Chương 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp Ninh Hiệp là một trong những ngôi làng Bắc Bộ được giới nghiên cứu về nông thôn ở Việt Nam khá quan tâm. Đến nay, một số công trình khảo sát về nó đã được thực hiện như: Ninh Hiệp truyền thống và phát triển của Tô Duy Hợp (chủ biên) (1997) [45]; “Thương mại - dịch vụ trong phát triển kinh tế - xã hội ở Ninh Hiệp” của Lê Thanh Bình (2002) [8]; “Tiểu thủ công nghiệp ở Ninh Hiệp (lịch sử và hiện tại)” của Dương Duy Bằng (2002) [5]; “Những biến đổi của quan hệ dòng họ ở Ninh Hiệp” của Vũ Văn Quân (2002) [85]; Chợ nông thôn châu thổ sông Hồng trong quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội thời kì đổi mới (trường hợp chợ Ninh Hiệp, chợ Hữu Bằng, chợ Thổ Tang) của Lê Thị Mai (2004) [64]7; Sinh hoạt văn hóa cổ truyền ở các làng - xã Đa Tốn, Ninh Hiệp, Bát Tràng huyện Gia Lâm ngoại thành Hà Nội trong thời kỳ đổi mới của Phan Thanh Tá (2010) [95]… Những nghiên cứu mang tính tổng quát (Tô Duy Hợp) cũng như những nghiên cứu đi sâu tìm hiểu từng lĩnh vực như kinh tế (Lê Thị Mai, Lê Thanh Bình), văn hóa (Phan Thanh Tá), và xã hội (Vũ Văn Quân, Nguyễn Đức Truyến…) đã đưa đến một số kiến giải quan trọng về đối tượng này.
Ninh Hiệp cũng được giới nghiên cứu quốc tế ít nhiều chú ý. Chẳng hạn trong công trình của Lương Văn Hy và Unger, “Wealth, Power, and Poverty in the Transition to Market Economies: The Process of Socio-economies Differentiation in Rural China and Northern Vietnam” [Thịnh vượng, quyền lực và sự nghèo đói trong việc chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường: Quá trình của sự phân hóa kinh tế - xã hội ở nông thôn Trung Quốc và Bắc Việt Nam] (1998) [207], nó được lấy làm ví dụ cho dạng làng có truyền thống về nghề thủ công và chuyên nghiệp hóa thương mại (truyền thống này được xem là một trong các yếu tố có ý 7 Công trình đã được xuất bản bởi Nxb. Thế giới (Hà Nội) vào năm 2004 với tên gọi Chợ quê trong quá trình chuyển đổi. 13 Luận án tiến sĩ Văn học nghĩa nền tảng đối với “mức độ của sự định hướng thị trường của một ngôi làng”).
Hay mới đây, trong “Tư nhân hóa và sự năng động của thị trường mang tính chất giới ở Ninh Hiệp, Gia Lâm” (2014) [41], Horat đã mô tả việc phân công lại lao động cùng những thỏa thuận đối với vai trò và mối quan hệ giới trong gia đình ở làng hiện nay. Về việc nghiên cứu các quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp (hoặc lấy Ninh Hiệp làm một mẫu nghiên cứu trường hợp), có hai công trình tập trung hơn cả là “Những biến đổi của quan hệ dòng họ ở Ninh Hiệp” của Vũ Văn Quân (trong Làng ở vùng châu thổ sông Hồng, vấn đề còn bỏ ngỏ do Papin và Tessier chủ biên) (2002) [85] và Kinh tế hộ gia đình và các quan hệ xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong thời kì đổi mới của Nguyễn Đức Truyến (2003) [116]. Trong công trình thứ nhất, tác giả đã lần lượt đề cập tới i) sự gắn kết của quan hệ dòng họ trước Cách mạng (1945); ii) sự phai nhạt của quan hệ dòng họ trong giai đoạn từ sau Cách mạng cho đến trước thời điểm bắt đầu Đổi mới (1986) do những chi phối của bối cảnh chính trị; và iii) sự phục hồi của quan hệ dòng họ trong giai đoạn Đổi mới dưới tác động của sự phát triển kinh tế và đặc biệt là các chủ trương liên quan của Nhà nước. Như vậy, nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi của quan hệ dòng họ ở Ninh Hiệp, theo tác giả, là do tác nhân lịch sử - xã hội, nhất là những chính sách quan phương.
Quan điểm này có những cơ sở của nó, tuy nhiên tác giả mới chỉ đề cập đến các nguyên nhân khách quan chứ chưa chú ý đến các nguyên nhân chủ quan của sự biến đổi quan hệ dòng họ ở đây, trong khi do bản chất của các hoạt động mưu sinh phi nông nghiệp mà nó có rất nhiều khả năng mang nặng tính chiến lược. Trong công trình thứ hai, lấy làng Ninh Hiệp làm mẫu chính để khảo sát về các quan hệ xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong thời kì Đổi mới, tác giả khẳng định, các quan hệ xã hội truyền thống phục hồi trên nền tảng tái lập kinh tế hộ gia đình. Luận điểm cơ bản của tác giả là sự phục hồi kinh tế hộ gia đình một mặt phát triển ý thức về lợi ích kinh tế cá nhân, 14 Luận án tiến sĩ Văn học mặt khác cũng đòi hỏi củng cố quan hệ cộng đồng truyền thống - được coi là giá đỡ chủ yếu cho sự phát triển của bản thân mô hình kinh tế, cũng như cho từng thành viên. Mặc dù vậy, mô hình được nói đến trong nghiên cứu mới chỉ là mô hình kinh tế hộ nông dân, cái mà quan hệ cộng đồng vẫn có thể là “giá đỡ”, chứ chưa bao gồm những mô hình khác.
Có thể nói, phần nào giống như chính ngôi làng, quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp cũng đã nằm trong mối quan tâm của các nghiên cứu. Tuy nhiên, những công trình đề cập đến nó so với những công trình đề cập đến các khía cạnh khác của làng lại chưa phong phú, và về cơ bản tập trung vào thời điểm cách đây trên một thập kỉ, khi Ninh Hiệp còn là một ngôi làng hỗn hợp điển hình thay vì phi nông nghiệp hóa như hiện tại. Nhìn rộng hơn, tình hình nghiên cứu quan hệ xã hội ở nông thôn Việt Nam và khu vực ra sao? 1. Tình hình nghiên cứu quan hệ xã hội ở nông thôn Việt Nam Đề tài quan hệ xã hội thường được gặp trong những nghiên cứu về nông thôn và nông dân ở Việt Nam.
Có thể thấy hai mảng chính được quan tâm là i) đặc điểm quan hệ xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám (1945), và ii) đặc điểm quan hệ xã hội nông thôn Việt Nam từ sau thời điểm bắt đầu Đổi mới (1986) đến nay. Một trong những lí do khiến quan hệ xã hội nông thôn giai đoạn từ sau năm 1945 đến trước năm 1986 không trở thành đối tượng được chú ý là sự chi phối của bối cảnh chính trị ở miền Bắc (quan hệ này bị xóa nhòa nhiều phần dưới thể chế “hợp tác xã”). Thứ nhất, mảng đề tài về đặc điểm quan hệ xã hội nông thôn trước Cách mạng tháng Tám (1945). Về tổng thể, có ba cách nhìn nhận khác nhau với đối tượng đang đề cập: duy tình, duy lí và trung hòa.
Nằm trong số những người nghiên cứu sớm nhất về làng Việt, với Người nông dân châu thổ Bắc Kì (1936), Gourou nhận định: “Làng là một cộng đồng tự trị, tự giải quyết những mâu thuẫn giữa các thành viên, tự thu lấy thuế cho nhà nước” [31, tr. 247] và “mặc dầu có sự tố giác và thủ đoạn 15 Luận án tiến sĩ Văn học giữa các phe đảng, tình đoàn kết làng xã không phải là lời nói suông” [31, tr. Đồng tình với Gourou, Nguyễn Văn Huyên trong Văn minh Việt Nam (1944) đánh giá rằng các thành viên trong làng có sự đoàn kết, và điều này đặc biệt xảy ra khi quyền lợi cộng đồng bị xâm phạm: “. làng xã Việt Nam, ngoài tổ chức hành chính chính thức, còn vô số nhóm có những mối quan hệ rõ rệt.
Do tinh thần tương trợ của họ, những nhóm đó đóng vai trò tốt lành ở cái xứ sở ít tiền bạc này. Dù sao đi nữa, đúng là có một cộng đồng làng xã thật sự” [48, tr. Scott, với The Moral Economy of the Peasant: Rebellion and Subsistence in Southeast Asia [Kinh tế đạo đức của nông dân: Sự phản kháng và sinh tồn ở Đông Nam Á] (1976) [236] - công trình khởi nguồn cho những tranh luận kéo dài của các nhà nghiên cứu trên thế giới về tính chất tình - lí ở nông thôn châu Á nhiều thập niên qua8 - nhấn mạnh rằng làng của người Việt thời thuộc địa là một thiết chế giảm thiểu rủi ro trong tình trạng khí hậu thất thường mà kĩ thuật sản xuất thì hạn chế, và sự đùm bọc giữa các thành viên của làng luôn tồn tại với trách nhiệm lớn của những người thuộc tầng lớp trên. Trong “Công cuộc trị thủy - thủy lợi yêu cầu quan hệ tập thể làng xã” (1977) [78], Vũ Huy Phúc và Lê Đình Sỹ nhận định việc phải đoàn kết để đấu tranh không ngừng với những thử thách của thiên nhiên đã là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hình thành tinh thần cộng đồng ở nông thôn.
Nguyễn Đổng Chi, với “Sự tồn tại của quan hệ thân tộc trong làng xã Việt Nam” (1978) [11] và “Vài nét về biện pháp cứu tế tương trợ trong làng xã Việt Nam trước Cách mạng” (1978) [12], nói đến “sự cố kết lâu bền” trong quan hệ thân tộc nói riêng và “tinh thần tập thể rất cao” trong quan hệ làng xã nói chung ở người nông dân. Trần Đình Hượu với ““Làng - Họ”, những vấn đề của quá khứ và hiện tại” (1989) xem làng là “một thế giới riêng” và mọi người dân “có thể dựa vào thiết chế của làng, tinh thần cộng đồng, tình nghĩa bà con xóm làng mà sống, không cần ra khỏi làng. Diệp Đình Hoa trong Tìm hiểu làng Việt (1990) khẳng 8 Và còn không chỉ châu Á. Ví dụ, xem bài viết gần đây bàn về công trình này của Edelman, “Bringing the Moral Economy back in… to the Study of 21st-Century Transnational Peasant Movements” [Đưa nền kinh tế đạo đức trở lại.
với việc nghiên cứu xuyên quốc gia về phong trào nông dân của thế kỉ 21] (2005) [165]. 16 Luận án tiến sĩ Văn học định: “Tinh thần đoàn kết và cố kết đã gắn những người nông dân lại với nhau, gắn họ với làng xã và được họ coi là nhu cầu, là lẽ sống, là tình cảm sâu sắc, là một nghĩa vụ thiêng liêng” [36, tr. Còn Đỗ Thái Đồng trong “Làng hiện thực và biểu trưng” (1995) nhìn nhận, làng “có chức năng tổ chức, duy trì và tái tạo các quan hệ cộng đồng” và “là một hệ thống được biểu trưng về một sự an toàn xã hội vững chắc nhất” [28, tr.