Lợi ích kinh tế lao động doanh nghiệp tư nhân Thừa Thiên Huế - Phạm Thị Thương

Dưới đây là meta tags cho bài viết "Luận án tiến sĩ lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh Thừa Thiên Huế": {

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

191
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về lợi ích kinh tế người lao động doanh nghiệp tư nhân Thừa Thiên Huế

Lợi ích kinh tế của người lao động (NLĐ) trong doanh nghiệp tư nhân (DNTN) tại Thừa Thiên Huế phản ánh mức thu nhập, phúc lợi và các khoản hỗ trợ tài chính trực tiếp ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất. Nghiên cứu chỉ ra rằng thu nhập từ tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội (BHXH) và cổ tức là những hình thức chính. Giai đoạn 2006-2016, tỷ trọng thu nhập từ DNTN chiếm khoảng 65% tổng thu nhập NLĐ, trong đó tiền lương chiếm 70%. Các yếu tố như quy mô doanh nghiệp, ngành nghề và chính sách địa phương tác động mạnh mẽ. Bên cạnh thu nhập, phúc lợi như BHYT, BHXH và trợ cấp thất nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống. Chính sách tiền lương linh hoạt cùng hệ thống bảo hiểm xã hội tạo nên sự ổn định tài chính cho NLĐ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

1.1. Khái niệm và vai trò lợi ích kinh tế NLĐ

Lợi ích kinh tế (LIKT) của NLĐ được định nghĩa là thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật nhận được khi tham gia sản xuất kinh doanh. Tại Thừa Thiên Huế, LIKT chủ yếu thể hiện qua tiền lương, tiền công, phụ cấp trách nhiệm và các khoản trợ cấp từ BHXH. Nghiên cứu của Phạm Thị Thương (2018) cho thấy LIKT không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt mà còn phản ánh vị thế xã hội của NLĐ. Trong nền kinh tế thị trường, LIKT là động lực thúc đẩy năng suất lao động, gắn kết NLĐ với doanh nghiệp. Sự phân bổ LIKT công bằng giúp giảm bất bình đẳng thu nhập, ổn định xã hội. Tại Thừa Thiên Huế, LIKT chiếm 55% tổng thu nhập hộ gia đình, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế địa phương.

1.2. Bối cảnh kinh tế xã hội Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế có nền kinh tế đa ngành với trọng tâm là du lịch, dịch vụ và công nghiệp nhẹ. Tỷ trọng DNTN chiếm 78% tổng số doanh nghiệp, thu hút 62% lực lượng lao động. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại hóa, tạo nhu cầu tuyển dụng đa dạng. Chính sách hỗ trợ DNTN thông qua ưu đãi thuế và đào tạo lao động đã thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, mức lương trung bình thấp hơn 15% so với khu vực phía Nam, ảnh hưởng đến đời sống NLĐ. Hệ thống giao thông hạn chế và trình độ lao động chưa cao cũng là thách thức trong thu hút đầu tư.

II. Thực trạng lợi ích kinh tế NLĐ trong DNTN Thừa Thiên Huế

Lợi ích kinh tế NLĐ trong DNTN Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006-2016 cho thấy mức thu nhập trung bình 7,2 triệu đồng/tháng, thấp hơn 22% so với khu vực doanh nghiệp nhà nước. Phân tích từ luận án tiến sĩ Phạm Thị Thương (2018) chỉ ra rằng 45% NLĐ không được ký hợp đồng lao động, dẫn đến thiếu ổn định về thu nhập. Chỉ 60% DN tham gia BHXH đầy đủ, 30% có chính sách phúc lợi như bảo hiểm y tế. Thu nhập từ cổ tức chỉ chiếm 5% tổng thu nhập, phản ánh hạn chế trong sở hữu doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chênh lệch thu nhập giữa ngành du lịch (9,1 triệu/tháng) và xây dựng (5,8 triệu/tháng) là 57%. Tình trạng thất nghiệp tiềm ẩn do thiếu đào tạo kỹ năng cũng là vấn đề cấp bách.

2.1. Mức thu nhập và phúc lợi

Thu nhập trung bình của NLĐ trong DNTN Thừa Thiên Huế là 7,2 triệu đồng/tháng, thấp hơn 15% so với mức sống tối thiểu. Phúc lợi chủ yếu bao gồm BHXH (60% DN), BHYT (55%) và trợ cấp thất nghiệp (30%). Chỉ 40% NLĐ nhận được phụ cấp trách nhiệm, trong khi 70% không được đào tạo nâng cao kỹ năng. Theo thống kê năm 2016, 22% NLĐ phải làm thêm giờ không lương để trang trải cuộc sống. Chính sách tiền lương không theo kịp lạm phát khiến mức sống NLĐ ngày càng khó khăn, đặc biệt trong bối cảnh giá cả sinh hoạt tăng 8%/năm.

2.2. Tác động của chính sách doanh nghiệp

Chính sách tiền lương của DNTN Thừa Thiên Huế thường dựa trên hiệu quả sản xuất, dẫn đến thu nhập không ổn định. Hợp đồng lao động chỉ chiếm 55%, khiến NLĐ thiếu bảo vệ pháp lý. Hơn 35% DN không đóng BHXH đầy đủ, vi phạm luật lao động. Chính sách đào tạo tập trung vào lao động phổ thông, thiếu chương trình nâng cao kỹ năng quản lý. Các khoản phụ cấp như tiền thưởng Tết hay quà tặng chỉ chiếm 10% thu nhập, thấp hơn tiêu chuẩn ngành. Sự thiếu minh bạch trong chi trả lương và phúc lợi cũng là nguyên nhân gây bất mãn trong NLĐ.

III. Giải pháp nâng cao lợi ích kinh tế NLĐ trong DNTN

Để cải thiện lợi ích kinh tế NLĐ, Thừa Thiên Huế cần triển khai đồng bộ các giải pháp. Trước tiên, tăng cường thanh tra và xử phạt DN vi phạm luật lao động, đặc biệt về hợp đồng và đóng BHXH. Thứ hai, xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo kỹ năng cho NLĐ, phối hợp với các trường đại học và trung tâm dạy nghề. Thứ ba, khuyến khích DN chia sẻ lợi nhuận thông qua cổ tức và thưởng doanh thu. Thứ tư, cải thiện môi trường kinh doanh bằng hạ tầng giao thông và ưu đãi thuế. Cuối cùng, tăng lương tối thiểu vùng lên 9 triệu/tháng vào năm 2025 để theo kịp chi phí sinh hoạt. Những giải pháp này sẽ nâng cao thu nhập và ổn định đời sống NLĐ, góp phần phát triển bền vững kinh tế địa phương.

3.1. Chính sách pháp luật và quản lý

Thực thi nghiêm luật lao động là giải pháp cấp thiết. Cần tăng cường thanh tra đột xuất tại 100% DNTN, xử phạt nặng DN trốn đóng BHXH hoặc trả lương thấp hơn quy định. Xây dựng cơ chế giám sát thu nhập NLĐ thông qua hệ thống báo cáo thống nhất. Khuyến khích DN ký hợp đồng lao động dài hạn, hạn chế lao động thời vụ. Áp dụng biểu thuế suất ưu đãi cho DN có chính sách lương thưởng minh bạch. Cải cách thủ tục hành chính rút ngắn thời gian cấp phép kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ cho DN. Đào tạo cán bộ quản lý lao động về pháp luật lao động sẽ nâng cao nhận thức tuân thủ.

3.2. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Chương trình đào tạo kỹ năng cần tập trung vào ngành du lịch, dịch vụ và công nghiệp. Hợp tác với Đại học Huế xây dựng khóa học ngắn hạn về quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tạo quỹ hỗ trợ học phí cho NLĐ nghèo, ưu tiên nữ giới. Tổ chức hội thảo định kỳ về cải thiện năng suất lao động. Đưa giáo dục tài chính vào chương trình đào tạo, giúp NLĐ quản lý thu nhập hiệu quả. Tăng cường liên kết giữa DN và cơ sở đào tạo để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng. Chính sách đào tạo lại cho lao động mất việc do chuyển đổi ngành nghề cũng cần được chú trọng.

IV. Kết luận và khuyến nghị chính sách lợi ích kinh tế NLĐ

Nghiên cứu chỉ ra lợi ích kinh tế NLĐ trong DNTN Thừa Thiên Huế còn nhiều hạn chế do thu nhập thấp, phúc lợi chưa đầy đủ và chính sách thiếu đồng bộ. Giải pháp trọng tâm là tăng lương tối thiểu, hoàn thiện pháp luật lao động và đầu tư vào đào tạo. Thực trạng cho thấy 70% NLĐ không có hợp đồng lao động, 40% không được đóng BHXH đầy đủ. Kết quả nghiên cứu đề xuất 5 nhóm giải pháp: (1) Hoàn thiện chính sách pháp luật, (2) Tăng cường thanh tra, (3) Đào tạo nguồn nhân lực, (4) Khuyến khích chia sẻ lợi nhuận, (5) Cải thiện môi trường kinh doanh. Áp dụng đồng bộ các giải pháp sẽ nâng cao thu nhập NLĐ, góp phần phát triển kinh tế bền vững Thừa Thiên Huế.

4.1. Tóm tắt nghiên cứu và phát hiện chính

Nghiên cứu đã phân tích thực trạng lợi ích kinh tế NLĐ trong DNTN Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006-2016. Phát hiện chính gồm: thu nhập trung bình thấp (7,2 triệu/tháng), tỷ lệ ký hợp đồng lao động thấp (55%), tỷ lệ đóng BHXH chưa đầy đủ (60%). Sự chênh lệch thu nhập giữa ngành du lịch và xây dựng là 57%. NLĐ thiếu ổn định tài chính do không được đào tạo kỹ năng và hưởng phúc lợi hạn chế. Những phát hiện này là cơ sở để đề xuất giải pháp cải thiện lợi ích kinh tế NLĐ trong thời gian tới.

4.2. Hướng nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đề xuất mở rộng khảo sát trên phạm vi toàn tỉnh, kết hợp phương pháp định tính và định lượng. Ứng dụng mô hình kinh tế lượng để dự báo tác động của chính sách lương tối thiểu đến thu nhập NLĐ. Phát triển ứng dụng công nghệ theo dõi thu nhập và phúc lợi NLĐ theo thời gian thực. Nghiên cứu cần so sánh với các tỉnh thành lân cận như Đà Nẵng và Quảng Nam để rút ra bài học kinh nghiệm. Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trong xây dựng chính sách hỗ trợ DNTN và cải thiện đời sống NLĐ tại Thừa Thiên Huế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/05/2026
Luận án tiến sĩ lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh thừa thiên huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LỢI ÍCH KINH TẾ VÀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Tình hình nghiên cứu về lợi ích kinh tế Lợi ích kinh tế là vấn đề quan trọng trong sản xuất và đời sống xã hội, nên từ lâu có nhiều tác giả nước ngoài, trong nước quan tâm nghiên cứu dưới các góc độ khoa học triết học, kinh tế chính trị, xã hội học, tâm lý học… 1. Các công trình nghiên cứu về lợi ích kinh tế ở nước ngoài + Nhóm vấn đề thứ nhất: Quan niệm và bản chất của LIKT.Mác – Angghen, động lực sâu xa nhất thúc đẩy con người hành động đó chính là LI, thật vậy, mọi hoạt động của con người luôn có động cơ nhất định.

Động cơ thúc đẩy con người hành động, hành động mạnh hay yếu tuỳ thuộc vào nhận thức và thực hiện LI của họ. Thông qua quá trình nghiên cứu cho thấy các tác giả đều thống nhất quan điểm: LI không phải là cái gì trừu tượng và có tính chủ quan, mà cơ sở của LI là nhu cầu (NC) khách quan của con người. LIKT là một phạm trù kinh tế khách quan, nó xuất hiện trong những điều kiện tồn tại là mối quan hệ xã hội nhằm thực hiện nhu cầu kinh tế (NCKT) của các chủ thể kinh tế. Con người không thể tự lựa chọn, định đoạt được LIKT của mình.

LIKT là là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất trước hết là quan hệ sở hữu, vì thế LI của con người là tuỳ thuộc vào vai trò, vị trí của họ trong hệ thống quan hệ sản xuất. Những lý luận về LIKT nêu trên được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới đây: Trong tác phẩm "Vấn đề nhà ở", khi phân tích quan điểm của Proudhon về nguyên lý tối cao chi phối mọi nguyên lý khác là công lý, Ph.Ăngghen đã khẳng định LIKT là một phạm trù phản ánh quan hệ kinh tế. LIKT là hình thức biểu hiện trước hết, nên nó tác động đến các hình thức khác [4,749]. Điểm này hoàn toàn phù 7 hợp với quan điểm của C.Mác trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức: "Lợi ích là nguyên tắc điều tiết cơ bản mà các nguyên tắc khác tuân theo" [11, 481].

Như vậy, trong tất cả các LI, thì LIKT là lợi ích quan trọng nhất, LIKT được thực hiện sẽ tạo cơ sở để thực hiện các LI còn lại.Ăngghen viết: "Những quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định nào đó biểu hiện trước hết dưới hình thức LI" [8,376] V.Lênin đã viết: Lợi ích của giai cấp này hay giai cấp khác được xác định một cách khách quan theo vai trò mà họ có trong hệ thống quan hệ sản xuất, theo những hoàn cảnh và điều kiện sống của họ.Chesnocov [15], là tác giả nghiên cứu LI và LIKT theo xu hướng coi LIKT gắn bó mật thiết với NCKT song LIKT không phải là NCKT. Tác giả xem xét LIKT với tư cách là một phạm trù khách quan và cho rằng: "Lợi ích là mối quan hệ khách quan của xã hội, hay của một con người riêng lẻ đối với điều kiện sống của xã hội và các NC hiện có của mình, là mối quan hệ kích thích, tác động đến tập thể hay cá nhân mỗi người nhằm bảo đảm điều kiện thuận lợi cho đời sống và sự phát triển của cá nhân hay tập thể, đấu tranh với những điều kiện cản trở sự tồn tại và phát triển của họ" [15, 127]. Nguồn gốc ra đời của LIKT chính là từ quá trình giải quyết mối quan hệ giữa NC của con người với điều kiện sống. Thông qua việc giải quyết mối quan hệ này, con người có được phương thức để tồn tại, hướng tới sự phát triển cho cá nhân và xã hội.

Quan điểm này của tác giả khá đồng nhất với một số tác giả hiện nay khi khẳng định: LIKT là một phạm trù khách quan, nó sinh ra từ NCKT, là phương thức để thỏa mãn những NC đó. Công trình có ý nghĩa lý luận quan trọng trong đề tài luận án.Lavrinenko [78], trong công trình nghiên cứu, tác giả phân tích quá trình hình thành quan hệ LI trong xã hội xuất phát từ mối quan hệ giữa LI và NC. Công trình nghiên cứu cho thấy, LI và NC luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, gắn bó với nhau, quan hệ LI chỉ xuất hiện khi có quan hệ NC. Đặc biệt tác giả nhấn mạnh, NC phản ánh mối quan hệ tất yếu của xã hội và LI phản ánh mối quan hệ xã hội khi thực hiện NC.

Quan điểm này của tác giả khá đồng nhất với quan điểm của D.Chesnocov, khẳng định LIKT là một quan hệ và có nguồn gốc từ NC. Chính NC đã vạch ra "sự khởi đầu" cho LIKT và hình thành nội dung của nó. Ông 8 khẳng định: "Lợi ích là mối quan hệ khách quan của sự tự khẳng định xã hội của chủ thể" [78, 16]. Tính khách quan của LIKT thể hiện ở chỗ nó xuất hiện bên ngoài chủ thể và hoàn toàn không phụ thuộc và sự nhận thức của con người.

Theo tác giả, LIKT là một phạm trù khách quan, tính chất này không chỉ xuất phát từ nhận thức của con người, mà nó còn được khẳng định thông qua địa vị của họ trong xã hội, như: nhà tư bản nhận lợi nhuận, công nhân làm thêm nhận tiền công. Như vậy, LIKT là một phạm trù khách quan và mang tính chất giai cấp rõ rệt.man-kin [12], với những lý luận sắc bén, ông trình bày những quan điểm về LIKT một cách khoa học. Trong đó, ông đã đưa ra khái niệm LIKT: LIKT của một chủ thể nhất định là sự tác động lẫn nhau giữa các NCKT của chủ thể đó. Nghiên cứu LIKT nhưng xuất phát từ NC nào? Theo Ca.man-kin đó là NCKT, một dạng của NC vật chất đáp ứng cho sự tồn tại và phát triển của con người: "Nhu cầu về của cải vật chất, tức nhu cầu về vật chất thường được đồng nhất với NCKT.

Nhưng nó không phải là khái niệm giống nhau. Nhu cầu kinh tế không phải là nhu cầu hiện vật, mà là khía cạnh kinh tế của nhu cầu" [12, 9], từ đó tác giả khẳng định, NCKT là khái niệm ban đầu để định nghĩa LIKT. Quan niệm này đã và đang nhận được sự thống nhất trong công trình nghiên cứu của các nhà khoa học. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả còn đi sâu phân tích các LIKT và quá trình tái sản xuất lực lượng sản xuất; nghiên cứu tính khách quan của các LIKT.

Một số tác giả đã đề cập đến hình thức biểu hiện cụ thể của LIKT, như: Theo từ điển Business dictionary [111], LIKT là một phạm trù được định lượng bằng một khoản tiền như doanh thu, thu nhập,. Theo từ điển Investerwords, LIKT được biểu đạt bằng số tiền tạo ra thông qua một hoạt động của chủ thể như kinh doanh, thực hiện một chiến lược hay một hoạt động tài chính. Như vậy, LIKT được xem là một khoản tiền nhất định mà chủ thể thu được thông qua hoạt động của mình. 9 Tác giả Glen Weisbrod và David Simmonds [96], lại hiểu một cách khái quát hơn khi đánh giá LIKT dưới hình thức thiên về phúc lợi, nhóm tác giả này cho rằng: LIKT bao gồm cả những khoản tiền có được và cả những giá trị thu được nhưng không phải bằng tiền, (It can include both money benefits and non-money benefits), đây là cách hiểu rộng hơn so với các khái niệm trước.

Theo nhóm tác giả, hiểu LIKT dưới hình thức một khoản tiền thu được, đó chính là xem xét những tác động kinh tế đối với một khu vực nhất định. Ngược lại, hiểu LIKT bao gồm cả những phúc lợi đạt được sẽ có thể đánh giá cho toàn bộ nền kinh tế. + Nhóm vấn đề thứ hai, nghiên cứu về vai trò của LIKT C.Ăngghen nói về vai trò động lực của LIKT. Nghiên cứu lịch sử từ xuất phát điểm lấy con người làm yếu tố trung tâm, C.Mác và Ăngghen đã khẳng định: "Lịch sử chẳng qua chỉ là hoạt động của con người theo đuổi mục đích của bản thân mình" [6,141].

Như vậy, nghiên cứu lịch sử chính là nghiên cứu bản thân con người, tìm động lực cho tiến trình phát triển của lịch sử đó cũng chính là động lực hoạt động của con người.Mác - Ăngghen, động lực sâu xa nhất thúc đẩy con người hành động đó chính là LI. Từ đó, trong hệ thống những tác phẩm, C.Mác và Ăngghen đã phân tích một cách khoa học phạm trù LI và LIKT. Trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức", C.Ăngghen đã trình bày quan niệm về lịch sử nhân loại, tiền đề cơ bản cho sự phát triển của lịch sử chính là: con người, hoạt động con người và những điều kiện vật chất. Theo ông, con người muốn sáng tạo ra lịch sử trước hết phải sống, tồn tại, hoạt động mang tính chất lịch sử đầu tiên của con người chính là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt bảo đảm NC sống, cụ thể: ".

hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn nhu cầu, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất và đó là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà hiện nay cũng như hàng nghìn năm về trước người ta thực hiện hàng ngày, hàng giờ để nhằm duy trì con người. Như vậy, NC có vai trò quan trọng, NC và LI trở thành động lực chủ yếu cho hoạt động của con người, tất cả những gì con người giành lấy đều gắn liền với LI của chính họ. Vai trò động lực này được C.Ăngghen chỉ rõ trong những cuộc đấu tranh giai cấp: "Cuộc 10 đấu tranh giai cấp giữa giai cấp chiếm hữu ruộng đất và giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, vấn đề là ở những LIKT, để thỏa mãn những LIKT thì quyền lực chính trị được sử dụng làm phương tiện đơn thuần" [9, 410]. Trong những tác phẩm của mình, C.Ăngghen còn nhấn mạnh: "xét đến cùng mọi cuộc cách mạng đều được tiến hành vì để giải phóng về LIKT" [11, 749].

Lợi ích kinh tế là một trong những vấn đề sống còn của sản xuất và đời sống. Chính những LIKT đã gắn bó con người với cộng đồng của mình và tạo ra những kích thích, những thôi thúc và khát vọng, sự say mê trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế. LIKT được nhận thức và được thực hiện thì nó trở thành động lực kinh tế thúc đẩy con người hành động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ