CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. QUÁ TRÌNH RA QUYẾT ĐỊNH MUA VAI TRÒ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH RA QUYẾT ĐỊNH MUA. Tiến trình ra quyết định mua của người tiêu dùng Quá trình ra quyết định mua của người tiêu dùng là một chuỗi các hành động mà thông qua đó người tiêu dùng thu thập, phân tích thong tin va dura ra các lựa chọn sản phẩm/thương hiệu. Quá trình này có thể được mô hình hóa thành năm giai đoạn: Ý thức về nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án, quyết định mua và hành vi sau khi mua.
Ý Tìm Đánh Quyết Hành thức +| kiếm | „| Bid ede định vi sau nhu phương mua mua cầu thông án Hình 1. Tiến trình ra quyết định mua của người tiêu dùng [9] Mô hình này chứa đứng một an ý là người tiêu dùng khi mua một sản phẩm/thương hiệu phải trải qua tat cả năm giai đoạn. Song thực tế không phải như vậy, người tiêu dùng có thể bỏ qua hay đảo lại một số giai đoạn. - Ý thức như cầu: Quá trình ra quyết định mua khởi đầu với việc người mua nhận thức được một vấn đềhay một nhu cầu.
Nhu cầu có thể được hiểu/nhận ra nhanh bởi các kích tác bên trong và bên ngoài. Mỗi khi một nhu cầu nào đó xuất hiện, các cá nhân luôn cần phải thỏa mãn nó. Mức độ thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng được thể hiện rõ ràng trong Tháp nhu cầu của Maslow (từ thấp đến cao gồm nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm, nhu cầu "H được tôn trọng và nhu cầu được thể hiện mình). - Tìm kiếm thông tin: Một khi nhu cầu được nhận dạng, người tiêu dùng có thể kiếm thêm thông tin hoặc không tìm kiếm thêm thông tin.
Các nguồn thông tin mà người tiêu dùng hướng đến là: + Nguồn cá nhân: gia đình, bạn bè, hàng xóm, người quen. + Nguồn thương mại: quảng cáo, nhân viên bán hàng, bao bì, trưng bày, + Nguồn công cộng: các phương tiện truyền thông đại chúng, các tổ chức. +Nguồn kinh nghiệm: tiếp xúc, khảo sát. - Đánh giá các phương án: Sau khi có được những thông tin cần thiết, người tiêu dùng sẽ đánh giá các phương án lựa chọn.
Không có một quá trình đánh giá đơn giản và duy nhất mà tất cả mọi người tiêu dùng đều sử dụng hay thậm chí một người tiêu dùng sử dụng cho tất cả các tình huống mua sắm. Thông thường mô hình quá trình đánh giá của người tiêu dùng được thiết lập phần lớn dựa trên sự nhận thức và tính hợp lý. Khi lựa chọn thương hiệu đề tiêu dùng, người tiêu dùng muốn thỏa mãn ở mức độ cao nhất nhu cầu của mình bằng chính thương hiệu đó. “Trong quá trình tìm kiếm thông tin, người tiêu dùng sẽ phân nhóm và ghi nhớ những thông tin quan trọng.
Các thông tin giúp người tiêu dùng đưa ra các tiêu chí cụ thể cho từng thương hiệu cụ thể hơn, từ đó hình thành nên hệ thống các tiêu chuẩn hóa. Các tiêu chuẩn đánh giá là những nét đặc biệt khác. nhau của thương hiệu mà ngươi tiêu dùng tìm kiếm để đáp ứng nhu cầu của chính mình. Các u chuẩn đánh giá của khách hàng này có thể khác với các tiêu chuẩn đánh giá của người tiêu dùng khác đối với cùng một thương hiệu.
Những tiêu chuẩn đánh giá này sẽ giúp người tiêu dùng đánh giá các phương án. - Ra quyết định mua: Sau khi đánh giá các phương án, người tiêu dùng đã hình thành nên ý 12 định mua. Người tiêu dùng sẽ chọn một sản phẩm/thương hiệu dé mua. Tuy nhiên, có hai yếu tố có thê ảnh hưởng đến quyết định cuối cùng của người tiêu dùng.
'Yếu tố thứ nhất là thái độ của người khác: Mức độ mà thái độ của những người khác làm suy yếu phương án ưu tiên của một người nào đó phụ thuộc vào hai (1) Mức độ mãnh liệt ở thái độ phản đối của người khác đối với phương án ưu tiên của người tiêu dùng và (2) động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của người khác. 'Yếu tố thứ hai là tình huống bất ngờ. Người tiêu dùng hình thành ý định mua trên cơ sở những yếu tố như (thu nhập dự kiến của gia đình, giá dự kiến và ích lợi dự kiến của sản phẩm). Khi người tiêu dùng sắp sữa hành động thì những yếu tố tình huống bắt ngờ có thể xuất hiện đột ngột và làm thay đôi ý định mua.
Ngoài ra, quyết định mua của người tiêu dùng chịu tác động của rủi ro nhận thức được. Đối với những món hàng đất tiền, người tiêu dùng sợ phải chịu những rủi ro như phải bỏ ra một khoản tiền lớn, lợi ích lại không như mong đợi. Mức độ rủi ro nhận thức được thay đồi theo số tiền bị nguy hiểm, mức độ không chắc chắn của các tính chất và mức độ tự tin của người tiêu dùng. Người tiêu dùng tìm sẽ những biên pháp nhất định để giảm thiểu rủi ro, như hủy bỏ quyết định, tìm hiểu thêm thông tin từ bạn bè.
-Hành vỉ sau mua: Sau khi mua người tiêu dùng có thể thỏa mãn hoặc có thể không thỏa mãn. Nếu người tiêu dùng hài lòng thì rất có thể họ sẽ mua thương hiệu đó. trong lần tới. Ngược lại, khi người tiêu dùng bắt mãn, thì họ cũng sẽ có những thái độ khác nhau, họ có thê sẽ không làm gì cả, nhưng cũng có thể kiện nhà sản xuất.
13 Nhu vậy, người tiêu dùng khi ra quyết định mua phải trai qua nhiều giai đoạn và chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau: những yếu tố cá nhân bao. gồm như tuổi tác, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế, phong cách sống, cá tính. những yếu tố tâm lý bên trong con người gồm những yếu tố như động cơ, nhu nhận thức, khả năng hiểu biết, niềm tin, thái độ .; những yếu tố bên ngoài như môi trường văn hóa, nhánh văn hóa, tầng lớp xã hội, nhóm ảnh. hưởng, gia đình.
Vài trò của việc nghiên cứu quá trình ra quyết định của người tiêu dùng “Trong các sách báo tư liệu về quản trị chiến lược người ta định nghĩa lợi thế cạnh tranh như là một khả năng của công ty đẻ đạt khả năng ưu việt hơn trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh. Một trong những cách luôn tạo. ra lợi thé cạnh tranh mạnh mẽ là việc định hướng các thuộc tính của sản phẩm hàng hóa/dịch vụ tới mong muốn và nhu cầu của người tiêu dùng. Doanh nghiệp có thé làm ra những sản phẩm/dịch vu rắt tốt nhưng lại không phù hợp.
với mong muốn, thị hiếu của khách hàng thì cũng chẳng bán được cho ai. Vì vậy, hiểu được những nhu cầu và mong muốn cũng như sở thích của người tiêu dùng là hết sức quan trọng. Nghiên cứu quá trình ra quyết định của người tiêu đùng sẽ giúp doanh nghiệp hiểu được nhu cầu và mong muốn của họ. Những doanh nghiệp khôn ngoan sẽ nghiên cứu quá trình thông qua quyết định của người tiêu dùng đối với sản phẩm/thương hiệu của họ.
Họ sẽ phải tìm hiểu xem người tiêu dùng đã làm quen với thương hiệu từ khi nào, có niềm tin với thương hiệu nào, lựa chọn thương hiệu ra sao và sau khi tiêu dùng thì hài lòng như thế nào. Qua đó, doanh nghiệp sẽ phát hiện ra những cách thức để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Thông qua việc hiểu được những nhu cầu và quá trình mua sắm của người tiêu dùng, doanh nghiệp có thể thiết kế được những chương trình 14 marketing cho các thị trường mục tiêu và hoạch định được những chiến lược marketing có hiệu quả. Với việc nghiên cứu những mong muốn, nhận thức, sở thích và các hành vi lựa chọn và mua sắm của những khách hàng mục tiêu sẽ cho doanh nghiệp.
những gợi ý để pháttriên sản phẩm mới, tính năng của sản phẩm, xác định giá cả, các kênh phân phối. Vài trò việc nghiên cứu quá trình ra quyết định của người tiêu dùng đã làm cho các doanh nghiệp ngày càng quan tâm nÏ éu hon va trở thanh xu hướng được phát triển mạnh trong những năm gần đây. QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN NGÂN HÀNG Quyết định lựa chọn ngân hàng là một bước đi cụ thể trong tiến trình hành vi của khách hàng liên quan đến việc nhận thức, thu thập thông tin, đánh giá và ra quyết định. Trong quá trình đó, ra quyết định lựa chọn chịu tác động của nhiều yếu tố: các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài ngân hàng, các yếu.
tố cá nhân, yếu tố tâm lý bên trong con người. Khi lựa chọn một ngân hàng, khách hàng sẽ chọn ngân hàng nào đó mà theo khách hàng có thể thỏa mãn nhu cầu cao nhất của mình. Thông thường, khách hàng lựa chọn ngân hàng dựa trên sự nhận thức và tính hợp lý. Sau khi có được những thông tin cần thiết, khách hàng sẽ hình thành nên những tiêu chuẩn xem xét, đánh giá khi đưa ra quyết định lựa chọn ngân hàng.
Đó là những yếu tố được khách hàng quan tâm khi lựa chọn một ngân hàng. Chính vì vậy, đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu các yếu tố được khách hàng quan tâm khi lựa chọn một ngân hàng giao dịch va sử dụng những yếu tố nay dé do lường quyết định lựa chọn của khách hàng. NHẬN DẠNG NGƯỜI GỬI TIỀN TIẾT KIỆM Người gửi tiề chính là người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. Người gửi tiền có thể là chủ sở hữu tiềntiết kiệm, hoặc đồng chủ sở 15 hữu tiền tiết kiệm, hoặc người giám hộ hoặc đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm.
Chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là người đứng tên trên the tiết kiệm. ‘Theo quy định hiện nay, người gửi tiền tiết kiệm là những người: - Cá nhân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo qu định của Bộ luật dân sự, cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt đông hợp pháp tại Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt nam. - Cá nhân Việt nam, cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động. hợp pháp tại Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi nhưng có tài sản riêng đủ để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ Luật dân sự.
- Đối với người chưa thành niên, người mất năng lựa hành vi dân sự, người hạn chế năng lựa hành vi dân sự theo quy định của pháp luật thì chỉ được thực hiện gửi tiết kiệm thông qua người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật.