CHƯƠNG 1: CƠ SỞ CUA TAM NHIN ÁN ĐỘ DƯƠNG - THÁI BÌNH DƯƠNG TỰ DO VÀ RỘNG MỞ CỦA NHẬT BẢN 1. Quan điểm về “An Độ Dương - Thái Binh Dương” Trong bài phân tích “What is Indo - Pacific?” [Das, U. 2019], “khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, chính là một tắm bản đồ nhận thức mới được nhắc đến rộng rãi trong thời gian gần đây”. Cũng như sự xuất hiện của các không gian mới khác, chiều không gian về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương khi xuất hiện cũng không tránh khỏi tranh cãi về nguồn gốc và phạm vi của nó.
Về không gian địa lý, khu vực này được hiểu chung là một không gian kết nối giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Phạm vi của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương sẽ trải dài từ bờ biển phía đông của châu Phi đến bờ biển phía tây nước Mỹ (tuy nhiên, định nghĩa này có thể có thay đổi tùy vào chủ thé định vị). Nếu xét về chức năng, sự kết nối và phụ thuộc lẫn nhau của Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đã tạo ra động lực ngày càng mạnh mẽ của tiến trình toàn cầu hóa, thương mại; đồng thời thúc đây tương quan giữa các tác nhân khác nhau, phá bỏ những ranh giới cũ và mở ra những hướng di mới. Ngoài ra, sự hình thành của An Độ Dương - Thái Binh Dương bắt nguồn từ việc gia tăng giao thương tại khu vực này, biến nó trở thành trọng điểm chiến lược mà nhiều nước muốn nắm giữ.
Từ những lý lẽ trên, nhìn chung, An Độ Dương - Thái Bình Dương là khu vực tập trung những tuyến đường biển quan trọng nhất thế giới, với những quốc gia đông dân nhất, có tiềm năng phát triển cũng như lượng tài nguyên khoáng sản dồi dào, tiềm năng khai thác kinh tế năm doc bờ biển, cùng một phạm vi bao gồm nhiều hàng hóa công toàn cầu giá trị nhất, được kỳ vọng sẽ trở thành trung tâm chính trị, kinh tế của thé giới [Das, U. Năm 2007, nhà nghiên cứu Ấn Độ Gurpreet Khurana đã định nghĩa khu vực An Độ Dương - Thái Bình Duong là không gian hàng hải kết nối An Độ Dương với Tây Thái Bình Dương và tiếp giáp với tất cả các nước ở khu vực châu Á và Đông Phi. Đây được cho là lần xuất hiện đầu tiên của thuật ngữ 20 này. Tuy nhiên, thuật ngữ về khu vực này chính thức được các nước trên thế giới quan tâm, phát triển và triển khai từ những năm 2010.
Đối với Mỹ, trong Tap chí Chính sách đối ngoại số 189 (10/2011), Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton chỉ rõ rang, “An Độ Dương - Thai Bình Dương được coi là khu vực mở rộng từ các tiểu lục địa trên Ấn Độ Dương tới bờ Tây của nước Mỹ, vốn bao trùm cả 02 dai dương là An Độ Dương va Thái Bình Dương”. Đối với Australia, tháng 10/2012, Chính phủ Australia chính thức ban hành Sách Trăng với tiêu đề “Australia trong Thế kỷ châu Á”, chính thức đưa Án Độ Dương - Thai Bình Duong trở thành khái niệm mới đối với khu vực châu Á, xem xét Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương như là một vòng cung chiến lược mở rộng từ An Độ xuyên suốt Đông Nam A tới Đông Bắc A, ké cả các tuyến đường giao thông trên biên. Đối với An Độ, Chiến lược An ninh hàng hai An Độ năm 2015 đã đề cập đến “An Độ Dương - Thái Bình Dương” và coi đây là toàn bộ các khu vực Bắc Hải, Đông Hải của Trung Quốc, cũng như cá khu vực biển Philippines. Đối với Pháp, trong Sách Trắng Quốc phòng và An ninh Quốc gia ban hành tháng 4/2013, Pháp mới chỉ xác định các lợi ích quốc phòng và an ninh của Pháp và EU đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương: nhưng trong tài liệu “Pháp và an ninh châu Á - Thái Bình Dương” ban hành năm 2014, Pháp đã xác định vai trò của cường quốc trong bảo đảm an ninh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương vốn có các vùng thuộc địa của Pháp.
Đối với Đức, tháng 9/2020, Chính phủ Đức đã ban hành đường lối chính sách đối với khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, với tiêu đề “Đức - EU - châu A: Cùng nhau tiến hành định hình Thế kỷ 21” đã đánh giá khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương vốn là khu vực năng động, có nhiều tài năng trẻ và đang phát triển. Đối với Anh, trong năm 2018, Chính phủ Anh đã ban hành tài liệu “Sự cân nhắc năng lực An ninh Quốc gia”, trong đó đặt trọng tâm mới vào khu vực An Độ Dương - Thái Bình Dương. Tài liệu của Anh không xác định cụ thé giới han phạm vi khu vực Ấn Độ Dương - 21 Thái Bình Duong, ma chi dé cập đến vai trò của Trung Quốc, An Độ, Đông Nam Á, cơ chế Thỏa thuận Phòng thủ 05 cường quốc (Anh, Australia, New Zealand, Malaysia, Singapore), cũng như sáng kiến Hội nghị Thượng đỉnh Á - Âu (ASEM) là thuộc phân vùng “Ân Độ Dương - Thái Bình Dương”, còn đặt Mỹ, Nga, Trung Đông, châu Phi và Mỹ La-tinh lại thuộc các phân vùng khác. Điều này cho thấy, Anh không hoàn toàn coi toàn bộ 02 đại đương và các nước thuộc vùng bao quanh là thuộc phạm vi khu vực Ấn Độ Dương - Thái Binh Dương.
Trong Tam nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương được công bố năm 2021, khái niệm An Độ Dương - Thái Bình Dương cho rằng, Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương chỉ mang tính chất tập hợp 02 khu vực là châu Á - Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương với các cơ chế khu vực hoặc tiêu khu vực, chức không phải là sự kết hợp 02 đại dương [ASEAN, 2021]. Tuy nhiên, Nhật Bản dường như mới là nước tiên phong cho khái nệm này. Tại Lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Diễn đàn Quan hệ quốc tế Nhật Ban năm 2006, Ngoại trưởng Nhật Ban Taso Aro đã đề cập đến Án Độ Dương - Thái Bình Dương; sau đó được trình bày trong Luật Tự do và Thịnh vượng của Nhật Bản năm 2007 nhằm định hướng giá trị trong khu vực liên quan sự tự do và thịnh vượng xuyên suốt và mở rộng khắp Âu - Á. Trong bài phát biểu trước Quốc hội An Độ năm 2007, Thủ tướng Abe Shinzo đã hàm ý về việc “hợp nhất dòng chảy 02 đại dương”, trong đó chú trọng kết nối hợp tác giữa Dong A và Nam A, lay Nhật Ban và An Độ là 02 đối tác chủ chốt ở 02 khu vực [Prakash, T.
Trong bài phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế của Mỹ năm 2013, Thủ tướng Abe Shinzo tiếp tục sử dụng thuật ngữ An Độ Dương - Thái Bình Dương để thay thé cho thuật ngữ châu Á - Thái Bình Dương. Tháng 8/2016, Thủ tướng Abe Shinzo đã chính thức đề xướng ý tưởng FOIP, trong đó nhắn mạnh mục tiêu nâng cao môi liên kết giữa châu A và châu Phi thông qua FOIP [MOD, n. 22 Nhìn chung, đối với Nhật Bản, “Khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương là cốt lõi của sức sống thế giới, nuôi sống hơn một nửa dân số thế giới, và việc thực hiện phát triển 6n định và tự chủ của khu vực là điều không thể thiếu cho sự 6n định và thịnh vượng của thế giới” [MOD, n. Còn Tầm nhìn FOIP sẽ “thúc đây các hoạt động kinh tế và xã hội tự do và tích cực trong toàn bộ khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và thực hiện thịnh vượng cho toàn bộ khu vực” [MOD, n.
Nguyên nhân, động cơ thúc day Nhật Bản đây mạnh Tầm nhìn An Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở 1. Sự thay đổi chiến lược dài hạn của các nước doi với khu vực Ké từ sau Hội nghị Quốc tế Tokyo về Phát triển châu Phi lần thứ 6 (8/2016), các hoạt động triển khai Tầm nhìn “An Độ Dương - Thái Binh Dương tự do và rộng mở” của Nhật Bản trở nên sôi nổi hơn, bởi lẽ bối cảnh quốc tế xuất hiện thêm nhiều diễn biến mới, tác động đến Nhật Bản buộc phải đây nhanh tiến trình hiện thực hóa “Ân Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở”. Thứ nhất, thé giới đơn cực với sự dẫn dắt của Mỹ đã dan biến mắt. Trong khi đó, sự trở lại của một số cường quốc (nồi bật là Trung Quốc va Nga) khiến cho hệ thông quan hệ quốc tế có sự thay đổi, hay còn gọi là hình thành “thế giới đa cực”.
Các nước lớn bắt đầu “tập hợp lực lượng”. Với Mỹ, mạng lưới đồng minh ở khu vực An Độ Dương - Thái Bình Dương từ song phương đến đa phương đang được thắt chặt và nâng cấp. Đặc biệt, Mỹ chú trọng hợp tác với các đồng minh trong “trục nan hoa”, như Nhật Bản, Australia. và hoàn tất các thỏa thuận tiếp cận lẫn nhau theo cơ chế song phương.
Bên cạnh đó, Mỹ tích cực triển khai các thỏa thuận hợp tác đa phương ba bên, bốn bên. Đơn cử như, Mỹ - Nhật Bản - Australia chú trọng tăng cường chia sẻ thông tin, tập trung vào các lĩnh vực an ninh hang hải trong chuỗi đảo thứ nhất (từ Kuril/Chishima, kết thúc ở Borneo và phần phía 23 Bắc của Philippines; Mỹ - Nhật Bản - An Độ gia tăng tập trận quân sự, nghiên cứu và phát triển quốc phòng chung; Mỹ - Anh - Australia thắt chặt an ninh hàng hải, bảo đảm lợi ích của các bên; nhóm “Bộ Tứ” (Mỹ - Nhật Bản - Ấn Độ - Australia) cam kết ủng hộ Chiến lược Án Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở, an toàn và thịnh vượng - nền tảng cho an ninh và phát triển chung. Nhóm “Bộ Tứ” nhân mạnh việc tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 dé ứng phó với các thách thức đối với trật tự hàng hải dựa trên luật lệ. Tất cả các cơ chế trong tập hợp lực lượng của Mỹ đều có điểm chung là đối phó với sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực.
Bên cạnh đó, Mỹ cho phép miễn trừ áp dụng Đạo luật chống lại kẻ thù của nước Mỹ thông qua trừng phạt (CAATSA) cho các đối tác khu vực, như An Độ [VOV, 2022]. trong việc mua trang thiết bị từ Nga, “khuyến khích các lựa chọn thay thế hợp lý đối với các đối tác khu vực thông qua mua sắm các trang thiết bị và dịch vụ quân sự của Mỹ, ủng hộ các lựa chọn của Ấn Độ trong phát triển quốc phòng” [Trịnh Thị Hoa, Lê Quang Mạnh, 2022].