CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Thao tác hóa các khái niệm 1. Bản sắc Theo từ điển Tiếng Việt (Trung tâm từ điển học, Hà Nội, 2013) thì bản sắc là danh từ chỉ “những yếu tố tốt đẹp tạo nên một tính chất đặc thù, nói chung”. Từ điển Tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học, Đà Nẵng, 2003) lại định nghĩa bản sắc như là những “màu sắc, tính chất riêng để tạo thành đặc điểm chính bản sắc dân tộc” (ví dụ: bản sắc dân tộc).
Cũng tương tự, Từ điển tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977 (In lần thứ 2)) định nghĩa: thuật ngữ “bản sắc”“dùng để chỉ tính chất, màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật tức là nói tới sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng của sự vật đó.” Trong ngôn ngữ Triết học, “bản sắc”“là từ một ghép có gốc Hán - Việt nên có một cách tiếp cận khác là phân tích trên ngữ nghĩa của hai từ”“bản” và “sắc”. Theo đó, “bản” là cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của một sự vật; “sắc” là sự biểu hiện cái căn bản đó ra ngoài. Trần Văn Giàu định nghĩa rằng: “theo cấu trúc từ nguyên thì “bản” là của mình; “sắc” là dung mạo; Bản sắc là một danh từ chỉ tính chất đặc biệt vốn có, tạo thành phẩm cách riêng. Nhà nghiên cứu Nguyễn Huỳnh Mai đã cũng từng nhận định: “Nói về bản sắc có lẽ phải bắt đầu bằng bản sắc sinh học (de la biologie à la sociologie).
Con người khác con vật. Con người có sinh hoạt trí tuệ, nên đồ thị 16 não của người khác đồ thị não của con chó. Về sinh lý, bản sắc của nam khác với bản sắc nữ. Bản sắc xã hội học bắt nguồn từ cách sống với người khác, từ nhu cầu sống với nhóm.
Một cách sơ lược tạm thời định nghĩa bản sắc quốc gia là bản sắc của một nhóm người cùng sống trên một lãnh thổ, cùng nói một thứ tiếng, cùng có một hệ thống tín ngưỡng, cùng ăn cơm hay ăn khoai,.” Theo định nghĩa của Xã hội học: “Bản sắc văn hóa mang ý nghĩa chỉ cái cốt lõi, chỉ những đặc trưng riêng của một cộng đồng văn hóa trong lịch sử phát triển, tạo cơ sở cho sự phân biệt, nhận diện sự khác nhau giữa tộc người này với tộc người khác, dân tộc này với dân tộc khác”. Qua việc tìm hiểu nội hàm và định nghĩa về bản sắc, chúng ta có thể thấy khái niệm “bản sắc” được nhận thức trên cả hai mặt của sự vật: mặt biểu hiện ra bên ngoài và mặt bản chất từ bên trong,“giữa hai mặt này có mối quan hệ biện chứng với nhau. Theo đó, mặt bên trong phản ánh tính đồng nhất, bản chất của một lớp đối tượng sự vật nhất định và mặt bên ngoài phản ánh những dấu hiệu, những sắc thái riêng của sự vật đó để làm cơ sở”đối sánh giữa sự vật này với sự vật khác. Bản sắc còn được hiểu là tổng hòa các thuộc tính cơ bản của một sự vật mà qua đó chúng ta có thể phân biệt sự giống và khác nhau giữa sự vật này với sự vật khác.
Văn hóa Theo Unesco (2002) “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”. Định nghĩa này được hiểu rằng văn hóa cũng là văn minh; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến mọi mặt đời sống xã hội của con người, từ tri thức, đạo đức, pháp luật cho đến tín ngưỡng tôn giáo. Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, GS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”[52].
Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, tác giả cho rằng: “Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó có văn hóa”[42]. Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc có nhận định về văn hóa như sau: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa trong cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiệu thành một kiểu lựa chọn riêng của các cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác” [56] Khi nói đến văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. [69] 18 Qua đây ta thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn khẳng định: Văn hóa là tất những hoạt động sáng tạo về vật chất và tinh thân mà con người tạo ra để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân, tập thể hay hơn thế là cả một dân tộc. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 5 khóa VIII đã đề ra nghị quyết “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Đây được xem là một văn kiện mang tính toàn diện cho đường lối xây dựng và phát triển Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới.
Văn kiện đã cho thấy được một góc nhìn mới về nền văn hóa Việt Nam “…Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”. [56] Cho đến Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng vừa qua, một khái niệm mới trong công tác xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam được đưa ra đó là “sức mạnh mềm” cụ thể là: “Khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hoá và dịch vụ văn hoá trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hoá Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị và thành tựu mới của văn hoá, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới.” [44] Qua việc điểm luận một số những định nghĩa, khái niệm và nhận định về văn hóa bên trên chúng tôi thấy rằng, mặc dù có rất nhiều định nghĩa về văn hóa khác nhau do cách tiếp cận nhưng nhìn chung “Văn hóa là tổng hòa các giá trị vật chất lẫn tinh thần của xã hội, đồng thời cũng là các phương thức, kỹ năng sáng tạo để sử dụng và tạo ra chúng vì mục tiêu phát triển của con người và của cả một dân tộc được kế thừa và phát huy từ quá khứ đến tương lai”. Phát triển và lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc luôn được các quốc gia xem là một trong các nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước. Giá trị và đặc trưng của văn hóa Trong các ngôn ngữ phương Tây, thuật ngữ “giá trị” (tiếng Anh là value, tiếng Pháp là valeur) bắt nguồn từ tiếng La-tinh của chữ valere có nghĩa là “khỏe mạnh, tốt, đáng giá”, dùng để chỉ một việc gì đó đáng giá, trước tiên là theo nghĩa giá trị trao đổi của kinh tế học, sau đó là từ ngữ phổ biến dùng để chỉ ý nghĩa con người, xã hội và văn hoá của những hiện tượng thực tế nhất định.
Các tài liệu nghiên cứu,“các từ điển bách khoa truyền thống thường phân biệt thành: giá trị đạo đức (ethical value), giá trị kinh tế (economic value), giá trị văn hoá (cultural value), giá trị xã hội (social value), giá trị pháp lý (law’s value), giá trị ký hiệu học (semiotic value), giá trị toán học (mathematical value), v.” Đại từ điển Bách khoa của Nga định nghĩa: “Giá trị là ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực của các đối tượng thuộc thế giới bao quanh con người, của nhóm xã hội, của xã hội nói chung, được xác định không phải do các tính chất tự thân của chúng, mà là do chúng được lôi kéo vào lĩnh vực hoạt động đời sống, các mối quan tâm, các nhu cầu, và các quan hệ xã hội của con người”. Sự lôi kéo này tạo ra tính chủ quan. “Giá trị còn là những tiêu chí và phương pháp đánh giá ý nghĩa ấy, thể hiện qua các nguyên tắc và chuẩn mực, lý tưởng, phương hướng, mục tiêu đạo đức”. Những tiêu chí và phương pháp đánh giá này tạo ra tính tương đối.
Hệ giá trị,“như nhiều nhà nghiên cứu hiện nay quan niệm, có thể được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, bao gồm trong nó nhiều loại giá trị khác nhau: có loại giá trị cốt lõi, có giá trị phổ quát, có loại giá trị chung nhân loại, có loại giá trị dân tộc - quốc gia, có loại giá trị cộng đồng tộc người, có loại giá trị cá thể, có loại giá trị xã hội, có loại giá trị con người,… Trong mỗi loại giá trị như vậy lại có nhiều giá trị nhỏ khác nhau. Bản thân mỗi giá trị, phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể lại là một biến số, có giá trị vĩnh hằng, dù vị trí trong thang bậc cũng có thể không cố định, lại có giá trị chỉ là giá trị trong một giai đoạn lịch sử nào đó. Sự thay đổi vị trí, thang bậc trong 20 bảng giá trị càng khiến cho các quan điểm, quan niệm, cách hiểu về giá trị càng thêm khác biệt. Với mỗi xã hội, con người cụ thể, hệ giá trị thường bao hàm hệ giá trị chung, cốt lõi và hệ giá trị riêng, bộ phận, đặc thù, gắn liền với điều kiện, không - thời gian và chủ thể xác định.