Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn/ngôn ngữ học với đề tài "Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về 'vui mừng' và 'tức giận' trong tiếng Nhật và tiếng Việt" do nghiên cứu sinh Nghiêm Hồng Vân thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Hiệp, bảo vệ năm 2018 tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu, Mã số: 9222024).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận và tâm lý học, tình cảm và cảm xúc không phải là những hiện tượng hoàn toàn vô hình mà được ý niệm hóa và biểu đạt thông qua mô hình văn hóa chung thể hiện qua ngôn ngữ. Việc tìm hiểu cơ chế mã hóa ngôn ngữ đối với các trạng thái cảm xúc cho phép luận giải mối quan hệ tương tác giữa nhận thức, ngôn ngữ, tư duy và văn hóa.
Tại thời điểm thực hiện luận án, các nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ học tri nhận về phạm trù cảm xúc giữa tiếng Việt hoặc tiếng Nhật với các ngôn ngữ khác (như tiếng Anh, tiếng Hán) đã xuất hiện nhưng chưa có công trình nào đi sâu so sánh, đối chiếu trực tiếp, có hệ thống giữa tiếng Nhật và tiếng Việt về hai miền cảm xúc cơ bản là "vui mừng" và "tức giận". Bên cạnh đó, phần lớn các công trình trước đây chỉ giới hạn khảo sát trên ngữ liệu thành ngữ với dung lượng nhỏ, chưa phản ánh đầy đủ tính đa dạng của hệ thống biểu thức ẩn dụ trong ngôn ngữ thực tế. Do đó, luận án được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là so sánh, đối chiếu các biểu thức ẩn dụ biểu đạt cảm xúc "vui mừng" và "tức giận" trong tiếng Nhật và tiếng Việt trên phương diện tính chất của các ý niệm miền nguồn và cơ chế ánh xạ; tìm hiểu sự ánh xạ ý niệm trong quá trình kiến tạo nghĩa của biểu thức ngôn ngữ trong tư duy; từ đó làm rõ những nét tương đồng và khác biệt về đặc trưng văn hóa, địa lý, lịch sử và tư duy dân tộc ẩn sau cơ chế tri nhận của người Việt và người Nhật.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Hệ thống hóa và đưa ra được danh sách các biểu thức ẩn dụ biểu đạt cảm xúc "vui mừng" và "tức giận" trong tiếng Nhật và tiếng Việt.
- Xác định các mô hình ẩn dụ cũng như miền nguồn thông dụng trong biểu thức ngôn ngữ biểu đạt cảm xúc "vui mừng" và "tức giận" trong tiếng Nhật và tiếng Việt.
- Luận giải về cơ chế ánh xạ từ miền nguồn vào miền đích "vui mừng" và "tức giận" trong tiếng Nhật và tiếng Việt.
- Chỉ ra những tương đồng và khác biệt trong các biểu thức ẩn dụ biểu đạt cảm xúc "vui mừng" và "tức giận" trong tiếng Nhật và tiếng Việt.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các biểu thức ngôn ngữ chứa ẩn dụ ý niệm về tâm lý "vui mừng" và "tức giận" trong tiếng Nhật và tiếng Việt; tập trung khảo sát các miền nguồn thông dụng và cơ chế ánh xạ từ miền nguồn vào hai miền đích "vui mừng" và "tức giận" ở hai ngôn ngữ.
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn về mặt đồng đại, tập trung vào hình thái - cấu trúc, ngữ nghĩa và đặc điểm tri nhận của các biểu thức ngôn ngữ chứa ẩn dụ ý niệm biểu đạt cảm xúc "vui mừng" và "tức giận" trong tiếng Nhật và tiếng Việt đương đại.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trên thế giới và tại Việt Nam
Luận án đã điểm lại lịch sử phát triển của lý thuyết ẩn dụ ý niệm từ các tiền đề triết học cổ điển đến ngôn ngữ học tri nhận hiện đại:
- Tiền đề triết học và ngôn ngữ học châu Âu: I. Kant (1790) với quan điểm về biểu tượng và chức năng "cảm xúc hóa hình tượng" dựa trên sự tương tự; H. Blumenberg (1960) với khái niệm "ẩn dụ nền" (background metaphor) như "SỰ THẬT là ÁNH SÁNG", "CUỘC ĐỜI là MỘT CHUYẾN ĐI BIỂN"; H. Weinrich (1958–1976) với lý thuyết trường hình ảnh gồm thể cho hình ảnh (image donor) và thể nhận hình ảnh (image recipient), tiêu biểu là trường hình ảnh "TỪ - TIỀN".
- Ngôn ngữ học tri nhận quốc tế: G. Lakoff và M. Johnson (1980) với công trình Metaphors We Live By xác lập quan điểm ẩn dụ thuộc về tư duy và hành động; G. Lakoff (1987) và Z. Kövecses (1986, 1990) nghiên cứu ẩn dụ cảm xúc dựa trên cơ sở sinh lý và văn hóa; G. Fauconnier và M. Turner (2002) phát triển lý thuyết không gian pha trộn (blended space); R. Gibbs (1994) ứng dụng ẩn dụ tri nhận trong tâm lý học nhận thức.
- Nghiên cứu về tiếng Nhật: Momiyama Yosuke (2002), Obori Toshio (2004), Takahashi Hidemitsu (2002) giới thiệu ngôn ngữ học tri nhận tại Nhật Bản. Nghiên cứu ẩn dụ cảm xúc trong tiếng Nhật gồm có Oishi (1998) khảo sát các miền nguồn tình cảm (vật sở hữu, vật di chuyển, nước, lửa, nhiệt, thực thể sống); Fang Xiaoyun (2003) so sánh ẩn dụ sự tức giận giữa tiếng Trung và tiếng Nhật; Han Tao (2006) đối chiếu ẩn dụ tức giận Trung - Nhật dựa trên triết học và âm dương ngũ hành; Guan Wei (2008) phân tích ẩn dụ cảm xúc vui mừng trong tiếng Nhật theo hướng nghiệm thân.
- Nghiên cứu về tiếng Việt: Nguyễn Lai (1990) nghiên cứu nhóm từ chỉ hướng vận động; Nguyễn Đức Tồn (2002) tiếp cận ẩn dụ như tư duy phạm trù và định danh động - thực vật, bộ phận cơ thể; Lý Toàn Thắng (2009) tiếp cận tri nhận không gian theo nguyên lý "dĩ nhân vi trung"; Trần Văn Cơ (2007) xuất bản Khảo luận ẩn dụ tri nhận; Phan Thế Hưng (2007, 2008) nghiên cứu ẩn dụ như câu bao hàm xếp loại; Trần Bá Tiến (2012) đối chiếu thành ngữ tình cảm Anh - Việt; Vi Trường Phúc (2012) nghiên cứu thành ngữ tình cảm tiếng Hán qua lý thuyết pha trộn ý niệm; Ly Lan (2012) đối chiếu từ biểu đạt 4 tình cảm cơ bản (vui, yêu, sợ, giận) giữa tiếng Anh và tiếng Việt; Nguyễn Thị Bích Hạnh (2014) khảo sát ẩn dụ định hướng trong ca từ Trịnh Công Sơn; Nguyễn Thu Quỳnh (2015) nghiên cứu các phạm trù tình cảm trong Truyện Kiều; cùng các nghiên cứu về miền nguồn cụ thể của Trần Thị Phương Lý (2010 - thực vật), Trịnh Thị Thanh Huệ (2011 - bộ phận cơ thể Hán - Việt), Huỳnh Ngọc Mai Kha (2014 - nước, lửa), Nguyễn Thị Bích Hợp (2015 - đồ ăn).
TIỀN ĐỀ TRIẾT HỌC & NGÔN NGỮ HỌC
Kant (1790) | Blumenberg (1960) | Weinrich (1958)
LÝ THUYẾT ẨN DỤ Ý NIỆM (NNH TRI NHẬN)
Lakoff & Johnson (1980) | Kövecses (1986, 1990)
HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾNG NHẬT HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾNG VIỆT
Oishi (1998) | Fang (2003) | Han Tao (2006) Lý Toàn Thắng (2009) | Trần Bá Tiến (2012)
Guan Wei (2008) Ly Lan (2012) | Nguyễn Thu Quỳnh (2015)
KHOẢNG TRỐNG HỌC THUẬT:
Chưa có công trình đối chiếu trực tiếp, hệ thống
giữa tiếng Nhật và tiếng Việt về hai miền cảm xúc "Vui mừng"
và "Tức giận" trên ngữ liệu thành ngữ và văn học.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đi trước chủ yếu so sánh đơn lẻ tiếng Nhật hoặc tiếng Việt với tiếng Anh/tiếng Hán, tập trung vào thành ngữ với quy mô ngữ liệu hạn chế. Luận án này giải quyết khoảng trống bằng cách thực hiện một công trình nghiên cứu đối chiếu trực tiếp giữa tiếng Nhật và tiếng Việt, xác định toàn diện các mô hình ẩn dụ, miền nguồn thông dụng và cơ chế ánh xạ của hai miền cảm xúc "vui mừng" và "tức giận" dựa trên nguồn ngữ liệu kết hợp giữa từ điển giải thích và tác phẩm văn học đương đại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các trụ cột chính của ngôn ngữ học tri nhận:
- Lý thuyết phạm trù và phạm trù hóa (Categorization): Tiếp thu quan điểm của W. Labov, E. Rosch (1975) và G. Lakoff (1987) về hiệu ứng điển dạng (prototype) và các cấp độ phạm trù hóa, thay thế cho quan điểm điều kiện cần và đủ truyền thống.
- Ý niệm và ý niệm hóa (Conceptualization): Phân biệt "khái niệm" và "ý niệm" (theo Trần Văn Cơ, Lý Toàn Thắng, Nguyễn Thiện Giáp); xem ý niệm là đơn vị của ý thức mang tính phổ quát nhân loại lẫn đặc trưng văn hóa - dân tộc; mô hình tri nhận (ICM) và mô hình văn hóa.
- Tính tri nhận nghiệm thân (Embodiment): Nhấn mạnh tư duy và ngôn ngữ bắt nguồn từ trải nghiệm cơ thể và tương tác vật lý. Luận án vận dụng hệ thống các sơ đồ hình ảnh (image schemas) do G. Lakoff xác lập:
- Sơ đồ BỘ PHẬN – CHỈNH THỂ (Part-Whole Schema): Quan hệ ràng buộc giữa chỉnh thể và các bộ phận cấu thành (Hình 1.1 trong luận án).
- Sơ đồ TÂM – BIÊN (Center-Periphery Schema): Cấu trúc thực thể gồm trung tâm và ngoại biên phụ thuộc (Hình 1.2 trong luận án).
- Sơ đồ GỐC – LỘ TRÌNH – ĐÍCH (Source-Path-Goal Schema): Quá trình vận động từ điểm xuất phát qua lộ trình đến điểm đích (Hình 1.3 trong luận án).
- Các sơ đồ bổ trợ khác: Sơ đồ TRÊN – DƯỚI (Up-Down), Sơ đồ TRƯỚC – SAU (Front-Back), Sơ đồ LIÊN KẾT (Link), Sơ đồ TUYẾN TÍNH (Linear Order), Sơ đồ LỰC (Force).
- Lý thuyết ẩn dụ ý niệm (Conceptual Metaphor Theory): Bản chất ẩn dụ là cơ chế ánh xạ hai miền (từ miền nguồn cụ thể sang miền đích trừu tượng theo công thức "ĐÍCH là NGUỒN") với 3 chức năng giao tiếp cơ bản: tính bất khả diễn đạt, tính súc tích và tính sinh động. Phân loại ẩn dụ thành: ẩn dụ định hướng (orientational metaphor), ẩn dụ cấu trúc (structural metaphor) và ẩn dụ bản thể (ontological metaphor).
- Phân định phạm trù tình cảm và cảm xúc: Dựa trên bảng phân loại và so sánh của Ortony và Turner (1990) (Bảng 1.1 và Bảng 1.2 trong luận án).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ và phân tích ngữ nghĩa tri nhận: Phác họa các mô hình tri nhận lý tưởng, miêu tả quá trình ý niệm hóa và phạm trù hóa hai miền cảm xúc ở hai ngôn ngữ.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tiến hành đối chiếu song song các biểu thức ẩn dụ trong tiếng Nhật và tiếng Việt nhằm tìm ra nét tương đồng mang tính phổ quát và nét dị biệt do đặc trưng văn hóa, tư duy dân tộc quy định.
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Thu thập, định lượng, phân loại các miền nguồn, mô hình ẩn dụ và cơ chế ánh xạ trong các đơn vị ngữ liệu khảo sát.
- Phương pháp phân tích ngữ cảnh: Phân tích ngữ cảnh xuất hiện của biểu thức ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học để xác định chính xác nghĩa ẩn dụ.
Nguồn tư liệu và dữ liệu khảo sát
Ngữ liệu của luận án gồm 226 thành ngữ và 945 biểu thức ngôn ngữ (BTNN) chứa ẩn dụ ý niệm biểu đạt "vui mừng" và "tức giận" trong tiếng Nhật và tiếng Việt:
- Nguồn từ điển:
- Tiếng Việt: Từ điển tiếng Việt [81], Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam [64], Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt [113], Đại từ điển tiếng Việt [114].
- Tiếng Nhật: 例解慣用句辞典 (Reikai kanjooku jiten) [144], 比喩表現辞典 (Hiyu hyoogenn jiten) [163], 日本国語大辞典 (Nihon kokugo daijiten) [165], 日本語慣用句の辞典 (Nihongo Kanjooku no jiten) [180].
- Nguồn tác phẩm truyện ngắn đương đại (21 tác phẩm):
| STT |
Tên tác phẩm |
Tác giả (Năm sinh) |
Ký hiệu ngữ liệu |
| 1 |
Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh |
Nguyễn Nhật Ánh (1955) |
NNA.1 |
| 2 |
Bảy bước tới mùa hè |
Nguyễn Nhật Ánh (1955) |
NNA.2 |
| 3 |
Cô gái đến từ hôm qua |
Nguyễn Nhật Ánh (1955) |
NNA.3 |
| 4 |
Chuyện cổ tích dành cho người lớn |
Nguyễn Nhật Ánh (1955) |
NNA.4 |
| 5 |
37 truyện ngắn |
Nguyễn Thị Thu Huệ (1966) |
NTTH |
| 6 |
Công ty |
Phan Hồn Nhiên (1972) |
PHN.1 |
| 7 |
Mắt bão |
Phan Hồn Nhiên (1972) |
PHN.2 |
| 8 |
Những đôi mắt lạnh |
Phan Hồn Nhiên, Phan Vũ Linh |
PHN.3 |
| 9 |
Cuộc sống rất giống cuộc đời |
Nguyễn Hoàng Hải (1976) |
NHH |
| 10 |
Shitamachi rocket (Tên lửa ở trung tâm thành phố) |
Ikeido Jun (1963) |
IJ.1 |
| 11 |
Oretachi baburu nyuugyougumi (Chúng tôi và bong bóng kinh tế) |
Ikeido Jun (1963) |
IJ.2 |
| 12 |
Kabanya no souzoku (Thừa kế cửa hàng túi) |
Ikeido Jun (1963) |
IJ.3 |
| 13 |
Oretachi hana no baburugumi (Chúng tôi và bong bóng hoa) |
Ikeido Jun (1963) |
IJ.4 |
| 14 |
Nanatsu no kaigi (7 cuộc họp) |
Ikeido Jun (1963) |
IJ.5 |
| 15 |
Summer Wars (Cuộc chiến mùa hè) |
Hosoda Mamoru (1967) |
HM.1 |
| 16 |
Ookamikodomo no ame to yuki (Những đứa con của sói) |
Hosoda Mamoru (1967) |
HM.2 |
| 17 |
Toki wo kakeru shoujo (Cô gái lướt qua thời gian) |
Hosoda Mamoru (1967) |
HM.3 |
| 18 |
Kimi no na wa? (Tên cậu là gì?) |
Makoto Shinkai (1973) |
MS.1 |
| 19 |
Koto no ha no niwa (Khu vườn ngôn từ) |
Makoto Shinkai (1973) |
MS.2 |
| 20 |
Byousoku 5 centimeters (5cm/s) |
Makoto Shinkai (1973) |
MS.3 |
| 21 |
Kanojo to kanojo no neko (Người yêu tôi và con mèo của cô ấy) |
Makoto Shinkai (1973) |
MS.4 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu và cơ sở lí thuyết
Chương 1 tổng thuật bức tranh toàn cảnh về lý thuyết ẩn dụ ý niệm từ các học giả tiền bối châu Âu (Kant, Blumenberg, Weinrich) đến các nhà ngôn ngữ học tri nhận hiện đại (Lakoff, Johnson, Kövecses, Fauconnier, Turner), cùng các công trình nghiên cứu tại Nhật Bản (Momiyama, Takahashi, Oishi, Fang, Han Tao, Guan Wei) và Việt Nam (Nguyễn Lai, Nguyễn Đức Tồn, Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ, Phan Thế Hưng, Trần Bá Tiến, Ly Lan, Nguyễn Thu Quỳnh).
Chương này trình bày chi tiết các khái niệm nền tảng: phạm trù và phạm trù hóa, ý niệm và ý niệm hóa, lý thuyết nghiệm thân gắn với 3 sơ đồ hình ảnh trực quan (Sơ đồ Bộ phận – Chỉnh thể, Sơ đồ Tâm – Biên, Sơ đồ Gốc – Lộ trình – Đích), và bản chất ánh xạ hai miền của ẩn dụ ý niệm. Chương 1 cũng phân tích ranh giới giữa phạm trù "tình cảm" và "cảm xúc" thông qua các bảng đối chiếu lý thuyết (Bảng 1.1 và Bảng 1.2 của Ortony & Turner).
Chương 2: Đối chiếu ẩn dụ ý niệm biểu đạt cảm xúc “vui mừng” trong tiếng Nhật và tiếng Việt
Chương 2 phân tích thống kê và đối chiếu hệ thống biểu thức ẩn dụ biểu đạt cảm xúc "vui mừng" trong tiếng Nhật và tiếng Việt qua các nhóm mô hình:
- Các miền nguồn thông dụng: Xác định các miền nguồn phổ biến gồm: phương hướng, ánh sáng, bộ phận cơ thể người, chất lỏng, hoa, thời tiết/khí hậu và các miền nguồn khác (Bảng 2.1).
- Ẩn dụ định hướng:
- Mô hình cơ sở: "VUI MỪNG là HƯỚNG LÊN / Ở MỘT VỊ TRÍ CAO" (Bảng 2.2).
- Các mô hình thứ cấp: "VUI MỪNG là BAY / RỜI KHỎI MẶT ĐẤT", "VUI MỪNG là CHUYỂN ĐỘNG", "VUI MỪNG là ÁNH SÁNG".
- Ẩn dụ cấu trúc: Phân tích cơ chế ánh xạ trong các mô hình "VUI MỪNG là HOA" và "VUI MỪNG là CHẤT LỎNG TRONG VẬT CHỨA" (Bảng 2.3 phân tích tương ứng giữa hai miền nguồn - đích).
- Ẩn dụ bản thể:
- Mô hình "BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI là VẬT CHỨA CẢM XÚC VUI MỪNG" (Bảng 2.4 khảo sát các bộ phận tiếp nhận/biểu hiện cảm xúc).
- Các mô hình thời tiết: "VUI MỪNG là TRỜI QUANG ĐÃNG / GIÓ MÁT" và "VUI MỪNG là ẤM ÁP".
- So sánh đối chiếu: Luận giải nét tương đồng xuất phát từ kinh nghiệm nghiệm thân phổ quát của con người và nét dị biệt do ảnh hưởng của tập quán văn hóa, điều kiện tự nhiên giữa hai dân tộc.
Chương 3: Đối chiếu ẩn dụ ý niệm biểu đạt cảm xúc “tức giận” trong tiếng Nhật và tiếng Việt
Chương 3 triển khai khảo sát và đối chiếu hệ thống ẩn dụ biểu đạt cảm xúc "tức giận":
- Các miền nguồn thông dụng: Thống kê các miền nguồn chính: nhiệt, bộ phận cơ thể người, động/thực vật, hiện tượng tự nhiên (Bảng 3.1).
- Ẩn dụ cấu trúc:
- Mô hình "TỨC GIẬN là NHIỆT" (Sơ đồ 3.1 thể hiện cấu trúc tầng bậc, Bảng 3.2 thống kê biểu thức, Bảng 3.3 phân tích ánh xạ của "TỨC GIẬN là LỬA").
- Mô hình "TỨC GIẬN là MẤT KIỂM SOÁT".
- Ẩn dụ bản thể:
- Mô hình "BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI là VẬT CHỨA CẢM XÚC TỨC GIẬN", cụ thể hóa thành "TỨC GIẬN là CHẤT LỎNG (KHÍ) NÓNG TRONG VẬT CHỨA" (Bảng 3.4 phân tích tương ứng bản thể và Bảng 3.5 phân tích tương ứng tri thức).
- Mô hình "TỨC GIẬN là CON THÚ BỊ NHỐT (BỊ THƯƠNG)" và "TỨC GIẬN là ĐỘNG (THỰC VẬT) GÂY HẠI" (Bảng 3.10).
- Mô hình "TỨC GIẬN là SỨC MẠNH THIÊN NHIÊN" (Bảng 3.11 và Bảng 3.12 phân loại hiện tượng tự nhiên như bão, sấm sét, núi lửa).
- Cơ sở văn hóa và tri nhận: Vận dụng triết học phương Đông về Âm - Dương (Bảng 3.6) và Ngũ hành tương ứng với tạng phủ (Bảng 3.7); thống kê sự phân bố biểu thức ẩn dụ theo bộ phận cơ thể thuộc phần đầu (Bảng 3.8: mắt, mặt, đầu, tai...) và phần nội tạng (Bảng 3.9: ruột, gan, lòng, dạ, bụng, tim...). Luận giải sự khác biệt giữa xu hướng dùng "chất lỏng" của tiếng Nhật và "chất khí/chất lỏng" của tiếng Việt/tiếng Hán.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án là công trình nghiên cứu đối chiếu có hệ thống đầu tiên tại Việt Nam và Nhật Bản khảo sát các biểu thức ngôn ngữ biểu đạt hai miền cảm xúc "vui mừng" và "tức giận" giữa tiếng Nhật và tiếng Việt từ bình diện ngôn ngữ học tri nhận.
- Cung cấp khung phân tích và hệ thống cứ liệu thực chứng góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy dân tộc trong quá trình tri nhận.
- Củng cố cơ sở ngữ liệu thực tế để cùng với các nghiên cứu trên thế giới chứng minh tính phổ quát (dựa trên trải nghiệm nghiệm thân) và tính đặc thù văn hóa của các ẩn dụ ý niệm chỉ cảm xúc.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Xây dựng được danh mục và phân loại chi tiết 226 thành ngữ cùng 945 biểu thức ngôn ngữ chứa ẩn dụ ý niệm chỉ cảm xúc "vui mừng" và "tức giận" trong hai ngôn ngữ (trình bày tại 4 phụ lục của luận án).
- Cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ việc giảng dạy tiếng Nhật và tiếng Việt như một ngoại ngữ, giúp người học hiểu rõ cơ chế tư duy và ý nghĩa hàm ẩn của các thành ngữ, quán dụng ngữ và diễn đạt cảm xúc.
- Hỗ trợ công tác biên soạn từ điển đối chiếu, giáo trình giảng dạy ngôn ngữ - văn hóa, công tác dịch thuật văn học Nhật - Việt và các hoạt động giao tiếp liên văn hóa.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất vận dụng đường hướng ngôn ngữ học tri nhận vào giảng dạy ngoại ngữ: khai thác triệt để tính hệ thống và tính phổ quát của các mô hình ẩn dụ để giúp người học ghi nhớ nhanh, đồng thời giải thích rõ các điểm dị biệt bắt nguồn từ tư duy văn hóa bản địa để tránh lỗi chuyển di tiêu cực trong thụ đắc ngôn ngữ và dịch thuật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Phạm vi cảm xúc: Luận án chỉ tập trung khảo sát hai miền cảm xúc cơ bản là "vui mừng" và "tức giận", chưa bao quát các miền cảm xúc khác trong đời sống tâm lý con người như "buồn bã", "lo sợ", "yêu thương", "ghen ghét".
- Phạm vi ngữ liệu: Ngữ liệu thành ngữ thu thập qua từ điển có số lượng nhất định; ngữ liệu văn học đương đại mới chỉ khảo sát trên thể loại truyện ngắn của 7 tác giả đại diện viết về lứa tuổi thanh thiếu niên và người trẻ tuổi, chưa mở rộng sang thơ ca, kịch bản sân khấu hoặc ngôn ngữ giao tiếp khẩu ngữ tự nhiên hàng ngày.
- Trục thời gian: Đề tài giới hạn tiếp cận ở bình diện đồng đại, chưa nghiên cứu biến đổi ngữ nghĩa theo tiến trình lịch đại.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các miền cảm xúc phức hợp khác trong tiếng Nhật và tiếng Việt.
- Mở rộng khảo sát trên các loại hình phong cách chức năng khác như văn bản báo chí, tác phẩm điện ảnh, ca từ âm nhạc và diễn ngôn hội thoại đời thường.
- Nghiên cứu cơ chế tích hợp không gian (pha trộn ý niệm) đa chiều đối với các biểu thức ẩn dụ cảm xúc mang tính lâm thời và sáng tạo nghệ thuật.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu, Ngôn ngữ học tri nhận, Việt ngữ học và Nhật Bản học: Tham khảo khung lý thuyết nghiệm thân, quy trình phân loại sơ đồ hình ảnh và phương pháp phân tích ánh xạ miền nguồn - miền đích.
- Giảng viên và giáo viên dạy tiếng Nhật, tiếng Việt cho người nước ngoài: Sử dụng ngữ liệu tại Chương 2, Chương 3 và 4 phần Phụ lục để thiết kế bài giảng về thành ngữ, quán dụng ngữ và cách diễn đạt trạng thái tâm lý.
- Người làm công tác dịch thuật và nghiên cứu văn hóa: Tham khảo phần luận giải về các biểu thức liên quan đến bộ phận cơ thể (phần đầu, phần nội tạng) và các quan niệm triết học Âm - Dương, Ngũ hành để chuyển dịch chính xác các sắc thái biểu cảm giữa hai ngôn ngữ Nhật - Việt.
Câu hỏi thường gặp
1. Ngữ liệu khảo sát của luận án được thu thập từ những nguồn nào và quy mô cụ thể ra sao?
Luận án khảo sát tổng cộng 226 thành ngữ và 945 biểu thức ngôn ngữ chứa ẩn dụ ý niệm. Nguồn thu thập gồm 4 từ điển tiếng Việt (Từ điển tiếng Việt, Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt, Đại từ điển tiếng Việt), 4 từ điển tiếng Nhật (Reikai kanjooku jiten, Hiyu hyoogenn jiten, Nihon kokugo daijiten, Nihongo Kanjooku no jiten), cùng 21 tác phẩm truyện ngắn đương đại của 4 nhà văn Việt Nam (Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Hồn Nhiên, Nguyễn Hoàng Hải) và 3 tác giả Nhật Bản (Ikeido Jun, Hosoda Mamoru, Makoto Shinkai).
2. Luận án vận dụng những sơ đồ hình ảnh (image schema) nào để phân tích cơ sở nghiệm thân của ẩn dụ?
Luận án dựa trên lý thuyết của G. Lakoff để phân tích 3 sơ đồ hình ảnh chính:
- Sơ đồ BỘ PHẬN – CHỈNH THỂ (The PART – WHOLE Schema): Cấu trúc gồm chỉnh thể và các bộ phận có quan hệ ràng buộc (Hình 1.1).
- Sơ đồ TÂM – BIÊN (The CENTER – PERIPHERY Schema): Cấu trúc gồm thực thể, vùng trung tâm và vùng ngoại biên phụ thuộc (Hình 1.2).
- Sơ đồ GỐC – LỘ TRÌNH – ĐÍCH (The SOURCE – PATH – GOAL Schema): Cấu trúc gồm điểm xuất phát (nguồn), điểm dừng (đích đến), lộ trình và hướng đi (Hình 1.3).
Ngoài ra còn có các sơ đồ: Liên kết, Trên – Dưới, Trước – Sau, Tuyến tính, và Lực.
3. Điểm khác biệt nổi bật giữa tiếng Nhật, tiếng Việt và tiếng Trung khi ẩn dụ hóa sự "tức giận" được luận án điểm lại là gì?
Tổng quan luận án chỉ ra rằng cả ba ngôn ngữ đều sử dụng miền nguồn "nhiệt" và "vật chứa", nhưng có sự khác biệt về trạng thái vật chất bên trong vật chứa: tiếng Trung ưu tiên sử dụng "chất khí" ("TỨC GIẬN là KHÍ NÓNG TRONG VẬT CHỨA"), trong khi tiếng Nhật sử dụng "chất lỏng" ("TỨC GIẬN là CHẤT LỎNG NÓNG TRONG VẬT CHỨA"). Tiếng Việt sử dụng cả hai trạng thái chất khí và chất lỏng, đồng thời khai thác sâu các bộ phận nội tạng ở vùng bụng (lòng, dạ, ruột, gan, mật) bên cạnh các bộ phận vùng đầu.
4. Hệ thống ẩn dụ biểu đạt cảm xúc "vui mừng" trong luận án được phân loại theo các nhóm mô hình nào?
Hệ thống ẩn dụ "vui mừng" được chia thành 3 nhóm:
- Ẩn dụ định hướng: "VUI MỪNG là HƯỚNG LÊN / Ở MỘT VỊ TRÍ CAO", "VUI MỪNG là BAY / RỜI KHỎI MẶT ĐẤT", "VUI MỪNG là CHUYỂN ĐỘNG", "VUI MỪNG là ÁNH SÁNG".
- Ẩn dụ cấu trúc: "VUI MỪNG là HOA", "VUI MỪNG là CHẤT LỎNG TRONG VẬT CHỨA".
- Ẩn dụ bản thể: "BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI là VẬT CHỨA CẢM XÚC VUI MỪNG", "VUI MỪNG là TRỜI QUANG ĐÃNG / GIÓ MÁT", "VUI MỪNG là ẤM ÁP".
5. Tại sao luận án lại lựa chọn các tác phẩm truyện ngắn hiện đại của 7 tác giả Việt Nam và Nhật Bản?
Luận án chọn truyện ngắn của 4 tác giả Việt Nam (Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Hồn Nhiên, Nguyễn Hoàng Hải) và 3 tác giả Nhật Bản (Ikeido Jun, Hosoda Mamoru, Makoto Shinkai) vì các tác giả này có sự tương đương về thế hệ, độ tuổi, chuyên viết về lứa tuổi mới lớn và thanh niên với nhiều cung bậc cảm xúc phong phú. Đồng thời, văn phong của họ mang đậm dấu ấn hiện đại của xã hội hai nước và ít chịu ảnh hưởng của văn học nước ngoài, đảm bảo độ tin cậy và tính tự nhiên của ngữ liệu khảo sát.
Kết luận
Luận án "Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về 'vui mừng' và 'tức giận' trong tiếng Nhật và tiếng Việt" của NCS. Nghiêm Hồng Vân là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu, áp dụng khung lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận để phân tích các cơ chế ý niệm hóa cảm xúc. Dựa trên nguồn dữ liệu gồm 226 thành ngữ và 945 biểu thức ngôn ngữ trích xuất từ từ điển và 21 tập truyện ngắn đương đại, luận án đã xác định có hệ thống các miền nguồn, mô hình ánh xạ định hướng, cấu trúc và bản thể của hai miền cảm xúc "vui mừng" và "tức giận". Kết quả nghiên cứu làm rõ tính phổ quát bắt nguồn từ trải nghiệm nghiệm thân của nhân loại cùng những nét đặc thù văn hóa - tư duy dân tộc của người Việt và người Nhật, đồng thời đóng góp nguồn ngữ liệu và giải pháp có giá trị thực tiễn cho công tác nghiên cứu, dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ.