Chương 1: Tổng quan về làng gốm Phù Lãng. - Chương 2: Hoạt động du lịch ở làng gốm Phù Lãng - Bắc Ninh. - Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch làng gốm Phù Lãng. Footer Page 12 of 107.
10 Header Page 13 of 107. CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ LÀNG GỐM PHÙ LÃNG 1.1 Lý luận về du lịch và du lịch làng nghề 1. Du lịch là gì? Hoạt động du lịch trên thế giới hình thành sớm, từ thời kỳ cổ đại đến thời kỳ phong kiến, rồi đến cận đại và hiện đại. Hoạt động kinh doanh du lịch cũng dần phát triển và ngày càng được nâng cao cả về cơ sở vật chất kỹ thuật đến các điều kiện về ăn, ở, đi lại, vui chơi, giải trí,… Ngày nay, hoạt động du lịch mang tính toàn cầu, và đã trở thành một nhu cầu thiết yếu của người dân các nước kinh tế phát triển.
Du lịch cũng là một tiêu chuẩn để đánh giá mức sống của dân cư nước đó. Do vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch. Có một thực tế là mặc dù hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu và phát triển với tốc độ nhanh, song cho đến nay khái niệm du lịch vẫn chưa có sự thống nhất. Ở mỗi hoàn cảnh khác nhau (về thời gian và không gian), mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi cá nhân lại có cách hiểu khác nhau về du lịch.
Hai giáo sư người Thụy Sĩ Hunzikeer và Krapt là những người đặt nền móng cho lý thuyết về du lịch đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”. 16] Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế. Nhà kinh tế học người Bỉ Picara Edmod đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tổng hòa của việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến Footer Page 13 of 107. 11 Header Page 14 of 107.
với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí.18] Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO): "Du lịch là hoạt động đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm".17] Theo luật Du lịch Việt Nam: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.2] Qua một số định nghĩa trên, du lịch được hiểu là một dạng hoạt động đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hoá – xã hội. Quán triệt tinh thần đó, tại Điều khoản 1 Pháp lệnh Du lịch được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 02/02/1999 đã khẳng định “Nhà nước Việt Nam xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” [22, tr. Các nhà làm luật thường coi khái niệm “du lịch” gắn với việc “di chuyển của khách ngoài địa điểm cư trú thường xuyên của mình” [16, tr.
Du lịch quốc tế là một trong những hình thức cơ bản của du lịch xét theo không gian lãnh thổ di chuyển, cư trú, tham quan, giải trí… và ngày càng trở thành một bộ phận hữu cơ của toàn bộ hoạt động du lịch quốc gia. Hoạt động du lịch quốc tế có hai đặc điểm chính: khách du lịch mang quốc tịch nước ngoài và quá trình thanh toán được thực hiện bằng ngoại tệ. Trong điều kiện hội Footer Page 14 of 107. 12 Header Page 15 of 107.
nhập kinh tế quốc tế, du lịch quốc tế được coi như động lực tăng trưởng và phát triển nhanh của quốc gia. Du lịch làng nghề là gì? 1. Khái niệm làng nghề Để hiểu thế nào là làng nghề, trước hết cần phải nắm rõ khái niệm nghề truyền thống: “Nghề truyền thống là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc đang có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí sau: Thứ nhất đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm; Thứ hai tạo ra sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; Thứ ba phải gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.
Sự phát triển của nghề truyền thống là nhân tố trực tiếp và chủ yếu nhất đưa tới sự xuất hiện của các làng nghề. Vậy “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn hoặc các điểm dân cư tương tự trên một địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Làng nghề phải đạt 3 tiêu chí sau: Thứ nhất có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề; Thứ hai phải có hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm; Thứ ba phải chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước. Từ hai khái niệm trên ta thấy: “Làng nghề truyền thống là làng có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời.
Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo khái niệm trên. Tuy nhiên đối với những làng chưa đạt tiêu chí thứ nhất và thứ hai của làng nghề nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí trên thì vẫn được coi là làng nghề truyền thống”. Footer Page 15 of 107. 13 Header Page 16 of 107.
Từ hàng ngàn năm trước đây, cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam. Các làng nghề được hình thành từ các nghề được cư dân tranh thủ làm trong lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa vụ chính. Nghề trồng lúa chỉ vất vả những ngày đầu vụ như cầy, bừa, cấy, làm cỏ… và những ngày cuối vụ như gặt hái, phơi khô. Những ngày còn lại, người nông dân rất nhàn.
Từ đó, nhiều người bắt đầu tìm kiếm công việc phụ để làm, nhằm mục đích ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hàng ngày, về sau là tăng thêm thu nhập cho gia đình. Nhiều nghề phụ đã dần thể hiện được vai trò của nó, mang lại lợi ích thiết thực cho cư dân, như việc làm ra các đồ dùng bằng mây, tre, lụa… phục vụ cho sinh hoạt thường ngày hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ cho sản xuất. Sản phẩm của những nghề phụ này ban đầu chỉ đáp ứng cho nhu cầu riêng, về sau đã trở thành hàng hóa để trao đổi, mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa. Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, rồi nhiều gia đình khác cũng học làm theo, nghề từ đó lan rộng ra phát triển trong cả làng hay nhiều làng gần nhau.
Chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa, nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng dần bị mai một. Từ đó hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó như làng làm đồ đồng, làng làm đồ gỗ, làng làm đồ gốm sứ… Như vậy ta có thể hiểu làng nghề là làng của các cư dân làm nghề nông có thêm một hoặc vài nghề nào đó như mộc, gốm sứ, dệt…Nghề của họ có tính chuyên sâu cao và mang lại nguồn thu nhập cho dân làng. Làng nghề không chỉ là nơi sản xuất hàng hóa, đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung mà còn là cái nôi của văn hóa, là nơi lưu giữ những giá trị truyền thống, nghệ thuật và lưu truyền từ đời này sang đời khác. Hơn nữa, Footer Page 16 of 107.
14 Header Page 17 of 107. làng nghề cũng là nơi sinh ra biết bao nghệ nhân với những bàn tay tài hoa và khéo léo. Với sự hình thành và tồn tại hàng trăm năm, sản phẩm của làng nghề không chỉ đặc sắc, phong phú, đa dạng về chủng loại mà còn mang tính chuyên sâu cao. Đó là những công trình, tác phẩm là mồ hôi công sức của những nghệ nhân tài hoa.
Đặc điểm làng nghề * Về mặt kỹ thuật công nghệ: Trước kia kỹ thuật thủ công hầu hết mang tính truyền thống của một vùng nào đó hoặc bí quyết riêng của từng dòng họ. Nhưng ngày nay, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã giúp cho quá trình sản xuất ngày một nâng lên và đạt hiệu quả cao. Tuy sử dụng công nghệ tiên tiến nhưng việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa điều đó với công nghệ truyền thống vẫn là bí quyết giúp sản phẩm tạo ra không mất đi chất lượng vốn có. * Về sản phẩm: Mỗi sản phẩm đều mang những đặc điểm riêng nhất không giống nhau.
Sản phẩm của mỗi vùng, mỗi làng đều có những phương thức sản xuất riêng và đặc trưng từng vùng. Do vậy, có thể phân biệt sản phẩm của từng vùng miền. Các sản phẩm là sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo với khả năng sáng tạo của nghệ nhân, nên tính nghệ thuật được thể hiện cao trong từng sản phẩm. Những sản phẩm đó mang tâm tư tình cảm của con người.
Con người thổi hồn mình vào những sản phẩm đó. Đặc trưng của sản phẩm truyền thống thông thường là mang tính đơn lẻ. * Về nguồn lao động: Phương thức sản xuất chính trong các làng nghề là phương pháp thủ công thô sơ nên sản phẩm được tạo ra là do bàn tay con người.