởng KT, đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế KT, chất lƣợng cuộc sống.
Theo nghĩa đó, phát triển KT bao gồm những nội dung chủ yếu sau: - Sự tăng trƣởng bao gồm sự tăng lên của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập bình quân đầu ngƣời. - Sự biến đổi cơ cấu KT theo hƣớng thời đại, tiến bộ: Tỉ trọng ngành CN và DV ngày càng tăng trong tổng sản phẩm quốc dân, trong khi tỉ trọng ngành NN ngày càng giảm. - Các tiêu chí về phúc lợi XH, tiêu chuẩn sống, giáo dục, sức khỏe và sự bình đẳng về KT, chính trị, xã hội của nhân dân ngày càng cao. Theo GS Nguyễn Ngọc Trân (2015): Phát triển kinh tế vùng là nhằm thúc đẩy và bảo đảm sự phát triển cân đối, bền vững của đất nƣớc, có tính đến các yếu tố đặc thù và cơ hội của toàn lãnh thổ và của các vùng, giảm bớt những khác biệt giữa các vùng, không phải bằng cào bằng, kìm hãm nhau, mà bằng bảo tồn và phát huy những đặc tính riêng về môi trƣờng tự nhiên, văn hóa và tiềm năng phát triển của các vùng [11].
Trình độ phát triển kinh tế-xã hội của một lãnh thổ là mức độ đạt đƣợc tính đến một thời điểm nhất định so với mục tiêu đặt ra hoặc chuẩn phát triển KT–XH mà lãnh thổ đó hƣớng tới. Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế Hai thuật ngữ tăng trƣởng và phát triển KT tuy khác nhau nhƣng luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tăng trƣởng KT thiên về số lƣợng, còn tiến bộ về cơ cấu KT-XH phản ánh về chất lƣợng của nền KT. Tăng trƣởng KT chƣa phải là phát 8 triển KT, nhƣng tăng trƣởng KT là yếu tố cơ bản nhất của phát triển KT.
Nếu không có tăng trƣởng KT thì sẽ không có phát triển KT. Theo đó phát triển KT bao hàm trong đó có tăng trƣởng KT nhanh và bền vững hơn. Nhƣ vậy, phát triển KT chính bằng tăng trƣởng KT cộng với tiến bộ về cơ cấu KT-XH. Cơ cấu kinh tế “Cơ cấu nền kinh tế là tổng thể những mối quan hệ về chất lƣợng và số lƣợng giữa các bộ phận cấu thành nền KT trong một thời gian và trong những điều kiện KT-XH nhất định”.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi về số lƣợng các ngành hoặc sự thay đổi về quan hệ tỉ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành và tốc độ tăng trƣởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu KT. Chuyển dịch cơ cấu KT chính là cải tạo cơ cấu KT cũ, lạc hậu thành một cơ cấu KT mới phù hợp hơn. Trong quá trình phát triển KT, tỉ trọng của khu vực N- L-TS giảm, tỉ trọng CN-XD và DV trong GDP tăng; Tỉ trọng lao động trong CN- XD và DV trong tổng ngƣời lao động đang làm việc tăng, đã kéo theo dân cƣ đô thị tăng, trong khi dân cƣ nông thôn giảm. Việc chuyển dịch cơ cấu KT sẽ giúp cho nền KT phát triển với tốc độ nhanh, vững chắc, có khả năng hội nhập với khu vực và thế giới, làm cho nền KT năng động và hiệu quả hơn.
Các học thuyết, mô hình về phát triển kinh tế 1.