CHƯƠNG 1: NHỮNG THAM VỌNG CỦA NHẬT BẢN Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI 1. Đặc điểm địa chính trị Nhật Bản 1. Điều kiện tự nhiên Nhật Bản là một quốc gia hải đảo, nằm bên sườn phía đông lục địa châu Á. Vốn không được thiên nhiên ưu đãi như nhiều vùng đất trù phú, rộng lớn khác ở châu Á, Nhật Bản được thiên nhiên kiến tạo một vị thế địa lý khá đặc biệt: một quốc đảo.
Quốc đảo Nhật Bản có dạng hình cánh cung bao gồm 4 đảo lớn là Hokkaido, Honshu, Shikoku, Kyushu và hơn 6 nghìn các đảo nhỏ, gần như nằm trơ trọi giữa Thái Bình Dương. Các quốc gia gần Nhật Bản nhất bao gồm Trung Hoa, Triều Tiên ở phía Tây, Liên Bang Nga ở phía Bắc cũng bị ngăn cách bởi các vùng biển rộng lớn. Phía Đông và Đông Nam của Nhật Bản tiếp giáp trực tiếp với Thái Bình Dương. Người ta vẫn thường gọi Nhật Bản là “quốc đảo” lênh đênh.
Không chỉ được bao quanh bởi biển, chính địa hình Nhật Bản cũng đã đẩy cư dân nơi đây tiến xa ra biển. Ba phần tư diện tích nước Nhật là đồi núi, những ngọn núi cao sừng sững và vô số những dãy đồi trải dài trên 4 hòn đảo chính. Trên thực tế, địa hình núi non đã làm cho Nhật Bản nhỏ hơn rất nhiều so với diện tích vốn có, xã hội và cư dân Nhật Bản tồn tại giới hạn ở những dải đất hẹp ven biển bao quanh các hòn đảo lớn. Địa hình Nhật Bản thiếu khả năng cung cấp đất ở và trồng trọt, kinh tế trên biển đóng vai trò chủ đạo trong đời sống người dân.
Nhật Bản có ba khu vực đồng bằng lớn và cũng là nơi tập trung dân cư đông nhất đều nằm ở trung tâm đảo Honshu. Lớn nhất là đồng bằng Kanto, nơi có thành phố Tokyo, một trong những thành phố đông dân nhất thế giới hiện nay. Lớn thứ hai là đồng bằng Yamoto (Kinki), bao gồm thành phố Kyoto và Osaka. Đồng bằng lớn thứ ba là Nobi, nằm giữa hai đồng bằng Kanto và Yamoto, có thành phố Nagoya.
Trong suốt chiều dài lịch sử, ba đồng bằng Kanto, Yamoto và Nobi cũng chính là các trung tâm tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của Nhật Bản. Các thành phố Tokyo, Osaka và Nagoya không chỉ là các đô thị lớn mà còn là những hải cảng quan trọng bậc nhất của đất nước này. Hiện nay, ba thành phố này chiếm hơn 45% dân số Nhật Bản, trong khi diện tích của chúng gộp lại chỉ chiếm 6% diện tích cả nước. 13 Với đặc điểm địa hình chia cắt, để tạo ra sự kết nối giữa các khu vực trong đất nước, Nhật Bản đã phát triển hệ thống giao thông đường biển khá hoàn chỉnh.
Giao thông trên biển là con đường chính duy trì mối quan hệ gắn kết giữa các đảo ở Nhật Bản, góp phần quan trọng trong việc hình thành và gìn giữ mối liên kết quốc gia, dân tộc. Giao thông hàng hải phát triển, người dân Nhật Bản là một trong số những dân tộc đi biển giỏi nhất châu Á. Quần đảo Nhật Bản nằm khá xa lục địa châu Á. Liên lạc giữa Nhật Bản với các quốc gia xung quanh chủ yếu diễn ra bằng đường biển, tuy nhiên cũng rất khó khăn và hiếm hoi.
Với vị trí địa lý khá biệt lập, tưởng chừng như Nhật Bản bị cô lập giữa bốn bề biển lớn. Tuy nhiên, chính sự biệt lập đó đã tạo ra những con người Nhật Bản có ý thức cao về dân tộc, ý thức cá nhân và tính cách dân tộc mạnh mẽ. Đối với người Nhật, tất cả những dân tộc khác đều là ngoại quốc. Trong lịch sử hàng nghìn năm của Nhật Bản, người Nhật đã luôn tìm cách chứng minh và khẳng định vị thế của dân tộc mình.
Địa chính trị nội bộ Trong quá trình xây dựng một quốc gia thống nhất, Nhật Bản đã trải qua những giai đoạn lịch sử với nhiều tranh chấp và xung đột nội bộ. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do sự khan hiếm về tài nguyên thiên nhiên và đất đai. Các cuộc chiến tranh giành đất ở và đất trồng trọt đã diễn ra liên tục và tàn khốc. Hệ thống chính trị và xã hội của Nhật Bản được xây dựng trên nền kinh tế nông nghiệp, quyền lực chính trị thuộc về những người có khả năng kiểm soát đất đai và lương thực.
Đồng bằng Yamoto và Kanto là những nơi tranh diễn ra các cuộc chấp liên tục trong quá trình tranh đấu giữa các phe phái nhằm xác lập quyền kiểm soát. Đồng bằng Yamoto không chỉ có diện tích đất gieo trồng mà còn có vị trí địa lý khá thuận lợi: một bên là rừng núi trập trùng đóng vai trò bảo vệ vùng đất, một bên là ruộng đất phát triển nông nghiệp, và ngoài ra còn có vùng biển nội địa cung cấp thủy hải sản và giao thương với bên ngoài. Chính vị trí địa lý thuận lợi đó, những thủ lĩnh nắm quyền cai trị đồng bằng Yamoto cũng gần như nắm được quyền cai quản đất nước Nhật Bản. Tuy nhiên, do địa hình núi non hiểm trở, chia cắt, Nhật Bản gặp phải nhiều khó khăn khi xây dựng thể chế trung ương tập quyền.
Quyền kiểm soát đất đai của triều đình trung ương luôn bị chi phối bởi các thế lực quân sự ở các địa phương. Trong nhiều giai đoạn lịch 14 sử, các thế lực quân sự hùng mạnh ở các địa phương liên kết với nhau và chi phối cả quyền kiểm soát của triều đình trung ương. Với vị trí địa lý biệt lập, đại dương bao bọc xung quanh, Nhật Bản có thể tự hào khi trong lịch sử hầu như không bị các thế lực bên ngoài xâm lược. Vào thế kỷ XIII, đế quốc Mông Cổ từng hai lần xâm lược Nhật Bản nhưng đều không thể vượt qua biển cả để xâm chiếm Nhật Bản.
Trong lịch sử, Nhật Bản nhiều lần thực hiện chính sách đóng cửa và cách ly với thế giới bên ngoài. Chỉ khi cần giao lưu học hỏi, Nhật Bản sẽ tự động mở cửa và tìm đến với các quốc gia khác. Thời kỳ cổ trung đại, Nhật Bản chịu ảnh hưởng và tiếp nhận nền văn minh Trung Hoa. Đến thời kỳ cận đại, cũng chính Nhật Bản đã chủ động tiếp nhận văn minh châu Âu và thực hiện cải cách đất nước.
Mặc dù nhiều lần thực hiện chính sách biệt lập, đóng cửa đất nước nhưng về cơ bản, Nhật Bản là một đất nước tự cường, biệt lập nhưng không cô lập. Địa chính trị ngoại giao Do những điều kiện đặc biệt về vị trí địa lý, lịch sử Nhật Bản gần như khước từ mọi cuộc xâm lăng của các thế lực bên ngoài. Tuy nhiên, không vì vậy mà Nhật Bản lơ là trong việc bảo vệ lãnh thổ dân tộc hoặc ngừng mở rộng lãnh thổ ra xung quanh. Những bộ tộc lớn của Nhật Bản liên tục chinh phục những bộ tộc khác để giành quyền thống trị đất nước.
Những bộ tộc giành được vương quyền lại tiếp tục chinh phục những quốc gia lân cận. Với vị trí biệt lập, từ sớm Nhật Bản có nhu cầu lớn về giao thương buôn bán với các quốc gia lục địa. Giao thông đường biển phát triển, Nhật Bản có điều kiện tiếp xúc và tiến hành các hoạt động thương mại với Triều Tiên, Trung Hoa. Con đường thương mại của Nhật Bản với một số quốc gia ở lục địa châu Á khá phát triển.
Song song cùng với hoạt động thương mại, Nhật Bản cũng ý thức được nguy cơ bị xâm lược bất cứ lúc nào bởi các cường quốc lúc bấy giờ: Trung Hoa, Mông Cổ, Nga. Vì vậy, ngoài hoạt động giao thương, Nhật Bản vẫn luôn tìm kiếm một khu vực đệm, thiết lập vùng rìa ngăn chặn sự ảnh hưởng và nguy cơ xâm lược từ các đế quốc lớn mạnh xung quanh để bảo vệ lãnh thổ dân tộc, đồng thời cũng nhằm bảo vệ con đường thương mại của mình ở lục địa châu Á. Từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 7, Nhật Bản liên tiếp tiến hành các cuộc chiến tranh xâm chiếm Triều Tiên nhằm biến Triều Tiên thành vùng đệm. Đến các thế kỷ 16, 19 và đầu 20, 15 mỗi khi có điều kiện, Nhật Bản lại tiến hành xâm chiếm Triều Tiên, thiết lập nơi đây một hệ thống quân sự và thương mại thuộc địa.
Sang thời kỳ Minh Trị (1868), sau công cuộc duy tân cải cách, tư tưởng địa chính trị của Nhật Bản bắt đầu bộc lộ rõ quan điểm dân tộc chủ nghĩa. Đây cũng là cột mốc đánh dấu sự chấm dứt chủ nghĩa biệt lập của Nhật Bản. Nhật Bản tìm đến với phương Tây, thực hiện chính sách mở cửa với bên ngoài, tiến hành cải cách và đổi mới đất nước. Thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, quan điểm địa chính trị của Nhật Bản chịu ảnh hưởng của tư tưởng địa chính trị nước Đức, chủ nghĩa dân tộc của Nhật Bản phát triển thành chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Cùng với Đức, Ý, Nhật Bản đã trở thành một trong ba lò nung của chủ nghĩa Phát xít, đẩy thế giới bước vào cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Nhật Bản vươn dậy sau chiến tranh Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản gãnh chịu những tổn thất nặng nề, đất nước hoang tàn, kiệt quệ. Dân số Tokyo chết hơn nửa, dân số Osaka chết gần 2/3. Các đô thị hầu hết bị tàn phá, hệ thống mạch máu kinh tế: giao thông, thương mại, công nghiệp, sản xuất đều bị đẩy xuống mức thấp nhất.
Sản xuất của Nhật Bản năm 1946 chỉ bằng 1/7 năm 1941. Dân chúng đói khổ, thiếu thốn, suy kiệt cả về vật chất lẫn tinh thần. Tài sản của người dân bị bóc từ lớp này đến lớp khác, những người sống sót ở các đô thị lần mò về quê để kiếm thức ăn. Cuộc sống của người dân Nhật lúc bấy giờ được ví như là “Kiếp củ hành”, “Không cần biết người ta nhìn xa vào tương lai thì thấy nó như thế nào, chứ còn bấy giờ thì thấy phía là viễn cảnh hoàn toàn mù mịt, đen tối” [23; tr.
Tuy vậy, người Nhật, vốn là những cư dân có sức sống bền bĩ và kiên trì sau những thảm họa thiên nhiên, dường như sẽ không chịu khuất phục trong những mảnh vụn hoang tàn của đất nước sau chiến tranh. Trong đói khổ, kiệt quệ, họ lao vào tái tạo đất nước bằng tất cả sự kiên cường và ý chí của dân tộc Nhật Bản. Trong vòng chưa đầy 3 năm, Tokyo với 90% diện tích bị san bằng bởi bom đạn đã được khôi phục với dáng dấp của một đô thị sống. Những căn nhà siêu vẹo dần được thay thế bằng những ngôi nhà vững chắc hơn.