CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 1. Lý luận chung về du lịch 1. Khái niệm về du lịch Thực tế trên thế giới, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về du lịch, mỗi một quốc gia, mỗi lĩnh vực lại có một định nghĩa riêng.
Theo Guer Freuler (1905) thì “Du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên”. Tương tự, Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà phải là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó. Chúng ta cũng thấy ý tưởng này trong quan điểm của Hienziker và Kraff “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ”. Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế.
Nhà kinh tế học Picara– Edmod đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chi ra và của những khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí”. Theo cách tiếp cận của các đối tượng liên quan đến hoạt động du lịch: – Đối với người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú của họ ở ngoài nơi cư trú để thoả mãn các nhu cầu khác nhau: hoà bình, hữu nghị, tìm kiếm kinh nghiệm sống hoặc thoả mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần khác. – Đối với người kinh doanh du lịch: Du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thoả mãn, đáp ứng các nhu cầu của người du lịch và đạt được mục đích số một của mình là thu lợi nhuận. – Đối với chính quyền địa phương: Du lịch là việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ khách du lịch, là tổng hợp các 4 hoạt động kinh doanh nhằm tạo điều kiện cho khách du lịch trong việc hành trình và lưu trú, là cơ hội để bán các sản phẩm của địa phương, tăng thu ngoại tệ, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân địa phương.
– Đối với cộng đồng dân cư sở tại: Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội mà hoạt động du lịch tại địa phương mình, vừa đem lại những cơ hội để tìm hiểu nền văn hoá, phong cách của những người ngoài địa phương mình, vừa là cơ hội để tìm việc làm, phát huy các nghề cổ truyền, tăng thu nhập nhưng đồng thời cũng gây ảnh hưởng đến đời sống người dân sở tại như về môi trường, trật tự an ninh xã hội, nơi ăn, chốn ở, … Năm 1963, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại Roma - Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”. Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization) cũng có đưa ra khái niệm như sau: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”.
Luật du lịch Việt Nam (2017) đã đưa ra khái niệm “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Từ đó có thể hiểu đơn giản: Du lịch là di chuyển khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình nhiều hơn 1 ngày tới một nơi khác nhằm mục đích thăm quan, khám phá, nghỉ dưỡng, … và không nhằm mục đích học tập hay công việc. Khái niệm về sản phẩm du lịch 1. Khái niêm Cũng giống như du lịch thì sản phẩm du lịch cũng được định nghĩa theo cách theo nhiều khía cạnh quan sát khác nhau.
Đơn giản nhất theo định nghĩa hẹp thì: “sản phẩm du 5 Thang Long University Library lịch là những gì khách du lịch mua”, hay mở rộng hơn “sản phẩm du lịch là toàn bộ những hoạt động, sản phẩm, dịch vụ mà khách du lịch đã sử dụng tại trong chuyến đi”. Theo luật Du lịch Việt Nam 2017 cũng giải thích: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch”. Hay theo Tổ chức Du lịch thế giới WTO “Sản phẩm du lịch là sự tổng hợp của 3 yếu tố cấu thành: kết cấu hạ tầng du lịch, tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ, lao động và quản lý du lịch”. Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một địa phương nào đó.
Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa) và vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch. Đặc trưng của sản phẩm du lịch Là sản phẩm hàng hóa: Là những sản phẩm hữu hình (có hình dạng cụ thể) mà doanh nghiệp kinh doanh du lịch cung cấp như: thức ăn, đồ uống, hàng lưu niệm và các hàng hoá khác được bán trong doanh nghiệp du lịch. Đây là loại sản phẩm mà sau khi trao đổi thì quyền sở hữu sẽ thuộc về người phải trả tiền. Trong số những sản phẩm hàng hoá thì hàng lưu niệm là một loại hàng đặc biệt, nó có ý nghĩa về mặt tinh thần, đặc biệt khách đối với khách là người từ những địa phương khác, đất nước khác đến.
Chính vì vậy, các doanh nghiệp du lịch thường rất chú ý đến việc đưa những sản phẩm này vào trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Là sản phẩm dịch vụ (sản phẩm dưới dạng phi vật chất hay vô hình): Là những giá trị dịch vụ phi vật chất hoặc tinh thần (hay cũng có thể là một sự trải nghiệm, một cảm giác về sự hài lòng hay không hài lòng) mà khách hàng đồng ý bỏ tiền ra để mua các loại hình dịch vụ sau: + Dịch vụ vận chuyển: Nhằm đưa khách từ nơi cư trú đến các điểm du lịch, giữa các điểm du lịch và trong phạm vi một điểm du lịch. Để thực hiện dịch vụ này người ta sử dụng các loại phương tiện như: máy bay, ô tô, tàu hoả, tàu thuỷ… + Dịch vụ lưu trú, ăn uống: Nhằm đảm bảo cho khách du lịch nơi ăn, nghỉ trong quá trình thực hiện chuyến du lịch. Khách du lịch có thể chọn một trong các khả 6 năng: khách sạn, nhà trọ, nhà nghỉ, nhà người quen… Ngoài ra, việc tạo ra dịch vụ lưu trú còn bao gồm cả việc cho thuê đất để cắm trại và các hình thức tương tự.
+ Dịch vụ vui chơi giải trí: Đây là một bộ phận không thể thiếu được của sản phẩm du lịch. Khách du lịch muốn đạt được sự thú vị cao nhất trong suốt chuyến đi du lịch của mình. Để thoả mãn, họ có thể chọn nhiều khả năng khác nhau: đi tham quan, vãn cảnh, đến các khu di tích, xem biểu diễn nghệ thuật, casino… + Dịch vụ mua sắm: Mua sắm cũng là hình thức giải trí, đồng thời đối với nhiều du khách du lịch thì việc mua quà lưu niệm cho chuyến đi là không thể thiếu được. + Dịch vụ trung gian và dịch vụ bổ sung: Là thu gom, sắp xếp các dịch vụ riêng lẻ thành sản phẩm du lịch trọn gói; dịch vụ bán lẻ sản phẩm du lịch như cung cấp thông tin, thuyết minh giới thiệu, bán lẻ sản phẩm du lịch cho khách, cung cấp dịch vụ y tế cứu thương khi cần … Mặc dù các sản phẩm du lịch tồn tại dưới hai hình thức là hàng hoá và dịch vụ nhưng hầu hết các sản phẩm hàng hoá đều được thực hiện dưới hình thức dịch vụ khi đem bán cho khách (thời gian, không gian sản xuất và tiêu dùng là trùng nhau).
Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sản phẩm du lịch là dịch vụ. Vì thế, hoạt động kinh doanh du lịch thuộc lĩnh vực kinh doanh dịch vụ. Các đặc tính của sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch có tính vô hình: Do sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất, không thể nhìn thấy hay sờ thấy, nên cả người cung cấp và người tiêu dùng đều không thể kiểm tra được chất lượng của nó trước khi bán và trước khi mua. Người ta cũng không thể vận chuyển sản phẩm dịch vụ du lịch trong không gian như các hàng hoá thông thường khác, điều này ảnh hưởng trực tiếp tới hệ thống kênh phân phối sản phẩm bởi lẽ chỉ có sự vận động một chiều trong kênh phân phối theo hướng: khách phải tự đến để tiêu dùng dịch vụ.
Đây là một đặc điểm gây khó khăn không nhỏ cho công tác marketing du lịch. Đồng thời, cho thấy sự cần thiết tiến hành các biện pháp thu hút khách đến với doanh nghiệp nếu muốn tồn tại và phát triển trên thị trường. Sản phẩm du lịch là dịch vụ không thể lưu kho cất trữ được: Quá trình sản xuất và tiêu dùng các dịch vụ du lịch là gần như trùng nhau về không gian và thời gian.