CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Về phát triển du lịch Ngành du lịch, sự phát triển của du lịch. đã được khá nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau như: điều kiện và giải pháp để phát triển du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn, điều kiện và giải pháp để phát triển một loại hình du lịch; du lịch địa phương hoặc vùng, một giải pháp cụ thể để phát triển du lich, ý nghĩa của phát triển du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội.
Nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố trên các tạp chí, sách chuyên khảo, luận án tiến sỹ. Có thể nhóm các nghiên cứu theo những vấn đề sau: Nhóm thứ nhất tiếp cận từ góc độ nghiên cứu những điều kiện và giải pháp để phát triển du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn, như nghiên cứu của Vũ Đình Thụy (1996). Nghiên cứu này đã được thực hiện theo hướng phân tích cơ sở để du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Cụ thể, trên cơ sở phân tích tiềm năng du lịch Việt Nam (tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn, nguồn lao động dồi dào, nguồn lực bên ngoài), khẳng định vị trí và vai trò của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân.
Trong nghiên cứu, tác giả tìm hiểu sự phát triển du lịch của Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Ấn Độ và rút ra bài học kinh nghiệm: phải ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cho du lịch; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch, phải có chính sách và cơ chế tạo điều kiện cho du lịch phát triển vững chắc; tốc độ cao. Trong những chính sách đối với phát triển du lịch, từ thực tiễn của Ấn Độ tác giả khẳng định chính sách ổn định kinh tế, chính trị trong nước vừa là chính sách cơ bản, vừa là chính sách quyết định hàng đầu trong việc phát triển du lịch. Trong nghiên cứu của Phạm Ngọc Thắng (2006), Đoàn Thị Trang (2016) cũng phân tích dưới dưới góc độ này. Nhóm thứ hai tiếp cận theo hướng nghiên cứu ý nghĩa của phát triển du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội.
Một số nghiên cứu như Reid (2003), Boo (1991), Goh (2017),. Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu thực hiện mang tính đặc thù riêng của các vấn đề mà tác giả tiếp cận như trong nghiên cứu của Reid (2003) đã phân tích vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế toàn cầu. Trong nghiên cứu này, tác giả đã khẳng định du lịch là ngành kinh tế chiếm một phần lớn của nền kinh tế thế giới. Tác giả tập trung nghiên cứu 3 trường hợp điển hình của dự án kiểm soát tại địa phương trong kế hoạch du lịch ở các nước đang và kém phát triển, nhiên cứu cho thấy một phần lớn thu nhập.
8 của nhiều người trong số các nước nghèo là dựa vào thương mại du lịch. Tuy nhiên, tác giả cũng nhấn mạnh không phải lúc nào người dân cũng gặt hái được những lợi ích từ thương mại du lịch. Bởi lẽ, ngay từ ban đầu lập kế hoạch du lịch và quá trình ban hành các quyết định, các nhà hoạch định đã thường xuyên bỏ qua các cộng đồng địa phương, mà họ chỉ được xem như là một nguồn tài nguyên ổn định để khai thác, hoặc như là một trở ngai. Trên cơ sở nghiên cứu tác động kinh tế, xã hội và môi trường, Reid đã kịp thời đưa ra những phê phán khiếm khuyết của mô hình này, đồng thời cung cấp những giải pháp thay thế cho việc lập kế hoạch và kiểm soát có sự tham gia của cộng đồng địa phương.
Tác giả đã lập luận và chứng minh rằng sự tham gia có trách nhiệm của cộng đồng địa phương trong quá trình lập kế hoạch và giám sát sẽ có thể giải quyết được các yêu cầu khác nhau của mỗi cộng đồng, và họ những người dân sẽ được hưởng lợi từ đó. Trong khi đó Boo (1991), Goh (2017) lại nghiên cứu cụ thể vào các dòng sản phẩm của sự phát triển du lịch. Các nghiên cứu này cho rằng: Du lịch sinh thái sẽ mang một ý nghĩa là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, liên quan đến vấn đề sinh kế của người dân địa phương và có những đóng góp đáng kể cho phát triển nông thôn. Với Goh (2017), trên cơ sở nghiên cứu xu hướng du lịch sinh thái ở Đông Malaysia, tác giả sử dụng các dữ liệu thu được từ phỏng vấn thực địa 208 dân làng liên quan đến các hoạt động du lịch sinh thái ở Batu Putch, từ đó khẳng định vai trò quan trọng của phát triển sản phẩm du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng trong việc xóa đói giảm nghèo, tạo thu nhập cho các hộ gia đình ở nông thôn.
Tuy nhiên, một trong những thách thức phải đối mặt với quản lý du lịch sinh thái là phải thiết lập một ngành công nghiệp sinh lợi và sinh thái bền vững, đồng thời đạt được một trải nghiệm thỏa mãn cho du khách và nâng cao mức sống cho cộng đồng dân cư địa phương. Nghiên cứu của Goh (2017) chỉ ra rằng du lịch dựa vào cộng đồng được ủng hộ cho những lợi ích kinh tế được tạo ra từ du lịch có thể được phân phối rộng rãi do đó hỗ trợ được mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Nỗ lực này được tăng cường hơn nữa thông qua dạng hóa sinh kế địa phương để người dân địa phương không chỉ dựa vào nông nghiệp, khi họ hoạt động du lịch như một nguồn thu nhập bổ xung. Do đó du lịch dựa vào cộng đồng tạo ra cơ hội việc làm, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường, và tăng sự tham gia của địa phương vào quá trình ra quyết định.
Cũng theo hướng nghiên cứu này, trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Tú (2006), tác giả đã tiến hành khảo sát điều tra thực địa để đánh giá điều kiện tự nhiên, cơ sở khoa học phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam, Vườn Quốc gia Cúc Phương, Vịnh Hạ Long,. trên cơ sở đó, các tác giả đã đưa ra một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái VIệt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. 9 Luận án của Phạm Ngọc Thắng (2010), tác giả đã đi sâu phân tích mô hình phát triển du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo ở Lào Cai và chỉ rõ du lịch là phương tiện thực hiện chính sách xóa đói; giảm nghèo, tác động sâu sắc từ phát triển du lịch làm cho bộ phận lớn dân cư có việc làm, thu nhập xã hội tăng do phát triển các ngành nghê phụ trợ du lịch, tác giả đề xuất nhiều giải pháp phát triển du lịch có tính khả thi. Tuy nhiên, giải pháp phát triển du lịch Lào Cai (địa bàn tác giả nghiên cứu) phải được đặt trong tổng thể phát triển du lịch vùng Tây Bắc chưa được xem xét đúng mức.
Phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, hướng nghiên cứu này cũng được nhiều nhà khoa học tiếp cận như: Nguyễn Trùng Khánh (2012), Nguyễn Duy Mậu (2012), Nguyễn Hồng Lâm (2013),. những nghiên cứu thường chỉ dừng lại ở một lĩnh vực của phát triển du lịch, hay ở các địa phương khác nhau trong hội nhập kinh tế quốc tế, cụ thể như: Nguyễn Hồng Lâm (2013) nghiên cứu về Kinh tế du lịch ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Nguyễn Trùng Khánh (2012) tìm hiểu về phát triển dịch vụ lữ hành trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Nguyễn Duy Mậu (2012) trong nghiên cứu của mình tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê; phương pháp định tính và định lượng tiến hành điều tra; khảo sát 195 du khách để đánh giá thực trạng phát triển du lịch trên địa bàn Tây Nguyên, phân tích tác động giữa hội nhập quốc tế và du lịch, những điều kiện tự nhiên, văn hóa, kinh tế - xã hội, cơ chế và chính sách ảnh hưởng đến phát triển du lịch Tây Nguyên. Kết quả nghiên cứu phân tích của tác giả chỉ rõ: Du lịch được xem là lĩnh vực có nhiều ưu thế tham gia vào sân chơi hội nhập quốc tế, ngành đi đầu trong việc thực hiện chính sách mở cửa hội nhập, là cầu nối cho thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài. Đồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh phát triển du lịch trong tiến trình hội nhập quốc tế phải đáp ứng nhiều yêu cầu như: ngành du lịch phải tham gia sâu vào các tổ chức quốc tế nhằm quảng bá vị thế; tạo hình ảnh trên thị trường du lịch thế giới, phát triển du lịch đòi hỏi hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để phù hợp với những quy định của UNWTO và các nước ASEAN.
Tuy nhiên, cũng có nhiều nhà khoa học nghiên cứu Du lịchViệt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế như: Nguyễn Văn Tuấn (2014), Lê Thị Như Quỳnh (2015), Trần Phú Cường (2016),. Điểm chung của một số nghiên cứu này là phân tích những thành tựu và hạn chế của Du lịchViệt Nam, từ đó đề xuất giải pháp phát triển Du lịch Việt Nam trước yêu cầu mới trong hội nhập quốc tế. Về Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) Trong nghiên cứu của Nguyễn Hồng Sơn (2009), tác giả đã trình bày rất rõ về quá trình hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Cụ thể, trong nghiên cứu tác giả đã phân tích một số nội dung cơ bản: (i) tầm quan trọng của liên kết kinh tế trong.
10 khu vực; (ii) những mục tiêu cần đạt được của sự liên kết ; (iii) những trở ngại để đạt được kế hoạch hình thành AEC vào cuối 2015 (iv) các biện pháp để đạt được mục đích hình thành AEC. Cũng nghiên cứu về AEC, Thái Sơn và các cộng sự (2015) với “Sổ tay tuyên truyền về hội nhập ASEAN và Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)”, và ấn phẩm “ Sổ tay tham gia ASEAN và AEC” của Phạm Văn Hồng và các cộng sự (2015), đã cùng phân tích 4 mục tiêu chính của AEC. Trong nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra những câu hỏi rất ngắn gọn; súc tích rồi trả lời để phân tích những cơ hội và thách thức từ AEC đối với các quốc gia thành viên về : Cơ bản xóa bỏ hàng rào thuế quan; dịch vụ; đầu tư vốn; di chuyển con người; tạo một nền tảng vững chắc trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của khu vực ASEAN, thu hẹp khoảng cách phát triển; đạt được mức độ hội nhập đáng kể với các đối tác FTA và hợp tác sâu sắc với các đối tác đối thoại khác.